Lorna Doone: Bản Tình Ca Exmoor

Lượt đọc: 232 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7
Đường Lên Gian Khó

❊ ❊ ❊

Biết bao đêm đông trôi qua êm đềm và tràn trề hy vọng như thế, bên tiếng xèo xèo của những viên đạn tròn bóng loáng vừa đúc xong được thả vào nước lạnh, cùng tiếng nổ lách tách của những quả táo đỏ mọng Annie đang nướng cho tôi. Chúng tôi luôn làm xong việc buổi tối ngay trong lòng ống khói của gian bếp sau; nơi ấy, dẫu lửa đang cháy bập bùng, vẫn đủ chỗ kê cả bàn lẫn ghế. Phía bên phải là một chiếc lò nướng khổng lồ mà chị Betty từng dọa sẽ tống chúng tôi vào nướng chín; còn bên trái là những dải thịt ba chỉ dài thượt pha từ những con lợn cưng, đang ngả dần sang màu nâu óng ả tuyệt đẹp. Annie nhớ rõ tên từng con một, chốc chốc, khi một kỷ niệm dịu dàng thoáng qua trong lòng, con bé lại chạy xuyên qua làn khói củi, hỏi han xem chúng sống chết ra sao và khi nào thì muốn được người ta ăn thịt. Rồi con bé quay lại với đôi mắt ngấn lệ ngây ngô vì nghĩ đến cái kết cục tất yếu ấy; còn tôi, vốn yếu lòng theo một cách khác, lại hạ quyết tâm cạch mặt món thịt xông khói.

Nhưng lạy Chúa tôi, quyết tâm ấy chẳng bõ bèn gì! Cứ đến giờ ăn sáng, sau ba tiếng đồng hồ lội đồi hoang về, tôi lập tức quên khuấy lũ lợn mà chỉ chăm chăm nhìn vào những lát thịt rán giòn rụm. Bởi lẽ hạt chúng tôi là một nơi dễ đói ăn nhất trần đời, nếu ở xứ Anh này có một chốn như thế; ý tôi là, một nơi mà người ta buộc phải ăn, và ai nấy đều hăm hở hoàn thành bổn phận đó. Gió trên đồng hoang vừa sắc lẹm lại vừa lành lạnh, khơi gợi trong lòng người ta ký ức về những món ngon từng nếm trải, đồng thời mài sắc niềm hy vọng về những thức còn mỹ vị hơn ở tương lai, đến nỗi khi ngồi vào bàn ăn, dạ dày và trái tim đã đồng điệu đến mức chẳng thể nói lời từ chối nhau.

Hầu như ai ở vùng chúng tôi cũng biết dải đất thoai thoải quanh trang trại Plover's Barrows êm đềm và dịu ngọt đến nhường nào. Trùm lên trên trang trại là rặng núi sẫm màu sừng sững, hoang vu và phủ đầy thạch nam; nhưng gần đến nhà tôi, các thung lũng lượn lòng chảo lại, mở ra một khoảng ấm áp chở che. Nơi đây có cây cối tốt tươi, thảm cỏ xanh mướt, những vườn cây trĩu quả an lành, và người ta khó lòng thấy được con suối nhỏ dù tiếng róc rách của nó vang vọng khắp nơi. Thậm chí một nhánh suối lớn còn chảy qua sân trại của chúng tôi, thỉnh thoảng lại cuộn lên thành những đợt sóng dạt dào mỗi khi mây mù sà xuống đỉnh đồi. Còn tít phía dưới, nơi thung lũng uốn cong đón dòng Lynn hòa vào, những đồng cỏ xinh đẹp trải dài thoai thoải như vòm ngực nõn nà, hứng trọn ánh nắng lung linh trên mặt nước. Gần như toàn bộ dải đất này đều thuộc về gia đình tôi, trải dài cho tới tận ranh giới đất của lão Nicholas Snowe.

Thế nhưng, cách trang trại của chúng tôi chừng hai dặm về phía hạ lưu, dòng Bagworthy đổ vào suối Lynn, biến nó thành một con sông thực thụ. Từ đó, dòng nước cuồn cuộn sức mạnh hoang dã hối hả chảy dưới chân một ngọn đồi trọc trơ trụi, rồi lại luồn qua ghềnh đá và rừng cây, nơi dòng chảy bị che khuất và những hố nước sâu đen ngòm làm nó chậm lại. Dọc con nước này có vô số cá, càng đi xa cá càng to vì tầng nước sâu hơn cho chúng nhiều mồi; vào những tháng hè, mỗi khi mẹ cho phép tôi rời trang trại, tôi lại xuống đây—kéo theo Annie cho đỡ quạnh hiu—và câu được gần đầy một giỏ cá hồi nhỏ cùng cá đao chỉ bằng một chiếc lưỡi câu móc mẩu giun đất, cánh bọ rùa hay một con nhặng kẹp nơi đầu cành phỉ. Bởi lẽ trong số tất cả những điều học được ở trường Blundell, tôi chỉ giữ lại được đúng hai thứ: tài câu cá và thuật bơi lội. Quả thực, người ta có một lối dạy bơi rất thô bạo ở đó: các học sinh lớn tóm lấy tụi nhỏ tuổi hơn rồi bắt trải qua một màn gọi là “tắm cừu”. Ở đồng cỏ thứ ba tính từ cổng trường đi ngược lên dòng sông, có một vụng nước tuyệt đẹp trên sông Lowman, nơi dòng suối Taunton đổ vào, người ta gọi đó là Vụng Taunton. Nước dồn xuống qua một đoạn ghềnh dốc, xiết mạnh rồi bất ngờ bẻ gập khúc khuỷu nơi con suối nhỏ róc rách hòa dòng; bờ bên ấy dốc đứng, cao chừng bốn hay năm bộ, đất mùn chìa ra lơ lửng; bờ bên kia thì thoai thoải, rải đầy sỏi cuội, rất tiện để leo lên. Thế rồi lũ con trai lớn túm lấy những đứa bé con—những đứa đang khóc lóc van xin tha thiết và có lẽ đang nghĩ về mẹ của chúng—đè chặt tay sau gáy lôi chúng lên đỉnh bờ dốc phía đông rồi bắt cởi sạch quần áo. Lũ bé con quỳ gối trần trên đất, ngước nhìn lên mà mếu máo van lơn; nhưng bọn đàn anh biết điều gì là tốt cho chúng nên chẳng mảy may động lòng. Thế là chúng ném lũ nhỏ xuống nước, hết đứa này đến đứa khác, rồi đứng nhìn các nạn nhân chìm nghỉm xuống đáy trước khi ngoi lên ngụp lặn, phì phò thở bọt để giành giật sự sống. Đó là một cảnh tượng rất đáng xem một khi bạn biết rằng chẳng có mấy hiểm nguy, bởi dẫu vực sâu, dòng chảy chắc chắn sẽ cuốn đứa trẻ dạt vào bãi đá cuội nơi mép nước cạn. Riêng tôi, chúng chẳng phải quẳng đến lần thứ hai, vì tôi đã tự mình nhảy tõm xuống; sau khi đã quen với dòng Lynn hung bạo thì con sông Lowman này chẳng bõ bèn gì. Dẫu vậy, tôi đã học bơi ở đó, hệt như mọi đứa trẻ khác; bởi bài học cốt tử nhất để bơi được chính là nhận ra mình buộc phải bơi. Tôi vốn dĩ đã yêu nước và chẳng thể rời xa nó lâu; nhưng ngay cả những đứa ghét nước nhất rốt cuộc cũng bơi được bằng cách này hay cách khác sau một đôi năm bị quẳng xuống Vụng Taunton.

Ấy thế mà, dẫu em gái Annie thường đi cùng để bầu bạn và dòng Lynn tinh quái chẳng thể chia rẽ hai anh em—bởi hễ chỗ nào con bé không nhảy qua được hoặc không thể vén váy lội qua các mỏm đá là tôi lại cõng nó trên lưng—vậy mà chưa lần nào hai đứa tôi dám đi ngược lên dòng Bagworthy. Chúng tôi biết nhánh sông ấy mang lại một dòng chảy dồi dào, cá nhiều như sỏi đá; và chúng tôi từng nghĩ hẳn sẽ thú vị lắm nếu tự mở một lối đi ở nơi chưa từng có dấu chân người, nơi ngay cả một con bò đực cũng chưa bao giờ mò xuống uống nước. Nhưng hồi ấy chúng tôi có sợ hãi hay không thì tôi chẳng dám chắc, bởi chuyện đã quá lâu rồi; song tôi đồ rằng nỗi sợ cũng có phần can dự. Bởi lẽ dòng Bagworthy chảy ra từ chính Thung lũng Doone, chỉ cách cửa thung lũng chừng một dặm đường.

Thế rồi, khi tôi vừa bước sang tuổi mười bốn, được mặc bộ quần chẽn tươm tất có khóa cài ở đầu gối cùng đôi tất len dầy cộp màu xanh lam do chính tay mẹ đan, số phận đưa đẩy khiến tôi—nói không ngoa là chẳng còn lựa chọn nào khác—phải dấn thân thám hiểm dòng Bagworthy. Chuyện xảy ra như thế này.

Mẹ tôi đau ốm đã lâu và chẳng ăn uống được gì nhiều; mà ở chốn này, chẳng điều gì làm người ta sợ hãi bằng việc thấy người thân chán ăn bỏ bữa. Bấy giờ tôi sực nhớ có lần vào kỳ nghỉ, tôi từng mang từ Tiverton về biếu mẹ một hũ cá chạch ướp giấm do chính tay tôi bắt dưới sông Lowman rồi nướng trong lò bếp với giấm, vài lá nguyệt quế và chừng một tá hạt tiêu sọ. Mẹ từng bảo cả đời mẹ chưa từng nếm món nào ngon sánh bằng. Mẹ khen một câu tuyệt vời như thế là để tán thưởng tài bắt cá và nấu nướng của tôi, hay mẹ thực bụng nghĩ vậy thì tôi không rõ, dẫu tôi tin vế sau hơn, và hẳn ai từng nếm thử món đó cũng sẽ thấy thế; dẫu sao đi nữa, lúc này tôi quyết tâm đi bắt vài con cá chạch về làm y như vậy cho mẹ, cốt để mẹ nuốt nổi đôi miếng lót dạ.

Cho đến tận bây giờ, vẫn có nhiều người chưa hiểu thấu cá chạch là giống cá gì, chúng sống ở đâu và làm sao để bắt rồi ngâm giấm chúng. Tôi cũng chẳng dại gì mà kể hết cho họ nghe, bởi nếu tôi kể ra thì e rằng mươi hai mươi năm sau ngày cuốn sách này ra mắt, loài chạch sẽ chẳng còn lấy một mống. Một con cá đao ướp giấm cũng ngon lắm nếu bạn bắt được nó ở khúc nước xiết khi vây nó còn đỏ ối; nhưng so với một con cá chạch chế biến đúng điệu, nó chẳng khác nào cặn bia đem so với rượu ngon.

Đã quyết tâm bắt bằng được mấy con cá chạch dẫu có gian nan đến đâu, tôi chẳng nói chẳng rằng với ai, lẳng lặng lên đường vào một buổi sáng ngày lễ Thánh Valentine, hình như là năm 1675 hay 1676 gì đó. Tôi không cho Annie đi cùng vì nước quá lạnh; mùa đông năm ấy kéo dài lê thê, tuyết vẫn còn đọng lại thành từng mảng nơi lòng bờ dốc như những chiếc găng tay của quý bà bỏ quên. Thế nhưng mùa xuân đang cựa mình thức giấc, như lệ thường ở Devonshire mỗi khi chu kỳ ngày dài bắt đầu; dẫu cảnh sắc chưa lộ rõ, bầu không khí đã ngập tràn hơi thở xuân sang.

Giờ đây tôi thấy thật lạ lùng khi mình nhớ vanh vách từng cảm xúc ấu thơ ấy, bởi hồi đó tôi đâu có để tâm gì; vậy mà chúng lại hiện về rực rỡ, giữa lúc mọi thứ khác đều mờ mịt trong màn sương xám của dòng đời từng trải. Tôi tựa như một ông lão nhìn qua mép kính lão của mình, vừa lau bụi vừa thấy rõ mồn một hình ảnh đứa cháu nội đang chơi trò ú òa trước mắt.

Nhưng dẫu có già đến mấy, tôi cũng chẳng thể nào quên được ngày hôm ấy, và dòng nước buốt giá đến cắt da cắt thịt dường nào. Tôi cởi giày và tất, bỏ vào một cái túi rồi quàng quanh cổ; áo khoác ngoài để lại nhà, còn hai ống tay áo sơ mi thì vén ngược buộc túm ra sau vai. Đoạn, tôi cầm chiếc xiên ba chĩa buộc chặt vào một cái gậy bằng dây thừng, cùng một chiếc khăn vải bạt túm một mẩu bánh mì bên trong; rồi cứ thế bước xuống dòng nước rải sỏi, cố tự nhủ lòng rằng nước ấm lắm. Suốt hơn một dặm dọc theo dòng Lynn, hầu như chẳng mỏm đá nào thoát khỏi tay tôi, bởi tôi đã quá sành sỏi tập tính của loài chạch và biết rõ chúng ẩn nấp ra sao. Với những đốm xám trên thân hình trong suốt, thoạt nhìn hơi giống loài mực nhưng săn chắc hơn, nó sẽ nằm im thin thít dưới một dải rong nơi dòng nước xiết, mong thoát khỏi tầm mắt kẻ thù, đến cái đuôi cũng chẳng buồn vẫy. Thế rồi khi bị kinh động, nó phóng vút đi tựa chiếc nan cá voi bật khỏi ngón tay, lách vội vào một gờ đá rồi nằm chúi đầu nhọn vào bên dưới; hoặc đôi khi nó ép bụng lún sâu vào bùn, chỉ để lộ mỗi sống lưng. Đó chính là lúc tốt nhất để phóng xiên trúng đích, phải cầm xiên thật khéo léo và tính trước độ khúc xạ của mắt xiên—điều mà tôi chẳng rõ vì sao lại xảy ra khi ranh giới giữa nước và không khí cứ chập chờn rung rinh.

Còn nếu lúc bạn vừa đến mà cá chạch chưa ra ngoài mà vẫn trốn kỹ trong hang nhỏ, bạn có thể thấy nó ngơ ngác chui ra trước sự rung chuyển của đám sỏi, khẽ bơi vài nhịp rồi ngước nhìn bạn trước khi phóng ngược dòng như một vệt xám mỏng manh; khi ấy bạn phải cố định vị nơi nó ẩn nấp rồi rón rén bám theo. Đoạn, ở một vũng cát, bạn rón rén lẻn từ phía sau đuôi nó để nó không nhìn thấy—vì đầu nó luôn hướng ngược dòng nước—và ở đó bạn sẽ thấy nó vẫn nằm yên, trong trẻo, hiền lành và dễ bảo. Trông nó ngây thơ đến nỗi bạn đinh ninh sẽ xiên trúng phóc, bất chấp mặt nước chao đảo, ánh mặt trời bẻ gập mọi hình khối và những ngón tay đang run rẩy của mình. Nhưng khi bạn dồn sức phóng xuống một cú chí mạng ngỡ như đã cầm chắc trong tay, thì than ôi! theo dòng nước trôi, nó đã biến mất tăm như một bóng ma, chỉ còn lại một làn khói bùn mỏng cuộn lên từ đầu mũi xiên.

Một quãng đường dài dọc theo con nước trong vắt, lạnh buốt và sáng ngời như một tảng băng trôi, thằng tôi bé nhỏ ngày ấy đã dấn bước vì một sứ mệnh đặc trưng của loài người—sự hủy diệt. Tất cả bầy cá non dường như đều biết tôi là kẻ nắm trong tay đặc quyền của Thượng đế và quyết tận thu cho bằng hết giá trị của nó; từng con cá đều ý thức được rằng loài người chúng tôi đến để tàn phá nhiều hơn là để bồi đắp cho mặt đất này. Một con bò có thể bước tới ngắm nhìn dòng nước rồi hạ đôi môi vàng xuống nhấp ngụm; một con chim bói cá có thể lao đi như mũi tên xanh biếc qua những vòm cây tối tăm rủ trên mặt lạch, hoặc đậu trên cành liễu la đà rúc mỏ vào lớp lông ngực; thậm chí một con rái cá có thể trôi xuôi dòng giả làm một khúc gỗ mục với cái đầu dẹp ngang mặt nước và đôi mắt trơn bóng lặng lẽ dõi nhìn; chẳng sinh linh nào hoảng loạn cả, trừ khi có một bóng dáng con người xuất hiện.

Nhưng xin đừng ai nghĩ rằng hồi trẻ tôi đã nghĩ được những điều sâu xa ấy, bởi khi đó tôi nào biết cách suy tư. Trái lại, tôi còn lấy làm tự hào trước nỗi kinh hoàng mà mình gieo rắc khắp những chốn quạnh hiu này—những nơi mà chính tôi cũng sẽ chết khiếp nếu có thứ gì thình lình xông ra. Thật thi vị biết bao khi ngắm nhìn cây cối ấp ủ hy vọng cho một năm mới dẫu còn đang lặng câm, nhìn dòng nước rì rào vui tươi và đôi bờ trải rộng vẻ ấm êm; nhưng một đứa con trai thì chẳng để tâm đến mấy chuyện đó, trừ phi nó sinh ra để làm thi sĩ (điều mà Thượng đế chẳng bao giờ gán cho tôi), và nó thà có một quả táo ngon, thậm chí một quả táo ủng ăn trộm được, còn hơn.

Đi được chừng hai dặm, chốc chốc lại bị cái lạnh khuất phục khiến tôi phải trèo lên bờ xoa bóp hai chân cho nóng lên, và chỉ câu được chỗ này chỗ kia vì nước chảy xiết cuồn cuộn; bỗng nhiên, tại một khoảng đất trống có đồng cỏ vây quanh, tôi thấy một dòng nước lớn chảy êm ả hòa vào lòng con suối của chúng tôi. Và theo như tôi đoán định qua lực nước quét dưới xương bánh chè của mình, nó mang theo một lượng nước trong vắt hùng hậu hơn cả dòng Lynn; chỉ có điều nó chảy xuôi lặng lẽ hơn, không bị vướng bận bởi những bậc đá gập ghềnh như số phận của dòng Lynn, mà trôi đi êm đềm và mạnh mẽ như thể mang theo một mục đích kiên định nào đó.

Thấy vậy, tôi dừng lại suy tính, trong lòng đầy nỗi đắn đo; bởi nước lạnh thấu xương và những ngón chân bé nhỏ của tôi đã bắt đầu đau nhức. Thế là tôi ngồi lên bờ, lấy một đọt tầm ma non chà mạnh vào chân cho ấm lại, rồi nhảy choi choi một hồi, bụng dạ bỗng thấy thèm ăn.

Toàn bộ bước ngoặt của cuộc đời tôi phụ thuộc cả vào khoảnh khắc ấy. Nhưng khi ngồi đó gặm mẩu bánh mì đen ngọt bùi của chị Betty Muxworthy cùng một miếng thịt xông khói nguội ngắt, chân gõ gõ đôi gót đỏ ửng vào nền đất mùn khô ráo cho đỡ lạnh, tôi chẳng biết gì về những biến cố đang chực chờ trên đầu mình hơn lũ cá dưới mũi xiên kia. Quay về tay không và bảo với Annie rằng chẳng có con chạch nào thì thật đáng buồn; nhưng dấn bước lên dòng Bagworthy, nơi chẳng người lớn nào dám bén mảng, lại là một việc kinh thiên động địa đối với những gì tôi biết về nó. Xin hãy nhớ cho rằng thuở ấy tôi chỉ là một đứa trẻ, tuy rất tò mò trước những điều mới lạ nhưng chưa đủ bản lĩnh đàn ông để đương đầu.

Tuy nhiên, càng ăn nhiều, nhuệ khí trong tôi lại càng dâng cao; tôi nghĩ đến người cha quá cố của mình và nhớ lại việc ông từng răn dạy tôi hàng trăm lần rằng không bao giờ được làm kẻ hèn nhát. Người tôi nóng bừng lên, trái tim non nớt thấy xấu hổ vì những nhịp đập thảng thốt của chính mình, và tôi tự nhủ: “Giờ đây nếu cha có dõi nhìn, người sẽ thấy ta vâng lời người.” Thế là tôi lại quàng túi cá ra sau lưng, thắt khóa quần chẽn cao hơn đầu gối đề phòng nước sâu hơn, rồi băng qua dòng Lynn, dũng cảm bước ngược dòng dưới những cành cây rủ bóng u ám trên sông Bagworthy.

Tôi thấy cây cối nơi đây đan cài chằng chịt, cành nhánh vặn vẹo rách bươm vì bụi rậm gai góc, nhưng lòng suối lại không nhiều đá lởm chởm như dòng Lynn mà có phần bằng phẳng hơn. Có những rào cọc xước xát chìa từ bờ ra chắn ngang nửa dòng chảy, những khóm rong rỗng ruột bồng bềnh trôi dạt, và những nhánh cỏ nước năm ngoái rung rinh nơi vùng nước lặng tựa mạng nhện chăng trên nền tĩnh lặng trong vắt, ánh lên sắc lục ô liu chập chờn. Thảng hoặc ánh mặt trời lọt qua kẽ lá như được rây lọc, nhảy múa trên từng làn sóng và in bóng lung linh xuống đám sỏi cuội.

Ở đây, dẫu đôi lúc hoảng sợ trước những khúc nước sâu hoắm, đen ngòm và cảm giác mỗi bước tiến lên có thể sẽ chẳng bao giờ quay lùi lại được nữa, nhìn chung tôi đã có một buổi săn cá chạch, cá hồi và cá đao rất mãn nguyện; con thì tôi phóng xiên, con thì tôi luồn tay thọc mép đá bắt sống, con thì tôi lùa vào những ngách cạn rồi hớt lên bờ. Giờ đây, nếu từng đi câu cá, hẳn bạn sẽ chẳng ngạc nhiên khi thấy tôi cứ bị cuốn đi, quên sạch mọi hiểm nguy và chẳng thèm đoái hoài gì đến thời gian, chỉ biết reo hò ầm ĩ như con nít mỗi khi tóm được một “chú kềnh” (như cách tụi tôi ở Tiverton gọi những con cá lớn); và quả thực ở đây có những con chạch tuyệt đẹp, vì chúng có nhiều chỗ trú ngụ và ẩn nấp hơn dòng Lynn gập ghềnh hung dữ, dẫu chưa to bằng cá ở sông Lowman—nơi tôi từng bắt được những con nặng tới nửa pound.

Thế nhưng đáp lại mọi tiếng reo hò của tôi chẳng hề có một thanh âm nào khác, ngoài tiếng vọng dội lại từ vách đá, một cánh chim hoảng hốt vỗ cánh bay đi, hay tiếng tõm bất ngờ của một chú chuột nước lặn sâu; và khung cảnh càng lúc càng rậm rạp, vòm cây bên trên càng lúc càng tối sầm, đến mức tôi nghĩ có khi lũ cá lại có cơ may xơi tái tôi thay vì tôi xơi tái chúng.

Bởi lẽ lúc này ngày đã tàn nhanh sau rặng đồi nâu sẫm, và những thân cây trơ trụi khẳng khiu trông như những gã khổng lồ lăm lăm chực đánh tôi. Từng khoảnh khắc trôi qua, khi bầu trời quang đãng báo hiệu một đợt sương giá trắng xóa sắp buông xuống, cái lạnh của làn nước càng trở nên buốt giá khôn cùng, khiến tôi chực òa khóc. Và thế là, trong tình cảnh thảm hại ấy, tôi bước tới một khoảng hở giữa những bụi cây, nơi một vực nước đen ngòm khổng lồ hiện ra ngay trước mắt, đôi bờ phủ một màu trắng xóa như tuyết (theo tôi tưởng), mãi sau tôi mới nhận ra đó chỉ là lớp bọt nước xối xả tụ lại.

Bấy giờ, dẫu bơi lội rất cừ và chẳng ngán độ sâu nào một khi đã đàng hoàng xuống nước, tôi chẳng hề muốn trầm mình ngập đầu ngập cổ vào cái vực sâu hoắm này chút nào, bởi tay chân đã mỏi nhừ, cứng đờ vì chuột rút, và lạnh thấu xương tủy dẫu tôi mới chỉ ướt đến ngang hông—chưa kể hai cánh tay và bờ vai. Vẻ ngoài của cái hố đen ngòm ấy đủ để ngăn bất kỳ ai dám lao đầu xuống, ngay cả vào một ngày hè oi ả ngập tràn ánh nắng trên mặt nước; ý tôi là, nếu nơi này từng có mặt trời chiếu rọi. Đằng này, tôi rùng mình thoái lui; không chỉ bởi bản thân vực nước và bầu không khí hắc ám bao trùm quanh nó, mà còn bởi cái cách nước xoáy tròn cuồn cuộn, kéo theo những dải bọt trắng thành những vòng tròn sọc vặn xoắn tít mù, trong khi tâm xoáy lại phẳng lặng và đen nhánh như đá huyền.

Nhưng tôi nhanh chóng nhận ra nguyên do tạo nên sự xao động cùng độ sâu của cái hố khổng lồ ấy, cũng như tiếng gầm rống đã khiến tôi kinh ngạc từ lâu. Bởi khi men theo một bên bờ—chẳng mấy dễ chịu gì vì vách đá dựng đứng cao ngất còn gờ đá dưới chân lại quá hẹp—tôi bỗng sững sờ trước một cảnh tượng kỳ vĩ ngoài sức tưởng tượng. Kìa! Tôi đang đứng dưới chân một máng trượt nước dài dằng dặc, bàng bạc tuôn chảy êm ru về phía tôi, không một chút đứt đoạn hay chướng ngại suốt cả trăm thước hoặc hơn, hai bên được bao bọc bởi vách đá dựng đứng, thẳng tuột và bóng nhẫy. Nước không chảy, không rơi, cũng chẳng bắn tung tóe thành tia, mà trượt thành một con dốc phẳng lì, tựa hồ vừa được chải chuốt hay bào nhẵn, trông như một tấm ván gỗ thông bắc dọc theo một cầu thang đen ngòm sâu thẳm. Tuy nhiên, nơi ấy tuyệt nhiên không có tay vịn, cũng chẳng có chỗ nào để đặt chân, chỉ có lòng máng rộng chừng một sải và những bức tường đá dựng đứng che khuất cả ánh hoàng hôn.

Cảnh tượng nơi này gây nên một nỗi kinh hoàng thảm hại, làm tôi khiếp đảm đến mức sẵn sàng đánh đổi bất cứ giá nào chỉ để được ở nhà lúc này, có Annie đang nấu bữa tối cho tôi và chú chó Watch ngước mũi hít hà. Nhưng ước ao cũng chẳng ích gì; bài học đó tôi đã thấu suốt từ lâu; và nó chỉ khiến người ta thêm nhụt chí mà thôi. Thế là tôi bèn ngồi lại tự hội ý với chính mình; không phải để lãng phí thời gian, mà chỉ vì tôi cần nghỉ ngơi và nhìn nhận sự việc cho thật rõ ràng.

Đoạn tôi tự nhủ: “John Ridd, những cây cối, vực nước, ghềnh đá quạnh hiu và ánh hoàng hôn tắt lịm này đang biến mày thành một kẻ nhát gan thảm hại đấy. Mày định vác mặt về gặp mẹ thế này sao, để rồi được gọi là cậu con trai không biết sợ của mẹ ư?”

Dẫu vậy, tôi cũng thẳng thắn thừa nhận rằng chẳng phải lòng tự ái cao đẹp gì đã đưa tôi đến quyết định cuối cùng; bởi lẽ quay lại cũng nguy hiểm gần bằng đi tiếp, và khéo còn tốn sức hơn vì đường về quá đỗi quanh co. Nhưng điều thực sự ngăn tôi quay đầu lại chính là một sự tò mò kỳ lạ, rất không nên có ở một đứa bé còn ít tuổi; tóm lại, tôi sẵn sàng liều lĩnh một phen để biết điều gì đã khiến dòng nước tuôn trào như thế, và có cái gì đang ngự trị ở trên đỉnh kia.

Bởi vậy, biết trước một cuộc chiến cam go đang đợi mình, tôi siết chặt lại chiếc quần chẽn, mỗi khóa cài thắt thêm một nấc, vì dây đai sũng nước đã giãn dài ra, và có lẽ hai chân tôi cũng teo tóp lại vì giá rét. Đoạn tôi buộc chặt túm cá quanh cổ hơn, không dám dừng lại nhìn ngó nhiều vì sợ nỗi hãi hùng trỗi dậy, rồi bò qua chạc đá nơi nước đã khoét mòn phiến đá; tránh gờ đá nơi dòng thác dựng đứng như bờm một con ngựa trắng đổ ụp xuống vực đen sâu thẳm, tôi nhẹ nhàng thả chân vào chỗ trũng nơi dòng nước đang cuồn cuộn lao đi.

Thế nhưng tới đây tôi mới thấy mình tính già hóa non, dẫu trước đó cứ ngỡ mình khôn khéo lắm; suýt chút nữa là tôi đã bị cuốn phăng xuống vực nước đen ngòm kia và vĩnh viễn bặt vô âm tín; âu đó đã là dấu chấm hết cho đời tôi nếu không nhờ có cây xiên bắt chạch trung thành. Một ngọn sóng xanh ngắt đổ ập xuống đầu tôi tựa những bình nước khổng lồ trút xuống, hai chân tôi bị cuốn bẫng đi trong tích tắc; tôi chẳng kịp kêu lên kinh hãi, chỉ kịp nghĩ đến mẹ và Annie rồi bị đập đầu đau điếng, đầu óc quay cuồng đến mức dẫu có chút trí khôn nào thì lúc ấy cũng thành vô dụng. Nhưng ngay trong khoảnh khắc ngỡ như sắp chết đến nơi giữa tiếng nước gầm thét dữ dội, tạ ơn Chúa, mũi xiên của tôi đã cắm chặt vào khe đá, và tôi được nó giữ lại. Tôi chẳng cảm thấy gì ngoài ý nghĩ rằng lại có một trận chiến mới bắt đầu; và có lẽ cũng đáng, hoặc chẳng đáng, để liều một phen sống mái. Nhưng rồi làn nước tạt thẳng vào mặt làm tôi tỉnh táo lại, tâm trí dần quen với tiếng ầm ào, và tôi chợt thấy tình cảnh này xem ra vẫn còn dễ thở hơn lần đầu tiên bị quẳng xuống sông Lowman.

Bởi thế, tôi từ từ thu hai chân lại như thể đang kéo hai con cá lên bờ, hễ thấy nước xối quá mạnh vào xương ống chân là tôi dừng lại, cẩn thận di chuyển sao cho chân không thò ra ngoài kẻo bị sóng dữ tóm lấy. Cứ thế, tôi tìm được điểm tựa vững chãi, rướn người về phía trước như một con ngựa kéo xe, lấy toàn bộ sức bình sinh làm điểm cân bằng với cán gậy gỗ tần bì chống vững vàng phía sau. Tôi bèn tự nhủ: “John Ridd, mày chuồn ra bằng lối cũ càng sớm thì càng tốt cho mày đấy.” Nhưng hỡi ôi, trước sự kinh hoàng tột độ của tôi, chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải trèo lên ngọn đồi nước kia bằng mọi giá, bằng không sẽ bị cuốn trôi xuống vực xoáy cho đến khi chết đuối. Bởi lẽ tuyệt nhiên không có đường quay lại lối tôi đã lội xuống, còn phía bên trên là bức tường đá sừng sững kẹp hai bên lòng thác, cao tới cả trăm thước, mà khéo là năm trăm thước cũng nên, chẳng có lấy một chỗ để đặt chân.

Sau khi lẩm nhẩm Kinh Lạy Cha (bài kinh duy nhất tôi thuộc) một cách vụng về và vội vã, tôi nắm chặt cán gậy bắt chạch ngay dưới một mắt gỗ, lấy tay trái tì làm điểm tựa, rồi thở dài một tiếng tuyệt vọng bắt đầu hành trình ngược dòng thác dữ kinh hoàng. Với tôi, máng nước trượt dài phía trên dường như phải xa tới nửa dặm, nhưng thực tế sau này tôi mới biết nó chỉ dài hơn một furlong đôi chút. Đó hẳn là một chặng leo gian nan ngay cả khi không có lớp rêu trơn trượt và sức nước ngàn cân dội xuống, và tôi thực sự chẳng có mấy hy vọng sẽ chạm tới đỉnh. Dẫu vậy, nỗi sợ hãi đã biến mất khi tôi phải đối mặt trực diện với hiểm nguy cùng cực; tôi dồn hết sức bình sinh với một sự ngoan cường và sắt đá mà lúc ấy tôi không ngờ tới, nhưng mãi về sau này vẫn khiến tôi phải kinh ngạc.

Nước chỉ sâu chừng sáu inch, cùng lắm là đến chín inch, và suốt dọc đường leo lên tôi có thể thấy đôi bàn chân mình trắng bệch ra giữa bóng tối của lòng máng trượt; chốc chốc tôi lại tìm được một chỗ dừng chân để bám vào vách đá thở dốc một hồi. Dần dần khi tiến bước, một ngọn lửa can đảm bừng lên sưởi ấm lòng tôi khi nghĩ rằng có lẽ chưa từng có ai dám vượt qua con đường này trước tôi, và tự hỏi mẹ sẽ nói gì về chiến tích này. Rồi hình bóng người cha cũng hiện về trong tâm trí, và nỗi đau đớn nơi đôi bàn chân dường như tan biến bớt.

Tôi đã thận trọng nhích từng bước một ra sao, hai tay luôn vươn ra phía trước và chẳng bao giờ dám duỗi thẳng đầu gối thế nào, đó là điều tôi không thể kể lại rành rọt, thậm chí giờ đây chẳng muốn nghĩ tới vì nó sẽ ám ảnh vào cả giấc mơ. Tôi chỉ biết thừa nhận rằng mối nguy hiểm lớn nhất lại nằm chính ở nơi tôi ngỡ là an toàn nhất, khi tôi hí hửng chạy ào qua một mảng rong nhớt màu đen đầy tự đắc, vì nghĩ mình đã ở rất gần đỉnh thác.

Chính tại nơi ấy tôi đã ngã một cú thảm hại, suýt nữa thì vỡ cả xương bánh chè, và dòng thác hung hãn lập tức chộp lấy chân kia trong khi tôi còn đang mải xuýt xoa cái chân đau điếng. Tiếp đó, một cơn chuột rút co rút đau đớn chết tiệt khiến tôi tê liệt hoàn toàn; lúc ấy tôi chỉ biết gào thét cho đến khi nước tràn ứ họng, cả thân mình trượt dài xuống dưới. Nhưng chính nỗi kinh hoàng ấy lại kéo tôi tỉnh lại, cùi chỏ tôi mắc kẹt vào một hốc đá; và nhờ thế tôi gượng dậy tiếp tục, với một thái độ khiêm nhường hơn rất nhiều.

Lúc này, trong nỗi hoảng loạn tột độ vì đã đến quá gần đỉnh và niềm hy vọng đang đập liên hồi trong lồng ngực, tôi vận hết sức bình sinh của cả tay lẫn chân, guồng điên cuồng như cối xay gió và thở hồng hộc. Cuối cùng, luồng nước rẽ đôi nơi mép thác đổ ụp xuống xô tôi dạt vào chính giữa dòng; tôi bám trụ lại được một lát bằng các đầu ngón chân trên những dải rong trơn tuột, trời đất chung quanh bỗng hóa màu xanh ngắt và nhẫy nhớt, tôi chẳng dám ngoái đầu nhìn lại phía sau. Tôi đã chuẩn bị tinh thần đón nhận cái chết; bởi như thế đôi chân sẽ không còn nhức buốt và lồng ngực sẽ chẳng còn đau thắt vì hụt hơi; chỉ thấy tiếc nuối biết bao khi đã chiến đấu đến dường này mà phải bỏ cuộc giữa chừng. Nhưng ánh sáng đang rạng ngời phía trước, tôi lại dốc tàn lực lao về phía nó; rồi đột nhiên tôi hít trọn một luồng dưỡng khí trong lành, và ngã nhào về phía trước.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.