Hai mươi năm sau

Lượt đọc: 742 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 44
Khúc Te Deum mừng chiến thắng Lens.

❊ ❊ ❊

Sự náo nhiệt mà hoàng hậu Henrietta Maria đã chú ý tới, và mà bà đã hoài công tìm hiểu nguyên do, bắt nguồn từ trận chiến ở Lens do sứ giả của hoàng tử là Duc de Châtillon công bố — người đã đóng một vai trò vô cùng cao cả trong cuộc giao tranh; ngoài ra, ông còn được giao trọng trách treo hai mươi lăm lá cờ thu được từ phe Lorraine cũng như từ người Tây Ban Nha lên các vòm của nhà thờ lớn Notre Dame.

Tin tức ấy mang tính quyết định; nó đập tan cuộc đấu tranh với nghị viện, tạo lợi thế cho phe triều đình. Lý do được đưa ra cho tất cả các loại thuế bị áp đặt ngặt nghèo mà nghị viện phản đối, chính là sự cần thiết phải gìn giữ danh dự nước Pháp cùng niềm hy vọng mong manh về việc đánh bại kẻ thù. Thế nhưng, kể từ sự kiện Nordlingen, họ chẳng gặt hái được gì ngoài những thất bại; nghị viện có cớ để bắt Mazarin phải giải trình về những chiến thắng hảo huyền — luôn được hứa hẹn nhưng mãi chẳng thành hiện thực; thế nhưng lần này, một trận chiến thực sự đã diễn ra, một chiến thắng hoàn toàn. Tất cả mọi người đều nhận thức rõ điều này đến mức đây trở thành một chiến thắng kép cho triều đình, một chiến thắng cả trong nước lẫn ngoài nước; đến nỗi ngay cả khi vị vua trẻ tuổi hay tin, ngài cũng phải thốt lên rằng: "À, các ngài nghị viên, rồi chúng ta sẽ xem các ngài nói gì bây giờ!" Ngay lập tức, hoàng hậu ép chặt đứa con hoàng gia vào lòng, kẻ mà những tâm tính kiêu ngạo và ương ngạnh ấy lại vô cùng hòa hợp với chính bà. Một hội đồng đã được triệu tập ngay trong buổi tối hôm đó, nhưng không một ai hay biết gì về những gì đã được quyết định. Người ta chỉ biết rằng vào Chủ nhật tới, một khúc Te Deum sẽ được cử hành tại Notre Dame để vinh danh chiến thắng Lens.

Do đó, vào Chủ nhật tuần ấy, người dân Paris thức dậy trong niềm hân hoan; vào thời kỳ đó, một khúc Te Deum là một sự kiện vô cùng trọng đại; loại nghi lễ này khi ấy chưa hề bị lạm dụng và nó tạo ra một tiếng vang lớn. Các cửa hàng đều vắng bóng người, nhà cửa đóng kín; ai nấy đều muốn nhìn ngấy vị vua trẻ tuổi cùng hoàng thân quốc mẫu, và cả hồng y Mazarin nổi tiếng mà họ căm ghét đến mức không ai muốn bỏ lỡ sự hiện diện của ngài. Hơn thế nữa, một sự tự do lớn lao bao trùm khắp chốn giữa đám đông vô tận; mọi quan điểm đều được bày tỏ một cách công khai và đồng thanh vang dội, có thể nói là âm hưởng của một cuộc nổi dậy sắp bùng nổ, khi hàng ngàn quả chuông từ tất cả các nhà thờ ở Paris cùng reo vang khúc Te Deum. Lực lượng cảnh sát của thành phố do chính thành phố lập nên, thế nên chẳng có điều gì đe dọa xuất hiện để phá vỡ bản hòa ca của lòng căm thù phổ quát ấy hay làm tê liệt những lời chế nhạo thường trực trên đôi môi đầy ác ý.

Tuy nhiên, vào lúc tám giờ sáng, trung đoàn vệ binh của hoàng hậu do Guitant chỉ huy, với phụ tá là người cháu trai Comminges, đã công khai diễu hành, đi trước là tiếng trống và tiếng kèn, tiến từ Palais Royal cho đến tận Notre Dame — một cuộc điều động mà người dân Paris chứng kiến một cách vô cùng bình thản, bởi họ quá đỗi thích thú trước âm nhạc quân sự và những bộ quân phục lừng lẫy.

Friquet đã diện bộ quần áo đẹp nhất dành cho ngày Chủ nhật, với cái cớ bị sưng mặt mà cậu ta xoay xở giả vờ bằng cách nhét một nắm hạt anh đào vào một bên má, đồng thời xin được nghỉ trọn một ngày từ Bazin. Vừa rời khỏi chỗ Bazin, Friquet liền cắm cổ chạy đến Palais Royal, nơi cậu đến đúng vào lúc trung đoàn vệ binh đang xuất phát; và vì cậu đến đó chỉ để thưởng ngoạn cảnh tượng và lắng nghe âm nhạc, cậu liền tòng quân ở ngay đầu hàng, dùng hai mảnh đá phiến để gõ nhịp trống rồi chuyển sang giả tiếng kèn tò te một cách vô cùng tự nhiên bằng miệng — thứ tài nghệ đã không ít lần mang về cho cậu những lời ca tụng từ những kẻ am hiểu về nghệ thuật âm thanh mô phỏng.

Trò tiêu khiển này kéo dài từ Barrière des Sergens cho tới quảng trường Notre Dame, và Friquet tìm thấy ở đó một niềm vui vô cùng chân thực; nhưng khi trung đoàn cuối cùng cũng tách hàng, thâm nhập vào sâu trong lòng thành phố và dừng lại ở khúc tận cùng của phố Saint Christophe, gần phố Cocatrix — nơi Broussel sinh sống, thì Friquet chợt nhớ ra rằng mình vẫn chưa ăn sáng; và sau khi suy tính xem mình nên hướng bước chân về đâu để hoàn thành hành động quan trọng này trong ngày, cậu ngẫm nghĩ hồi lâu và quyết định rằng nghị viên Broussel phải gánh chi phí cho bữa ăn này.

Lập tức, cậu cắm cổ chạy bạt mạng, thở hồng hộc đến trước cửa nhà vị nghị viên và nện cửa một cách giận dữ.

Mẹ cậu, người hầu già của vị nghị viên, ra mở cửa.

— Mày làm gì ở đây hả cái đồ vô tích sự kia? — bà nói. — Và sao mày lại không có mặt ở nhà thờ Notre Dame?

— Con có ở đó mà, thưa mẹ — Friquet đáp — nhưng con đã chứng kiến những sự việc mà ngài Broussel cần phải được cảnh báo, thế nên với sự cho phép của cha Bazin — mẹ biết đấy, thưa mẹ, cha Bazin, người gác đền — con đã đến đây để diện kiến ngài Broussel.

— Thế mày có chuyện gì muốn thưa với ngài Broussel hả con?

— Con muốn báo cho ngài ấy biết — Friquet la toáng lên bằng tất cả sức lực — rằng có cả một trung đoàn vệ binh đang kéo về hướng này. Và vì con nghe ngụm ngòi khắp nơi rằng triều đình đang có ý đồ bất thiện với ngài ấy, con muốn cảnh báo để ngài ấy còn đề phòng.

Broussel nghe thấy tiếng thét của tên nhóc kỳ quặc, và vì vô cùng hài lòng trước lòng nhiệt thành thái quá này, ông liền đi xuống lầu một, bởi thực chất ông đang làm việc trong căn phòng của mình ở tầng hai.

— Này bạn trẻ — ông nói — trung đoàn vệ binh thì can sự gì đến chúng ta, và chẳng lẽ mày điên rồi sao lại gây ra sự náo động nhường này? Mày không biết rằng đó là thông lệ của đám lính ngự lâm khi hành sự và việc trung đoàn dàn thành hai bức tường vững chãi khi nhà vua đi qua là điều hiển nhiên hay sao?

Friquet giả vờ ngạc nhiên, vừa xoay tròn chiếc mũ mới trên những ngón tay vừa nói:

— Chuyện đó không có gì là bất ngờ đối với ngài, thưa ngài Broussel, một người uyên bác tường tận mọi điều; nhưng ngặt nỗi con, thề có thánh thần chứng giám, con nào có biết chuyện đó và con cứ tưởng mình đang hiến kế tốt cho ngài; xin ngài đừng vì thế mà nổi giận với con, thưa ngài Broussel.

— Trái lại chứ, hỡi con trai, trái lại là đằng khác, ta rất hài lòng về lòng nhiệt thành của con. Mẹ Nanette, hãy tìm những quả mơ mà phu nhân de Longueville đã gửi cho chúng ta ngày hôm qua từ Noisy và lấy nửa tá cho con trai của bà kèm theo một mẩu bánh mì mới ra lò.

— Ồ, con cảm ơn ngài, cảm ơn ngài Broussel — Friquet nói — con thích ăn mơ lắm ạ!

Broussel bấy giờ mới tiến vào phòng vợ và đòi ăn sáng; lúc đó đã là chín giờ. Vị nghị viên bước đến bên cửa sổ; con đường hoàn toàn vắng tanh, nhưng ở đằng xa, người ta nghe thấy tiếng đồn vang vọng tựa như tiếng triều cường đang dâng lên, đó là tiếng gầm trầm đục của những con sóng quần chúng đang kéo đến ngày một đông quanh nhà thờ Notre Dame.

Tiếng ồn ào ấy càng lúc càng nhân lên gấp bội khi D’Artagnan, cùng một đại đội lính ngự lâm, trối chết chiếm lấy các cổng của Notre Dame để đảm bảo an ninh cho thánh lễ. Ông đã chỉ thị cho Porthos tận dụng cơ hội này để chiêm ngưỡng buổi lễ; và Porthos, trong bộ trang phục lộng lẫy nhất, cưỡi trên con chiến mã tuyệt hảo của mình, đóng vai trò như một lính ngự lâm dự khuyết, hệt như những gì D’Artagnan từng làm trước đây. Trung sĩ của đại đội này, một cựu binh từng tham chiến trong các cuộc chiến tranh ở Tây Ban Nha, đã nhận ra Porthos — người chiến hữu cũ của mình, và chẳng mấy chốc, tất cả những kẻ phục vụ dưới quyền ông đều được tiếp cận những câu chuyện động trời xoay quanh danh dự của những tay lính ngự lâm kỳ cựu dưới quyền Tréville. Porthos không chỉ được đại đội đón tiếp niềm nở mà còn ngập chìm trong sự ngưỡng mộ vô bờ bão.

Đúng mười giờ, những phát đại bác từ cung điện Louvre vang lên báo hiệu sự khởi hành của nhà vua, và ngay sau đó, một sự chuyển động — tựa như những ngọn cây trong cơn giông bão uốn cong và oằn mình với những tán lá chao đảo — chạy dọc qua đám đông đang bị ép chặt sau những ngọn giáo bất động của lực lượng vệ binh. Cuối cùng, nhà vua xuất hiện cùng hoàng hậu trên một cỗ xe dát vàng. Mười cỗ xe khác nối đuôi theo sau, chở theo các phu nhân danh dự, các quan chức trong hoàng gia và triều đình.

— Vạn tuế nhà vua! — tiếng hô vang lên từ mọi hướng; vị quân vương trẻ tuổi nghiêm nghị thưa đầu ra khỏi cửa sổ, bày tỏ vẻ biết ơn vừa đủ và thậm chí còn cúi đầu chào; khiến những tiếng hô vang của đám đông lại một lần nữa bùng lên.

Đúng lúc triều đình đang ổn định chỗ ngồi trong nhà thờ lớn, một cỗ xe mang huy hiệu của nhà Comminges liền tách khỏi hàng xe của triều đình và chậm chạp tiến về phía cuối con phố Saint Christophe vốn đã hoàn toàn vắng lặng. Khi đến nơi, bốn lính vệ binh và một viên cảnh sát đi cùng liền leo lên chiếc xe nặng nề ấy rồi khép kín các ô cửa chớp; sau đó, thông qua một khe hở được cẩn trọng hé mở, viên cảnh sát bắt đầu quan sát dọc theo chiều dài của phố Cocatrix, như thể hắn đang đợi chờ một ai đó.

Tất cả mọi người đều bận rộn với buổi lễ, thế nên chẳng ai mảy may chú ý đến cỗ xe lẫn những biện pháp phòng ngừa được thực hiện bởi những kẻ ở bên trong. Friquet — với đôi mắt luôn đảo như rang lạc và chỉ có cậu ta mới có thể phát hiện ra họ — đã chuồn lên vòm cuốn của một ngôi nhà ở quảng trường Notre Dame để vừa thưởng thức những trái mơ vừa hóng chuyện. Từ đó, cậu nhìn thấy nhà vua, hoàng hậu cùng hồng y Mazarin, và lắng nghe thánh lễ rõ mồn một hệt như thể cậu đang làm nhiệm vụ vậy.

Về cuối buổi lễ, hoàng hậu nhìn thấy Comminges đang đứng cạnh mình, chờ đợi sự chuẩn y cho mệnh lệnh mà bà đã ban cho hắn trước khi rời Louvre, liền thì thầm:

— Hãy đi đi, Comminges, và cầu Chúa phù hộ cho ngươi!

Comminges lập tức rời khỏi nhà thờ và bước vào phố Saint Christophe. Friquet thấy vị sĩ quan cao cấp này cứ thế bỏ đi, theo sau là hai tên vệ binh, liền hứng chí bám theo; và cậu càng làm thế một cách hồ hởi hơn khi buổi lễ vừa kết thúc ngay khoảnh khắc đó và nhà vua lại bước lên cỗ xe của mình.

Viên cảnh sát vừa nhìn thấy Comminges ở cuối phố Cocatrix liền thì thầm một tiếng với người đánh xe, kẻ lập tức cho xe chuyển bánh và tiến thẳng đến trước cửa nhà Broussel. Cùng lúc đó, Comminges gõ cửa, còn Friquet thì lẳng lặng đứng nép phía sau chờ cửa mở.

— Ngươi làm gì ở đây hả đồ ranh con? — Comminges gặng hỏi.

— Con muốn vào nhà ngài Broussel, thưa đại úy — Friquet đáp bằng cái giọng ngọt xớt mà lũ trẻ đường phố Paris vốn rành sáu câu khi cần thiết.

— Và ngài ấy ở tầng mấy? — Comminges hỏi tiếp.

— Cả cái nhà này luôn ạ — Friquet đáp — ngôi nhà là của ngài ấy; ngài ấy chiếm tầng hai để làm việc và xuống tầng một để dùng bữa; chắc giờ này ngài ấy đang ăn trưa; đã đúng ngọ rồi ạ.

— Tốt — Comminges nói.

Đúng lúc ấy, cánh cửa mở ra, và sau khi gặng hỏi người hầu gái, viên sĩ quan biết được rằng ngài Broussel thực sự đang ở nhà và đang dùng bữa.

Broussel đang ngồi vào bàn ăn cùng gia đình, đối diện là người vợ, hai bên là hai cô con gái, còn cậu con trai Louvières — kẻ mà chúng ta đã từng bắt gặp khi vụ tai nạn xảy ra với vị nghị viên, một tai nạn mà từ đó hắn đã hoàn toàn bình phục — thì ngồi ở phía cuối bàn. Con người đáng kính ấy, đã hồi phục hoàn toàn sức khỏe, đang nhấm nháp những trái quả tuyệt vời mà phu nhân de Longueville đã gửi tặng.

Thoáng thấy viên sĩ quan, Broussel có phần chấn động, nhưng khi thấy hắn cung kính cúi đầu, ông liền đứng dậy và cúi đầu đáp lễ. Mặc cho sự lịch thiệp qua lại ấy, nét mặt của những người phụ nữ vẫn bộc lộ một sự bất an nhất định; còn Louvières thì tái mét mặt mày và sốt sắng chờ đợi viên sĩ quan lên tiếng giải thích.

— Thưa ngài — Comminges mở lời — tôi mang theo sắc lệnh từ nhà vua.

— Vâng, thưa ngài — Broussel đáp — sắc lệnh đó ra sao? — Và ông đưa tay ra nhận.

— Tôi được giao trọng trách bắt giữ ngài, thưa ngài — Comminges nói với giọng điệu và vẻ lịch thiệp y nguyên — và nếu ngài nghe tôi, tốt hơn hết ngài nên bớt chút thời gian đọc bức thư dài dằng dặc kia mà hãy ngoan ngoãn theo tôi.

Một tia sét giáng xuống giữa những con người lương thiện đang tụ họp yên bình nơi đây cũng chẳng thể tạo ra một hiệu ứng kinh hoàng hơn thế. Đó là một điều khủng khiếp vào thời đại ấy khi bị tống giam bởi lòng thù hận của nhà vua. Louvières chồm tới để chộp lấy thanh gươm đang dựa vào chiếc ghế ở góc phòng; nhưng chỉ một cái liếc mắt từ vị nghị viên đáng kính — người dẫu ở giữa cơn hoảng loạn vẫn giữ vững được sự tỉnh táo — đã chặn đứng hành động liều lĩnh đầy tuyệt vọng ấy. Phu nhân Broussel, bị ngăn cách bởi khoảng cách của chiếc bàn với chồng, oà khóc nức nở, trong khi các cô con gái bám chặt lấy tay cha.

— Nào, thưa ngài — Comminges giục giã — hãy khẩn trương lên; ngài buộc phải tuân lệnh nhà vua.

— Thưa ngài — Broussel nói — sức khỏe tôi đang kém và tôi không thể tự nguyện đầu hàng trong tình trạng này; tôi cần có thời gian.

— Không thể nào — Comminges cự tuyệt — sắc lệnh vô cùng nghiêm ngặt và phải được thi hành ngay lập tức.

— Không thể nào! — Louvières gầm lên. — Thưa ngài, hãy cẩn thận chớ có đẩy chúng tôi vào đường cùng.

— Không thể nào! — một giọng hét chói tai vang lên từ cuối phòng.

Comminges quay lại và nhìn thấy mụ Nanette với đôi mắt quắc lên giận dữ và tay lăm lăm cây chổi.

— Nanette hiền lành của ta, xin hãy bình tĩnh, ta nài nỉ ngươi đấy — Broussel can thiệp.

— Tôi á! Bình tĩnh sao được khi chủ nhân của tôi đang bị bắt giữ! Ngài ấy, chỗ dựa, đấng cứu thế, người cha của nhân dân! Ái chà! Ồ thế á! Các người hãy còn chưa biết mặt mụ Nanette này đâu. Có chịu cút đi không hả? — mụ gầm lên với Comminges.

Tên sĩ quan mỉm cười.

— Thấy chưa, thưa ngài — hắn hướng về phía Broussel — hãy bắt mụ đàn bà đó ngậm miệng lại và theo tôi.

— Bảo tôi ngậm miệng á! Tôi á! Tôi á! — Nanette gào lên. — Ái chà! Mấy cái thứ chim xanh của nhà vua các người còn lâu mới đủ trình để bịt miệng ta nhé! Cứ chờ mà xem.

Và mụ Nanette chồm tới khung cửa sổ, vung tay bật tung nó ra, rồi cất cao một cái giọng thé đanh thép đến mức có thể vọng tận ra quảng trường Notre Dame:

— Cứu với! — mụ thét lên. — Chủ nhân của tôi đang bị bắt giữ! Nghị viên Broussel đang bị bắt giữ! Cứu với!

— Thưa ngài — Comminges lạnh lùng — hãy tỏ rõ thái độ đi; ngài sẽ tuân lệnh hay định chống đối nhà vua đây?

— Tôi tuân lệnh, tôi tuân lệnh, thưa ngài! — Broussel kêu lên, cố gắng gỡ tay hai cô con gái đang ôm chầm lấy mình và dùng ánh mắt để kiềm chế người con trai dường như đang quyết tâm thách thức quyền lực.

— Nếu vậy thì — Comminges hạ lệnh — hãy bịt mồm mụ già đó lại.

— Ái chà! Mụ già á! — Nanette gào thét.

Và mụ bắt đầu gào thét dữ dội hơn, bám chặt lấy các chấn song cửa sổ:

— Cứu với! Cứu với cho ngài Broussel, người đang bị bắt giữ chỉ vì ngài ấy bảo vệ nhân dân! Cứu với!

Comminges chộp lấy eo người hầu gái và định lôi mụ ra khỏi vị trí; nhưng ngay khoảnh khắc đó, một giọng cao vút phát ra từ một gác lửng nào đó bỗng vang lên the thé:

— Sát nhân! Cháy nhà! Cướp! Ngài Broussel đang bị hành thích! Ngài Broussel đang bị bóp cổ!

Đó chính là giọng của Friquet; và mụ Nanette, cảm thấy có kẻ đồng minh hậu thuẫn, bèn hùa theo với tất cả sức lực để gào thét những âm thanh đinh tai nhức óc.

Nhiều gương mặt hiếu kỳ đã xuất hiện bên các ô cửa sổ và dòng người bị thu hút về phía cuối con phố bắt đầu đổ xô tới, thoạt đầu là những người đàn ông, tiếp đến là từng nhóm, rồi sau đó là cả một biển người; nghe thấy tiếng kêu la và nhìn thấy cỗ xe, họ chẳng tài nào hiểu nổi chuyện gì đang xảy ra; nhưng Friquet từ gác lửng đã nhảy phốc lên mui cỗ xe.

— Bọn chúng muốn bắt ngài Broussel! — cậu ta la lớn. — Bọn vệ binh đang ở trong xe còn tên sĩ quan thì ở trên lầu!

Đám đông bắt đầu xì xào bàn tán rồi ào ạt tiến sát lại ngôi nhà. Hai tên vệ binh nán lại trong ngõ liền chồm lên yểm trợ cho Comminges; những kẻ ở trong cỗ xe thì bật tung cửa và giương súng.

— Các người không thấy chúng đấy phỏng? — Friquet ré lên. — Không thấy sao? Bọn chúng kìa!

Gã đánh xe quay ngoắt lại, quất một roi đau điếng vào người Friquet khiến cậu ta oằn người kêu la thảm thiết.

— Ái chà! Đồ đánh xe của quỷ! — Friquet chửi rủa. — Mày cũng tham gia vào hả! Cứ đợi đấy!

Và rút lui về gác lửng, cậu ta bắt đầu trút mưa vật thể đủ loại lên đầu gã đánh xe.

Sự hỗn loạn bấy giờ ngày một leo thang; con đường chật hẹp không thể chứa nổi dòng người hiếu kỳ đổ về từ mọi hướng; đám đông xâm chiếm cả khoảng không gian mà những ngọn giáo đáng sợ của đội vệ binh trước đó vẫn giữ khoảng cách an toàn với cỗ xe. Lũ lính, bị đẩy lùi bởi những bức tường người sống ấy, đứng trước nguy cơ bị nghiền nát vào nan hoa bánh xe và thành xe. Những mệnh lệnh mà viên cảnh sát lặp đi lặp lại đến hai mươi lần: "Nhân danh nhà vua", hoàn toàn vô tác dụng trước biển người đáng sợ này — trái lại, chúng dường như còn làm đám đông thêm sục sôi giận dữ; đúng lúc đó, giữa tiếng hô "Nhân danh nhà vua", một sĩ quan chạy thộc tới, và khi nhìn thấy các bộ quân phục bị hành hạ, hắn gieo mình vào giữa cuộc hỗn chiến với thanh gươm tuốt trần, mang lại sự viện trợ bất ngờ cho đám lính ngự lâm. Vẻ mặt thanh niên này hãy còn rất trẻ, едва mười sáu tuổi, giờ đây tái xanh vì giận dữ. Hắn nhảy phắt xuống khỏi chiến mã, tựa lưng vào trục xe, dùng con ngựa làm lá chắn, rút súng lục từ bao da giắt vào thắt lưng, và bắt đầu chiến đấu bằng sống lưng gươm hệt như một kẻ đã nhẵn mặt với việc thuần thục thứ vũ khí này.

Trong mười phút liền, một mình hắn kìm chân cả đám đông; cuối cùng Comminges xuất hiện, đẩy Broussel đi trước.

— Hãy đập nát cỗ xe đi! — đám đông gào thét.

— Nhân danh nhà vua! — Comminges thét lớn.

— Kẻ nào bước lên một bước nữa là kẻ đó nát thây! — Raoul thét lên — bởi thực chất đó chính là cậu, khi cảm thấy bị kẹp chặt và suýt bị nghiền nát bởi một gã thị dân khổng lồ, cậu đã đâm một nhát mũi gươm vào người hắn khiến hắn ré lên lùi lại.

Comminges như xô đẩy Broussel ngã nhào vào trong xe rồi chồm theo sau. Đúng lúc ấy, một phát súng vang lên và viên đạn bay sượt qua vành mũ của Comminges, tiện đứt cánh tay của một tên vệ binh. Comminges ngẩng đầu lên và nhìn thấy giữa làn khói mịt mù gương mặt đằng đằng sát khí của Louvières đang ló ra ở khung cửa sổ tầng hai.

— Rất hay, thưa ngài — Comminges lạnh lùng nói — ngài sẽ còn được nghe về chuyện này đấy.

— Và ngài cũng sẽ nghe từ tôi, thưa ngài — Louvières đáp — và rồi chúng ta sẽ thấy kẻ nào nói to hơn.

Friquet và Nanette vẫn tiếp tục gào thét; những tiếng kêu la, tiếng súng nổ cùng mùi thuốc súng ngột ngạt tạo ra thứ hiệu ứng cuồng loạn quen thuộc.

— Giết tên sĩ quan! Đánh hạ hắn! — tiếng hô đồng thanh.

— Lấn tới một bước nữa coi — Comminges gầm lên, kéo sụp các tấm kính cửa sổ xuống để không gian bên trong cỗ xe có thể lộ rõ hoàn toàn, đồng thời kề thanh gươm vào ngực tù nhân — tiến lên một bước nữa là ta đoạt mạng kẻ tù nhân này; mệnh lệnh của ta là phải lôi hắn đi dù sống hay chết. Ta sẽ mang đi một cái xác, thế thôi.

Một tiếng thét kinh hoàng vang lên, người vợ và những cô con gái của Broussel giơ cao hai bàn tay cầu xin đám đông; đám người hiểu rằng vị sĩ quan này, dẫu tái nhợt nhưng vô cùng quyết đoán, sẽ giữ lời hứa của mình; họ tiếp tục đe dọa nhưng bắt đầu tản ra.

— Lái xe về cung điện! — Comminges ra lệnh cho gã đánh xe bấy giờ hồn vía đã lên mây.

Gã quất roi vào bầy súc vật, chúng vùng vẫy mở lối đi xuyên qua đám đông; nhưng vừa đến khu vực Què thì họ buộc phải dừng lại; cỗ xe bị lật nhào, những con ngựa hoảng loạn, chết ngạt và bị giày xéo bởi đám đông. Raoul, đi bộ — bởi cậu không kịp leo lên ngựa lần nữa, mệt mỏi hệt như đám lính ngự lâm vì phải liên tục dùng sống gươm vung vẩy — đành phải cậy nhờ đến mũi gươm. Thế nhưng biện pháp cuối cùng đầy hiểm họa này chỉ càng làm đám đông thêm phần cuồng nộ. Thỉnh thoảng, một phát súng hỏa mai hoặc ánh thép của lưỡi kiếm xé toạc không gian giữa biển người; những vật thể ném từ các ô cửa sổ tiếp tục rơi xuống như mưa và vài tiếng súng vang lên, dẫu tiếng vang của chúng có lẽ chỉ bắn thiên lý hướng thiên, nhưng đủ làm rung động mọi trái tim. Những giọng nói vốn chẳng bao giờ được cất lên trừ những ngày bạo loạn bỗng vang dội; những gương mặt chỉ xuất hiện vào những ngày đổ máu bỗng lộ diện. Tiếng gào "Chết! Chết lũ vệ binh! Ném tên sĩ quan xuống sông Seine!" vượt lên trên mọi thứ tạp âm, điếc đặc cả tai. Raoul, chiếc mũ rách tơi tả như dải băng, khuôn mặt đầm đìa máu tươi, cảm thấy không chỉ sức lực mà cả lý trí cũng đang rời bỏ mình; một màn sương đỏ bao trùm lấy tầm nhìn, và xuyên qua màn sương ấy, cậu thấy hàng trăm cánh tay đang chĩa về phía mình, chực chờ chộp lấy cậu khi ngã xuống. Lũ lính chẳng thể cứu giúp nổi ai — ai nấy đều bận rộn bảo toàn mạng sống cho chính mình. Mọi chuyện coi như chấm dứt; cỗ xe, ngựa, lính ngự lâm, và có lẽ cả tù nhân đều sắp sửa bị xé xác thành trăm mảnh, thì đột nhiên, một giọng quen thuộc vang lên bên tai Raoul và một thanh gươm lớn lóe lên giữa không trung; cùng lúc đó, đám đông rẽ ra, bị hất tung, bị giẫm đạp, và một sĩ quan lính ngự lâm, chém giết tả hữu, phóng đến chỗ Raoul rồi ôm chầm lấy cậu ngay khoảnh khắc cậu sắp sửa khuỵu xuống.

— Máu thánh! — viên sĩ quan gầm lên — chúng giết quách nó rồi phỏng? Khốn cho kẻ nào dám làm thế nếu sự thật là vậy!

Và hắn quay phắt người lại với vẻ mặt giận dữ, đầy sức mạnh và đe dọa đến mức những kẻ bạo loạn cuồng nhiệt nhất cũng phải xô đẩy nhau tháo chạy, thậm chí có kẻ còn ngã lăn nhào xuống sông Seine.

— Ngài d'Artagnan! — Raoul thì thào.

— Đúng vậy, thề có cái chết! Bằng xương bằng thịt đây, và thật may mắn làm sao cho cậu, người bạn trẻ của tôi. Nào, tiến lên, hỡi các đồng chí! — hắn tiếp tục, rướn người trên bàn đạp, giơ cao thanh gươm và hướng về phía những lính ngự lâm vẫn chưa kịp theo chân đợt tấn công chớp nhoáng của hắn. — Nào, quét sạch đám đó cho ta! Vác súng lên! Giương súng! Ngắm——

Trước mệnh lệnh ấy, ngọn núi nhân quần bỗng chốc tan loãng nhanh đến mức d'Artagnan không kìm được một tràng cười vang dội kiểu Homer.

— Cảm ơn anh, d'Artagnan — Comminges thò một nửa thân mình qua khung cửa chiếc xe đã vỡ nát để lên tiếng — cảm ơn anh, bạn trẻ; tên của anh — để tôi tâu lại với hoàng hậu.

Raoul toan mở lời đáp lại thì d'Artagnan cúi người ghé sát tai cậu.

— Câm miệng lại — hắn thì thầm — và để ta trả lời. Đừng phí thời gian nữa, Comminges — hắn tiếp tục — hãy ra khỏi cỗ xe nếu được và gọi một chiếc khác tới; lẹ lên, bằng không chỉ năm phút nữa là đám đông sẽ lại kéo đến với gươm giáo trên tay và anh sẽ mất mạng đấy. Nhìn kìa! Có một chiếc xe đang chạy tới đằng kia kìa!

Rồi đoạn cúi xuống thì thầm với Raoul: — Trên hết, tuyệt đối không được hé lộ danh tính của cậu.

— Phải rồi. Tôi đi đây — Comminges đáp — và nếu chúng dám quay lại, cứ nổ súng!

— Tuyệt đối không — d'Artagnan cự tuyệt — đừng ai động đậy gì hết. Trái lại, một phát súng vào lúc này sẽ phải trả giá đắt vào ngày mai đấy.

Comminges dẫn theo bốn tên vệ binh cùng số lượng lính ngự lâm tương đương chạy đến cỗ xe, bắt những kẻ ở bên trong bước xuống rồi đưa họ sang chiếc xe vừa bị lật. Nhưng khi cần chuyển tù nhân từ xe này sang xe khác, đám đông vừa bắt gặp kẻ mà họ gọi là vị ân nhân liền gào thét đủ mọi kiểu và quấn chặt lấy cỗ xe một lần nữa.

— Chạy đi, chạy đi! — d'Artagnan giục. — Có mười người hộ tống anh kìa. Tôi sẽ giữ lại hai mươi người để kìm chân đám đông; đi đi, đừng chần chừ dù chỉ một phút. Mười người cho ngài de Comminges.

Ngay khi cỗ xe lăn bánh, tiếng gào thét lại vang lên gấp bội và hơn mười ngàn người chen chúc tràn ngập khu Quai rồi lan ra tận Pont Neuf cùng các con phố lân cận. Vài phát súng vang lên và một lính ngự lâm bị thương.

— Tiến lên! — d'Artagnan bị dồn vào chân tường, nghiến răng nghiến lợi thét lên; rồi hắn dẫn đầu hai mươi tay súng xông vào sạc một trận kinh hoàng khiến chúng sợ hãi tan tác. Duy chỉ có một kẻ vẫn kiên cố đứng trụ tại chỗ, tay lăm lăm súng ngắn.

— Ái chà! — hắn gầm lên. — Hóa ra mày là kẻ muốn thủ tiêu hắn ư? Chờ một chút nhé.

Và hắn chĩa súng về phía d'Artagnan đang phi ngựa tới với tốc độ bàn thờ. D'Artagnan cúi rạp người xuống cổ ngựa, gã thanh niên bóp cò, và viên đạn tiện đứt chỏm lông vũ trên vành mũ. Con ngựa lồng lên, sượt qua gã đàn ông lỗ mãng tưởng rằng chỉ dựa vào sức lực có thể chặn đứng cơn cuồng phong, khiến hắn ngã dúi dụi vào vách tường. D'Artagnan giật cương dừng ngựa lại, và trong lúc đám lính ngự lâm tiếp tục truy quét, hắn quay đầu lại, kề thanh gươm tuốt trần lên người gã vừa bị hất ngã.

— Ồ, thưa ngài! — Raoul hốt hoảng kêu lên khi nhận ra gã thanh niên từng thấy ở phố Cocatrix — xin hãy tha cho hắn! Hắn là con trai ngài ấy!

Cánh tay d'Artagnan rũ xuống dọc thân người. — À, ngươi là con trai hắn ư! — hắn thốt lên. — Thế thì lại là chuyện khác rồi.

— Thưa ngài, tôi đầu hàng — Louvières nói, đưa khẩu súng hỏa mai chưa nạp đạn về phía viên sĩ quan.

— Ơ hay, không! Đầu hàng cái nỗi gì, chà! Trái lại, cút đi cho lẹ. Nếu ta bắt được ngươi, ngươi sẽ bị treo cổ đấy!

Gã thanh niên chẳng cần đợi bảo lần thứ hai, lách qua đầu ngựa rồi biến mất tăm ở góc phố Guénégaud.

— Thề có chúa! — d'Artagnan quay sang nói với Raoul — cậu vừa kịp thời ngăn tay tôi lại đấy. Hắn suýt chút nữa là thành người chết rồi; và danh dự của tôi đấy, nếu tôi phát hiện ra đó là con trai hắn, tôi sẽ hối hận vì đã hạ sát hắn mất.

— Ồ! Thưa ngài — Raoul nói — xin cho phép tôi, sau khi cảm ơn ngài vì mạng sống của tội nghiệp kia, được gửi lời cảm ơn đến ngài cho chính bản thân tôi. Tôi cũng vậy, thưa ngài, suýt nữa thì chầu Diêm Vương khi ngài xuất hiện.

— Khoan đã, khoan đã, chàng trai trẻ; đừng tự làm kiệt sức vì nói năng. Chúng ta có thể bàn về chuyện đó sau.

Rồi nhận thấy đám lính ngự lâm đã dọn sạch khu Quai từ Pont Neuf cho đến Quai Saint Michael, hắn giơ cao thanh gươm ra hiệu cho họ tăng tốc độ gấp đôi. Đám lính ngự lâm thúc ngựa phi tới, và cùng lúc đó, mười tên lính mà d'Artagnan phái đi hộ tống Comminges cũng xuất hiện.

— Này! — d'Artagnan gọi lớn. — Có chuyện gì mới xảy ra à?

— Thưa ngài — tên trung sĩ bẩm báo — cỗ xe của bọn chúng lại hỏng lần nữa rồi; quả thực nó bị nguyền rủa hay sao ấy.

— Bọn chúng thật bất tài — d'Artagnan nhún vai. — Đã chọn xe thì phải chọn cho chắc chắn chứ. Cỗ xe dùng để bắt một kẻ như Broussel phải chịu được sức nặng của mười vạn người mới phải.

— Lệnh của trung úy là gì ạ?

— Dẫn đội hộ tống áp tải hắn về tận nơi.

— Nhưng ngài sẽ bị bỏ lại một mình sao?

— Dĩ nhiên rồi. Hay các ngươi tưởng ta cần hộ vệ chắc? Đi đi.

Đám lính ngự lâm cất bước khởi hành, để lại d'Artagnan độc hành cùng Raoul.

— Nào — hắn hỏi — cậu có thấy đau không?

— Vâng; đầu cháu không chỉ quay cuồng mà còn nóng bừng lên nữa.

— Cái đầu này bị làm sao thế? — d'Artagnan nói, nhấc chiếc mũ móp méo lên. — Ồ! Ồ! Một vết bầm dập.

— Vâng, cháu nghĩ mình bị một chậu hoa rơi trúng đầu.

— Lũ thú vật! — d'Artagnan lẩm bẩm. — Thế chẳng phải cậu đang cưỡi ngựa sao? Cậu mang cả cựa giày cơ mà.

— Vâng, nhưng cháu đã nhảy xuống để bảo vệ ngài de Comminges và con ngựa đã bị cướp mất. Nó kìa, cháu thấy rồi.

Đúng khoảnh khắc đó, Friquet phóng qua, cưỡi trên con ngựa của Raoul, tay vẫy vẫy chiếc mũ sặc sỡ và gào lên: "Broussel! Broussel!"

— Này! Đứng lại, đồ ranh con! — d'Artagnan thét lên. — Mang con ngựa lại đây mau.

Friquet nghe rõ mồn một, nhưng cậu ta làm bộ như điếc và toan chuồn tiếp. D'Artagnan thoáng chốc nổi ý định truy đuổi tiểu yêu Friquet, nhưng vì không muốn bỏ mặc Raoul một mình, hắn đành tự giới hạn bằng cách rút khẩu súng lục trong bao ra và lên cò.

Friquet có đôi mắt cực tinh và đôi tai vô cùng thính. Cậu ta trông thấy hành động của d'Artagnan, nghe thấy tiếng lên cò khô khốc, và khựng lại ngay tức khắc.

— Ồ! Hóa ra là ngài đại nhân đây ạ — cậu ta vừa nói vừa tiến về phía d'Artagnan — và con thật vô cùng vinh hạnh khi được gặp ngài.

D'Artagnan đăm đăm nhìn Friquet và nhận ra đó chính là chú bé hát thánh ca nhỏ tuổi ở phố de la Calandre.

— À, hóa ra là mày, đồ ranh con! — hắn thốt lên. — Lại đây xem nào: thế mày đã đổi nghề rồi phỏng? Không làm chú bé giật chuông hay bồi bàn quán rượu nữa à; mày đã thành kẻ trộm ngựa từ bao giờ thế hả?

— Ôi ngài đại nhân, sao ngài lại nói thế ạ? — Friquet kêu lên trân tráo. — Con đang đi tìm vị quý tộc sở hữu con ngựa này — một sĩ quan dũng cảm và đẹp trai như một vị Caesar thời trẻ; — rồi làm bộ như vừa mới nhìn thấy Raoul lần đầu: — Ơ! Nhưng nếu con không nhầm thì — cậu ta tiếp tục — ngài ấy đây rồi ạ; ngài sẽ không quên thưởng cho tiểu đồng chứ thưa ngài?

Raoul thọc tay vào túi quần.

— Cậu đang định làm gì thế? — d'Artagnan ngăn lại.

— Đưa mười franc cho anh chàng trung thực này — Raoul đáp, rút một đồng pistole từ trong túi ra.

— Mười cái tát vào mông thì có! — d'Artagnan gạt đi. — Cút mau, đồ tiểu yêu tinh, và đừng có quên là ta vẫn giữ địa chỉ nhà mày đấy nhé.

Friquet — kẻ vốn không ngờ mình lại được tha bổng một cách dễ dãi đến thế — liền tót đi như một con linh dương ngược lên khu Quai hướng về phố Dauphine rồi biến mất tăm. Raoul leo lên lưng ngựa, và cả hai thong thả rảo bước về hướng phố Tiquetonne.

D'Artagnan dìu dắt chàng thanh niên hệt như thể cậu là con ruột của chính mình.

Họ về đến khách sạn de la Chevrette mà không gặp bất kỳ sự cố nào.

Nàng Madeleine xinh đẹp thông báo cho d'Artagnan rằng Planchet đã trở về, mang theo Mousqueton — kẻ đã kiên cường chịu đựng cuộc phẫu thuật gắp viên đạn ra và hiện đang bình phục tốt nhất có thể tùy theo tình trạng cơ thể.

D'Artagnan định sai gọi Planchet lên, nhưng hắn đã biến đi đâu mất.

— Vậy thì mang rượu lên đây — d'Artagnan bảo. — Cậu đang vô cùng đắc ý với bản thân đúng không — hắn quay sang nói với Raoul khi cả hai chỉ còn lại một mình — phải thế không?

— Vâng, thưa ngài — Raoul đáp. — Cháu thấy mình đã làm tròn bổn phận. Cháu đã bảo vệ nhà vua.

— Và ai bảo cậu đi bảo vệ nhà vua thế?

— Chính bá tước de la Fère đã bảo.

— Đúng, là nhà vua; nhưng hôm nay cậu không chiến đấu vì nhà vua, cậu chiến đấu vì Mazarin; mà hai chuyện đó thì không hoàn toàn là một đâu nhé.

— Thế còn ngài thì sao?

— Ồ, về phần ta; đó lại là câu chuyện khác. Ta tuân lệnh đại úy của mình. Còn về phần cậu, đại úy của cậu là hoàng tử, hãy khắc cốt ghi tâm điều đó; cậu không có vị đại úy nào khác đâu. Nhưng mà, có ai đời lại chứng kiến một kẻ dại dột thế này cơ chứ — hắn tiếp tục — tự biến mình thành một kẻ theo phu nhân Mazarin rồi hùa vào bắt giữ Broussel! Đừng có hé răng nửa lời về chuyện đó đấy, bằng không bá tước de la Fère sẽ nổi lôi đình cho mà xem.

— Ngài nghĩ bá tước sẽ giận cháu sao?

— Nghĩ à? Ta dám chắc luôn ấy chứ; nếu không vì chuyện đó, ta đã phải cảm ơn cậu rồi, bởi cậu đã làm việc thay cho chúng ta. Tuy nhiên, ta mắng cậu thay cho ngài ấy, và ở vị thế của ngài ấy; có vậy thì cơn giông bão mới dễ bề qua đi hơn, tin ta đi. Hơn nữa, đứa con quý hóa của ta — d'Artagnan tiếp tục — ta đang tận dụng đặc quyền mà người giám hộ của cậu đã trao cho ta đấy.

— Cháu không hiểu ngài đang nói gì cả, thưa ngài — Raoul thốt lên.

D'Artagnan đứng dậy, rút một bức thư từ bàn làm việc rồi trao nó cho Raoul. Nét mặt của chàng trai trẻ bỗng trở nên nghiêm trọng ngay khi cậu lướt mắt qua tờ giấy.

— Ôi, lạy Chúa! — cậu thốt lên, ngẩng đôi mắt đẹp đượm buồn và ươn ướt lệ nhìn d'Artagnan — bá tước đã rời Paris mà không gặp cháu sao?

— Ngài ấy đã đi từ bốn ngày trước — d'Artagnan đáp.

— Nhưng bức thư này có vẻ ngầm ám chỉ rằng ngài ấy sắp sửa dấn thân vào hiểm nguy, thậm chí là cái chết.

— Lão ấy — lão ấy — dấn thân vào hiểm nguy tử thần ư! Không, đừng có lo lắng; ngài ấy đang đi hành công việc riêng và sẽ sớm quay về thôi. Ta hy vọng cậu không có điều gì chướng tai gai mắt khi chấp nhận ta làm người giám hộ tạm thời chứ?

— Ôi, không đâu, ngài d'Artagnan — Raoul đáp — ngài là một trang nam nhi dũng cảm và bá tước de la Fère dành cho ngài biết bao tình cảm quý mến!

— Chà! Thế thì chúa quỷ! Cũng hãy yêu quý cả ta nữa nhé; ta sẽ không hành hạ cậu nhiều đâu, chỉ với điều kiện cậu phải trở thành một thành viên phe Fronde, người bạn trẻ của ta, và phải là một tên Fronde cốt cán cơ đấy.

— Nhưng cháu có thể tiếp tục đến yết kiến phu nhân de Chevreuse được chứ?

— Ta dám cá là được ấy chứ! Cả phó giám mục và phu nhân de Longueville nữa; và nếu ngài Broussel đáng kính có ở đó — kẻ mà cậu đã ngốc nghếch giúp một tay để tống giam — ta sẽ bảo cậu phải lập tức chạy đến xin lỗi ngài ấy và hôn lên cả hai má nữa cơ.

— Vâng, thưa ngài, cháu sẽ tuân lệnh, dẫu cháu chẳng hiểu nổi.

— Chẳng cần thiết phải hiểu làm gì. Này — d'Artagnan tiếp tục, quay người về phía cánh cửa vừa mở hé — ngài du Vallon kìa, áo quần rách tơi tả bước vào rồi đấy.

— Đúng vậy, nhưng đổi lại — Porthos vừa nói vừa mồ hôi nhễ nhại và dính đầy bụi bẩn — bù lại, ta đã xé toạc rất nhiều bộ da đấy. Lũ khốn kiếp đó dám hòng tước đoạt thanh gươm của ta! Quỷ tha ma bắt chúng đi, một vụ bạo loạn dân chúng gì đâu mà dữ dội thế! — gã khổng lồ điềm tĩnh tiếp nhận — nhưng ta đã nện ngã hơn hai mươi tên chỉ bằng chuối gươm Balizarde rồi đấy. Cho một hớp rượu đi, d'Artagnan.

— Ồ, ta bảo đảm cho cậu — gã người Gascogne vừa nói vừa rót đầy tràn ly rượu của Porthos — nhưng khi cậu đã uống xong, hãy cho ta xin chút ý kiến.

— Về chuyện gì? — Porthos hỏi.

— Nhìn đây này — d'Artagnan tiếp lời — đây là ngài de Bragelonne, người đã bất chấp mọi rủi ro để hỗ trợ bắt giữ Broussel và khiến ta tốn biết bao công sức mới ngăn nổi cậu ta bảo vệ ngài de Comminges.

— Quỷ thật! — Porthos thốt lên. — Thế còn người giám hộ của cậu ta, ngài ấy sẽ nói gì về chuyện này đây?

— Cậu nghe thấy chưa? — d'Artagnan ngắt lời — hãy trở thành một thành viên phe Fronde, bạn của ta, gia nhập phe Fronde đi, và hãy nhớ rằng ta thay thế vị trí của bá tước trong mọi chuyện; — hắn vừa nói vừa tung tóe khua những đồng tiền vàng leng keng.

— Cậu có muốn đi không? — hắn hỏi Porthos.

— Đi đâu cơ? — Porthos hỏi, vừa cạn ly rượu thứ hai.

— Đến tỏ lòng thành kính với ngài hồng y.

Porthos cạn ly rượu thứ hai với vẻ uyển chuyển hệt như ly đầu tiên, với lấy chiếc mũ dạ rồi lầm lũi theo chân d'Artagnan. Riêng Raoul, cậu vẫn ngẩn ngơ trước những gì vừa chứng kiến, bởi cậu đã bị d'Artagnan nghiêm cấm bước chân ra khỏi phòng cho đến khi cơn bão bạo loạn hoàn toàn lắng xuống.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.