Sáng hôm sau, vua Charles I bị một đội hộ vệ mạnh áp giải trước tòa án tối cao được lập ra để phán xét ngài. Cả thành phố London đổ xô đến các cửa ra vào của tòa nhà. Đám đông chen lấn kinh khủng, và phải nhờ đến rất nhiều sức đẩy cùng vài cuộc xô xát, những người bạn của chúng ta mới đến được đích. Khi vào trong, họ thấy ba hàng ghế đầu đã kín chỗ; nhưng vì không muốn gây chú ý quá mức, ngoại trừ Porthos có ý thích khoe chiếc áo khoác nhung đỏ, tất cả đều khá hài lòng với chỗ ngồi của mình, nhất là khi sự may mắn đã đưa họ đến giữa hàng ghế, sao cho đối diện hoàn toàn với chiếc bãnh ú chuẩn bị sẵn cho vị tù nhân hoàng gia.
Khoảng mười một giờ, nhà vua bước vào hội trường, xung quanh là lính canh, đầu đội mũ rộng vành, gương mặt điềm tĩnh đảo nhìn khắp ngả với vẻ hoàn toàn tự tin, như thể ngài đến để chủ trì một hội đồng gồm những bề tôi ngoan ngoãn hơn là để đối mặt với những lời cáo buộc từ một tòa án phiến loạn.
Các thẩm phán, kiêu hãnh vì có được một vị quân vương để lăng mục, hiển nhiên đang chuẩn bị tận hưởng cái quyền mà họ tự ban phát cho mình, bèn phái một sĩ quan đến thông báo cho nhà vua rằng theo phong tục, bị cáo phải bỏ mũ.
Charles không đáp nửa lời, quay đầu sang hướng khác và kéo sụp chiếc mũ nỉ xuống. Rồi khi viên sĩ quan đã lui ra, ngài ngồi xuống chiếc bãnh ú đối diện với vị chủ tọa và lấy một chiếc gậy mây nhỏ cầm tay gõ gõ vào đôi bốt của mình. Parry, người đi theo hầu ngài, đứng phía sau.
D’Artagnan đang nhìn Athos, người mà nét mặt bộc lộ tất cả những xúc cảm mà nhà vua, với khả năng tự chủ tốt hơn, đã xua tan khỏi gương mặt mình. Sự xáo trộn ở một con người vốn lạnh lùng và điềm tĩnh như Athos khiến anh hoảng sợ.
– Tôi hy vọng, – anh thì thầm vào tai người bạn, – rằng anh sẽ noi theo gương bệ hạ và không vì cái sự ngu ngốc của mình mà mất mạng trong cái hang ổ này.
– Hãy yên tâm, – Athos đáp.
– Chà! – D’Artagnan nói tiếp, – rõ ràng là họ đang sợ điều gì đó;vì kìa, lính gác đang được tăng cường. Trước kia họ chỉ có giáo mác, giờ thì có cả súng hỏa mai. Giáo mác là dành cho khán giả ở phía sau; còn súng hỏa mai là dành cho chúng ta.
– Ba mươi, bốn mươi, năm mươi, sáu mươi lăm người, – Porthos vừa nói vừa đếm số lính tăng viện.
– À! – Aramis thốt lên, – nhưng anh quên mất viên sĩ quan kìa.
D’Artagnan tái mặt vì giận dữ. Anh nhận ra Mordaunt, kẻ đang cầm thanh kiếm trần chỉ huy đội lính hỏa mai phía sau nhà vua và đối diện với hàng ghế.
– Anh có nghĩ là chúng nhận ra chúng ta rồi không? – D’Artagnan nói. – Trong trường hợp đó tôi phải rút lui thôi. Tôi không thích bị bắn chết trong một cái chuồng đâu.
– Không, – Aramis nói, – hắn chưa thấy chúng ta. Hắn chẳng nhìn ai ngoài nhà vua. Lạy Chúa tôi! Hắn nhìn chằm chằm ngài kìa, cái đồ vô lại ngạo mạn! Hắn căm ghét bệ hạ nhiều như căm ghét chúng ta sao?
– Pardi, – Athos đáp, – chúng ta mới chỉ bắt cóc mẹ hắn; còn nhà vua đã tước đoạt danh tính và tài sản của hắn.
– Đúng vậy, – Aramis nói; – nhưng im lặng nào! Chủ tọa đang nói chuyện với nhà vua kìa.
– Stuart, – Bradshaw đang nói, – hãy lắng nghe việc xướng tên các vị thẩm phán của ngươi và trình bày trước tòa bất kỳ ý kiến nào ngươi muốn.
Nhà vua quay đầu đi, như thể những lời đó không dành cho mình. Bradshaw chờ đợi, và vì chẳng có câu trả lời nên khoảnh khắc im lặng bao trùm.
Trong số một trăm sáu mươi ba thành viên được chỉ định, chỉ có bảy mươi ba người có mặt, bởi những người còn lại, vì sợ hãi việc nhúng tay vào một hành động như vậy, đã cáo lỗi không đến.
Khi cái tên Đại tá Fairfax được xướng lên, một sự im lặng ngắn ngủi nhưng trang nghiêm liền diễn ra, báo hiệu sự vắng mặt của những thành viên không muốn dính líu cá nhân vào phiên tòa.
– Đại tá Fairfax, – Bradshaw lặp lại.
– Fairfax, – một giọng cười vang lên, với âm sắc lanh lảnh tố cáo đó là của một người phụ nữ, – không đến mức ngu ngốc để có mặt ở đây.
Một tràng cười lớn nối tiếp những lời đó, được thốt lên với sự táo tợn mà phụ nữ thường có được từ chính sự yếu đuối của họ – một sự yếu đuối đặt họ vượt ngoài tầm với của sự trả thù.
– Đó là giọng phụ nữ, – Aramis kêu lên; – thề có Chúa, tôi sẵn sàng đánh đổi nhiều thứ nếu cô ta trẻ và xinh đẹp.
Rồi anh leo lên băng ghế để tìm cách nhìn cho rõ mặt nàng.
– Thề có linh hồn tôi, – Aramis nói, – nàng thật quyến rũ. Nhìn kìa D’Artagnan; ai nấy đều đang ngắm nàng; và bất chấp ánh mắt của Bradshaw, nàng vẫn chẳng hề đổi sắc.
– Chính là phu nhân Fairfax, – D’Artagnan nói. – Anh không nhớ sao Porthos, chúng ta từng gặp bà ấy ở chỗ Tướng Cromwell?
Việc xướng tên tiếp tục diễn ra.
– Lũ khốn này sẽ hoãn phiên tòa khi chúng nhận ra mình không đủ lực lượng, – Bá tước de la Fère nói.
– Anh không hiểu chúng đâu. Athos, hãy nhìn nụ cười của Mordaunt kìa. Đó có phải là bộ dạng của một kẻ mà nạn nhân có khả năng thoát khỏi tay mình không? À, con rắn độc nguyền rủa, sẽ là một ngày hạnh phúc cho tôi khi được đọ kiếm với anh thay vì chỉ trao nhau ánh nhìn.
– Nhà vua quả thực rất khôi ngô, – Porthos nói; – và nhìn kìa, dù là tù nhân, ngài vẫn ăn vận thật tươm tất. Chiếc lông vũ trên mũ ngài đáng giá ít nhất hai mươi lăm đồng pistole. Nhìn nó đi, Aramis.
Khi việc xướng tên kết thúc, vị chủ tọa ra lệnh đọc bản cáo trạng. Athos tái mặt. Lần thứ hai, hy vọng của anh tan vỡ. Mặc dù số lượng thẩm phán thưa thớt, phiên tòa vẫn sẽ tiếp tục; vậy là nhà vua đã bị kết tội từ trước.
– Tôi đã bảo anh rồi mà, Athos, – D’Artagnan nói, nhún vai. – Giờ thì hãy gom hết can đảm vào và lắng nghe xem quý ông mặc áo đen này sẽ nói gì về vị quân vương của mình, với toàn quyền và đặc quyền.
Chưa bao giờ trước đó một cáo buộc tàn nhẫn hơn hay những lời lăng mạ hèn hạ hơn lại làm vấy bẩn sự uy nghiêm vương giả.
Charles lắng nghe với sự chú ý rõ rệt, phớt lờ những lời lăng mạ, ghi nhận các cáo buộc, và khi lòng căm hờn tràn bờ và kẻ kết tội biến thành đao phủ từ trước, ngài đáp lại bằng một nụ cười khinh miệt cao ngạo.
– Thực tế là, – D’Artagnan nói, – nếu con người ta bị trừng phạt vì sự thiếu cẩn trọng và nông nổi, thì vị vua tội nghiệp này đáng bị phạt. Nhưng dường như với tôi, những gì ngài đang phải chịu đựng lúc này đã là quá sức rồi.
– Dù thế nào đi nữa, – Aramis đáp, – hình phạt không nên đổ lên đầu nhà vua, mà phải thuộc về các bộ trưởng của ngài; bởi điều khoản đầu tiên của hiến pháp là: “Nhà vua không bao giờ sai.”
– Còn về phần mình, – Porthos thầm nghĩ, dồn toàn bộ sự chú ý vào Mordaunt, – nếu không vì sợ làm tổn hại đến sự trang nghiêm của tình thế, tôi sẽ nhảy phắt khỏi ghế, tiếp cận Mordaunt trong ba bước nhảy và bóp cổ hắn; rồi tôi sẽ xách chân hắn đập nát cái lũ lính hỏa mai khốn kiếp đang nhái lại lính ngự lâm nước Pháp này. Trong lúc đó, D’Artagnan, kẻ vốn đầy mưu mẹo, sẽ tìm ra cách cứu nhà vua. Tôi phải bàn việc này với anh ấy mới được.
Còn về phần Athos, mặt bừng đỏ, hai tay nắm chặt, đôi môi bị cắn đến rớm máu, anh ngồi đó sủi bọt giận dữ trước màn lăng mạ nghị viện kéo dài vô tận và sự nhẫn nại hoàng gia lâu bền ấy; cánh tay kiên định và trái tim vững vàng nay đã nhường chỗ cho bàn tay run rẩy cùng cơ thể chấn động vì xúc động.
Vào khoảnh khắc này, kẻ kết tội kết luận bằng những lời sau: “Cáo trạng hiện tại được chúng tôi đệ trình nhân danh nhân dân Anh.”
Nghe những lời đó, một tiếng thì thầm nổi lên dọc theo các hàng ghế, và một giọng nói thứ hai, không phải của phụ nữ, mà là của một người đàn ông, trầm vang và thịnh nộ, gầm lên phía sau D’Artagnan.
– Các ngươi nói dối! – hắn thét lên. – Chín phần mười nhân dân Anh cảm thấy kinh hãi trước những gì các ngươi nói.
Giọng nói đó là của Athos, người đứng phắt dậy với cánh tay dang rộng và hoàn toàn mất kiểm soát, đã công kích công tố viên như thế.
Nhà vua, các thẩm phán, khán giả, tất cả đều quay đầu nhìn về phía hàng ghế nơi bốn người bạn đang ngồi. Mordaunt cũng làm vậy và nhận ra người quý tộc, xung quanh là ba người Pháp khác đang đứng với vẻ mặt tái nhợt và đe dọa. Đôi mắt hắn ánh lên vẻ sung sướng. Hắn đã tìm ra những kẻ mà sự chết của chúng đã được hắn thề nguyền dâng hiến cả đời mình. Một cơn giận dữ thúc giục hắn gọi chừng hai mươi tên lính hỏa mai đến cạnh mình, rồi chỉ tay về phía hàng ghế nơi kẻ thù đang đứng: “Bắn vào hàng ghế đó!” – hắn thét lên.
Nhưng với tốc độ nhanh như ý nghĩ, D’Artagnan chộp lấy eo Athos, và theo sau là Porthos cùng Aramis, lao khỏi các hàng ghế, phóng qua những lối đi, rồi bay xuống cầu thang hòa mình vào đám đông bên ngoài, trong khi những khẩu súng hỏa mai bên trong chĩa vào khoảng ba ngàn khán giả, những người với tiếng thét thảm thiết và nỗi sợ hãi ầm ĩ đã chặn đứng đồn bẩy tàn sát vừa được kích hoạt.
Charles cũng đã nhận ra bốn người đàn ông Pháp. Ngài đặt một tay lên ngực để trấn an nhịp đập và tay kia che mắt, để không phải chứng kiến cảnh những người trung thành với mình bị tàn sát.
Mordaunt, tái mét và run rẩy vì giận dữ, tay cầm kiếm lao khỏi hội trường theo sau là sáu tên lính giáo, vừa xô đẩy, vừa gặng hỏi vừa thở hồng hộc giữa đám đông; rồi chẳng tìm thấy gì, hắn quay trở lại.
Sự hỗn loạn thật không thể tả xiết. Hơn nửa tiếng đồng hồ trôi qua mới có ai đó lên tiếng được cho người ta nghe thấy. Các thẩm phán đang tìm kiếm một cuộc bạo loạn mới từ các hàng ghế. Khán giả nhìn những khẩu súng hỏa mai đang chĩa vào mình, bị giằng xé giữa nỗi sợ hãi và sự tò mò, vẫn giữ nguyên vẻ ồn ào và kích động.
Cuối cùng sự yên tĩnh cũng được vãn hồi.
– Ngươi có gì để tự vệ không? – Bradshaw hỏi nhà vua.
Bấy giờ đứng dậy, đầu vẫn đội mũ, với giọng điệu của một vị thẩm phán hơn là một tù nhân, Charles cất lời.
– Trước khi chất vấn ta, – ngài nói, – hãy trả lời câu hỏi của ta. Ta đã được tự do ở Newcastle và đã đạt được một hiệp ước ở đó với cả hai viện. Thay vì thực hiện phần việc của các ngươi trong giao ước này, như ta đã làm phần của mình, các ngươi đã mua lại ta từ người Scotland, với giá rẻ thôi, ta biết điều đó, và điều đó làm rạng danh tài năng kinh tế của chính phủ các ngươi. Nhưng chỉ vì các ngươi đã trả giá cho một tên nô lệ, các ngươi tưởng rằng ta đã ngừng làm vua của các ngươi sao? Không. Trả lời các ngươi tức là quên đi điều đó. Ta sẽ chỉ trả lời khi các ngươi chứng minh được quyền chất vấn ta. Trả lời các ngươi tức là công nhận các ngươi là thẩm phán của ta, trong khi ta chỉ coi các ngươi là những kẻ hành quyết ta.
Và giữa một không gian tĩnh lặng như tờ, Charles, điềm tĩnh, cao ngạo và đầu vẫn đội mũ, lại ngồi xuống chiếc bãnh ú của mình.
– Sao những người bạn Pháp của ta không có ở đây? – ngài lẩm bẩm với vẻ kiêu hãnh và hướng ánh mắt về những hàng ghế nơi họ vừa xuất hiện chốc lát; – họ sẽ thấy rằng người bạn của mình xứng đáng với sự bảo vệ của họ khi còn sống, và nước mắt của họ khi đã chết.
– Chà, – vị chủ tọa nói, nhận thấy Charles quyết định giữ im lặng, – được thôi. Chúng ta sẽ phán xét ngươi bất chấp sự im lặng của ngươi. Ngươi bị buộc tội phản quốc, lạm dụng quyền lực và giết người. Các bằng chứng sẽ chứng thực điều đó. Đi đi, và một phiên họp khác sẽ hoàn thành những gì ngươi đã trì hoãn trong hôm nay.
Charles đứng dậy và quay sang nhìn Parry, người mà ngài thấy đang tái mét và thái dương đẫm mồ hôi.
– Này, Parry thân mến của ta, – ngài nói, – chuyện gì thế, và điều gì có thể làm cậu bận tâm đến mức này?
– Ồ, thưa bệ hạ của tôi, – Parry nói với dòng lệ rưng rưng và giọng điệu khẩn khoản, – xin đừng nhìn sang bên trái khi chúng ta rời khỏi hội trường.
– Tại sao vậy, Parry?
– Xin đừng nhìn, thần nài xin bệ hạ.
– Nhưng có chuyện gì thế? Nói đi, – Charles nói, cố gắng nhìn qua hàng rào lính canh đang bao quanh ngài.
– Đó là... nhưng bệ hạ sẽ không nhìn chứ? Đó là vì họ đã mang chiếc rìu, thứ dùng để hành quyết tội phạm, đến đặt ở đó trên bàn. Cảnh tượng thật gớm ghiếc.
– Những kẻ ngốc, – Charles nói, – chúng tưởng ta là kẻ hèn nhát giống như chúng sao? Cậu đã làm tốt khi cảnh báo ta. Cảm ơn nhé, Parry.
Khi thời điểm đến, nhà vua theo chân lính canh bước ra khỏi hội trường. Khi đi ngang qua chiếc bàn đặt chiếc rìu, ngài dừng lại, quay người với một nụ cười, nói:
– À! Chiếc rìu, một phát minh khéo léo, rất xứng đáng với những kẻ không biết thế nào là một quý ông; ngươi không dọa được ta đâu, hỡi chiếc rìu của đao phủ, – ngài nói thêm, chạm vào nó bằng cây gậy cầm tay, – và ta đánh ngươi lúc này đây, trong khi kiên nhẫn và theo tinh thần Kitô giáo chờ đợi ngươi giáng đòn trở lại.
Và nhún vai với sự khinh miệt chân thật, ngài bước tiếp. Khi đến cửa, một dòng người – những kẻ thất vọng vì không thể lọt vào trong và muốn tìm cách bù đắp nên đã tụ tập chờ ngài bước ra – đứng thành hai hàng dọc theo lối đi, nhiều kẻ trong số họ trừng trừng nhìn ngài bằng ánh mắt đe dọa.
– Biết bao nhiêu con người, – ngài thầm nghĩ, – mà chẳng có lấy một người bạn chân chính.
Và khi ngài thốt lên những lời nghi ngờ và chán nản trong tâm trí ấy, một giọng nói bên cạnh vang lên:
– Kính cẩn trước vị quân vương đã sa cơ.
Nhà vua quay phắt lại, với những giọt lệ trong đôi mắt và trái tim. Đó là một lão binh của đội hộ vệ, kẻ không thể nhìn thấy vị vua của mình đi qua trong cảnh tù đày mà không dâng lên ngài sự tôn kính cuối cùng này. Nhưng ngay khoảnh khắc tiếp theo, người bất hạnh suýt bị đánh chết bởi những cú đánh nặng nề từ chuôi kiếm, và trong số những kẻ lao vào hành hung ông, nhà vua nhận ra Đại úy Groslow.
– Hỡi ôi! – Charles nói, – đó là một hình phạt nặng nề cho một lỗi lầm vô cùng nhỏ nhặt.
Ngài tiếp tục bước đi, nhưng chưa đi được trăm bước, một tên cuồng loạn, nhoài người giữa hai tên lính, nhổ nước bọt vào mặt nhà vua, giống như thuở nào một kẻ Do Thái bỉ ổi và bị nguyền rủa đã nhổ nước bọt vào mặt Chúa Giêsu thành Nazareth. Những tràng cười lớn và tiếng gầm gừ âm u cùng lúc nổi lên. Đám đông rẽ ra rồi khép lại, nhấp nhô như một vùng biển động, và nhà vua tưởng như mình nhìn thấy giữa làn sóng sống động ấy đôi mắt sáng ngời của Athos.
Charles lau mặt và nói với một nụ cười buồn bã: – Kẻ khốn nạn, vì nửa vương miện hắn cũng có thể đối xử với chính cha ruột mình như thế.
Nhà vua không lầm. Athos và các bạn của ông, lại hòa mình vào đám đông, đang dành một cái nhìn cuối cùng cho vị vua tử đạo.
Khi người lính chào Charles, trái tim Athos nhảy cẫng lên vì vui sướng; và người bất hạnh đó, khi hoàn hồn, đã tìm thấy mười đồng guinea mà quý tộc người Pháp đã nhét vào túi áo mình. Nhưng khi kẻ hèn nhát lăng mạ nhổ nước bọt vào mặt vị quân vương tù đày, Athos liền chộp lấy găm. Dẫu vậy, D’Artagnan đã chặn tay ông lại và bằng một giọng khàn khàn thét lên: “Hãy chờ đã!”
Athos khựng lại. D’Artagnan, tựa vào Athos, ra hiệu cho Porthos và Aramis đứng sát bên rồi đứng nấp sau gã đàn ông trần tay, kẻ vẫn đang cười cợt trước trò đùa bỉ ổi của chính mình và đón nhận những lời chúc mừng từ vài tên khác.
Gã đó cất bước hướng về thành phố. Bốn người bạn bám theo hắn. Gã đàn ông, trông có vẻ giống một kẻ mổ lợn, đi xuống một con phố nhỏ dốc đứng và biệt lập hướng ra sông, cùng với hai người bạn của hắn. Khi đến bờ sông, ba tên nhận ra chúng đang bị bám theo, bèn quay người lại, trừng mắt xấc láo nhìn nhóm người Pháp và bắn ra vài câu cợt nhả qua lại.
– Tôi không biết tiếng Anh, Athos, – D’Artagnan nói; – nhưng anh biết và sẽ phiên dịch giúp tôi.
Rồi rảo bước vượt qua ba tên đó, nhưng quay lại ngay lập tức, D’Artagnan bước thẳng đến chỗ gã đồ tể và chạm ngón tay vào ngực hắn, nói với Athos:
– Hãy nói điều này bằng tiếng Anh cho hắn: “Ngươi là một kẻ hèn nhát. Ngươi đã lăng mạ một kẻ không tấc sắt tự vệ. Ngươi đã bôi nhọ khuôn mặt vị vua của mình. Ngươi phải chết.”
Athos, tái nhợt như bóng ma, lặp lại những lời đó với gã đàn ông, kẻ khi thấy những sự chuẩn bị đầy điềm gở đang diễn ra liền thủ thế tự vệ. Trước cử động đó, Aramis rút kiếm.
– Không, – D’Artagnan hét lên, – không thép. Thép là dành cho quý tộc.
Và chộp lấy cổ họng gã đồ tể:
– Porthos, – anh nói, – hãy kết liễu tên này hộ tôi bằng một đòn duy nhất.
Porthos vung nắm đấm đáng sợ của mình, xé gió rít lên như một chiếc dây quay, và khối sức mạnh khổng lồ giáng xuống với một tiếng thầm đục ngầu trên hộp sọ kẻ lăng mạ rồi đập nát nó. Gã ngã xuống như một con bò trước búa tạ. Những kẻ đồng hành hoảng hốt đến mức chẳng thể cử động hay cất tiếng kêu cứu.
– Hãy nói với chúng điều này, Athos, – D’Artagnan tiếp lời; – tất cả những kẻ quên rằng một người tù đày là thiêng liêng và một vị vua bị giam cầm đại diện gấp đôi cho Chúa Trời đều sẽ chết như thế.
Athos lặp lại những lời của D’Artagnan.
Lũ gã nhìn cái xác của đồng bọn đang bơi trong vũng máu, rồi vừa tìm lại được giọng nói vừa cắm cổ chạy tháo thân trong tiếng hét hoảng loạn.
– Công lý đã được thực thi, – Porthos nói, lau trán.
– Và giờ, – D’Artagnan nói với Athos, – đừng hoài nghi gì về tôi nữa; tôi sẽ gánh vác tất cả những gì liên quan đến nhà vua.