
Thường ngày tôi vốn ăn khỏe đến nỗi ngoài mẹ ra chẳng ai thấy cần phải giục tôi ăn, vậy mà vào dạo ấy, mỗi ngày tôi chỉ nuốt trôi nổi một bữa ra hồn. Mẹ tôi thấy thế thì tuyệt vọng lắm, đem hết cả thức ăn ngon trên giá ra dỗ dành, thậm chí còn tính chuyện cho người sang Porlock mời thầy thuốc vốn chỉ ghé qua đó mỗi tuần hai bận; Annie thì tối ngày lui cui dưới bếp, còn Lizzie thì hát cho tôi nghe, bởi con bé hát rất êm tai. Thế nhưng lương tâm mách bảo tôi rằng mụ Betty Muxworthy cằn nhằn cũng có phần đúng.
“Cứ mặc xác thằng ranh con ấy đi, tôi bảo rồi mà. Bày vẽ cho lắm vào, nào dồi lợn, nào giò heo, lại còn thịt cừu non với bánh mì trắng nõn, chưa đến giờ ăn trưa đã bắt uống bia tươi, cửa sổ thì cấm tiệt không cho mở một khe—lũ người các người làm tôi phát điên lên mất, rặt một phường ngốc nghếch. Cứ bỏ đói cho nó một dạo; tước bớt thói chứng tật xấu trong người nó ra thì hơn.”
Nhưng mẹ tôi chẳng nghĩ vậy; bà còn sang mời bác Nicholas Snowe dẫn ba cô con gái tới chơi, thết đãi bánh ngọt với bia trong phòng khách, rồi tiện thể hỏi han về đàn ong dạo này ra sao và chừng nào thì chúng chia đàn. Đang bực bội trong lòng lại phải chôn chân ở nhà gần nửa buổi tối, tôi đâm ra thất lễ đến mức gặng hỏi bác ta (ngay giữa nhà mình mới tệ chứ!) rằng cớ sao mãi không chịu sửa lại cánh cổng rào chắn nơi dòng suối Lynn chảy từ đất nhà tôi sang đất nhà bác, một phận sự vốn dĩ thuộc về bác. Nghe vậy, bác ta liền nhìn tôi bằng nửa con mắt rồi bảo: “Việc nào ra việc nấy, cậu trai trẻ ạ, đừng lôi công việc vào lúc này.”
Sở dĩ dạo này tôi bực mình với bác Nicholas còn vì một lẽ khác: sau một buổi lễ Chủ nhật nọ—cái lúc mà người ta dễ mủi lòng trước tội lỗi của kẻ khác nhất—tôi nghe phong phanh người ta đồn rằng thấy bác Nicholas Snowe đưa mắt nhìn mẹ tôi đầy âu yếm, đúng vào lúc cha xứ đang giảng giải thật truyền cảm và nồng nhiệt về bổn phận yêu thương của người Kitô giáo. Giờ đây, chắp nối chuyện này với chuyện nọ, từ bầy ong, mấy con vịt, cho đến con bò tơ bị vỡ bánh chè, tôi ngờ lắm rằng lão nông Nicholas đang liếc mắt đưa tình với mẹ tôi; chẳng những để trốn tiệt việc sửa giậu rào, mà còn hòng lấn át tôi trong chuyện đắp đập ngăn nước đầy hóc búa. Tôi lại thừa biết mụ vợ của John Fry mỗi bận sang phụ giặt giũ đều không ngớt mồm bảo rằng thật có tội khi một góa phụ ưa nhìn như mẹ, của ăn của để chẳng thiếu mà chỉ vướng bận ba đứa con, lại cứ để cho đám đàn ông quanh vùng ngày đêm tơ tưởng không yên. Mẹ tôi thường gạt đi: “Gớm, bác Fry khéo vẽ! Bác cứ lo việc của bác đi thì hơn.” Thế nhưng mấy anh em tôi lần nào cũng thấy mẹ vuốt lại tạp dề, sửa lại mái tóc ngay sau đó, còn mụ Fry khi về thế nào cũng xách theo một cái móng giò nguội hoặc một liễn mỡ lợn béo ngậy.

Bởi thế, ngay trong đêm ấy, vì không tiện nói thẳng với mẹ kẻo mang tiếng bất hiếu, nên sau khi xách chiếc đèn lồng chuồng ngựa soi đường cho ba tiểu thư—bởi các cô ấy đích thực tự xưng như vậy—về tận nhà, tôi bèn nán lại xin bác Nicholas (vốn đi tụt lại phía sau một đoạn) cho thưa riêng đôi lời trước khi bác bước vào cửa.
“Hân hạnh lắm chứ, con trai,” bác đáp lời vô cùng xởi lởi, bụng bảo dạ chắc tôi định mở lời dạm hỏi con bé Sally.
“Này, bác Nicholas Snowe,” tôi ngập ngừng, chẳng biết phải mở đầu ra sao, “bác phải hứa là không được giận cháu vì những lời cháu sắp nói đấy nhé.”
“Giận mày á! Đâu có, đâu có, con trai. Tao biết bụng mày từ thuở nào rồi. Thầy mày trước kia cũng là bạn thân nhất của tao. Chưa từng làm hại láng giềng, chưa từng buông một lời ác khẩu, bụng dạ chẳng hề có chút ti tiện. Phải lòng một cô gái nết na là ngỏ lời dứt khoát ngay, chẳng để người ta phải đợi chờ, dẫu của hồi môn chẳng có là bao. Nói năng thẳng thắn như một đấng nam nhi, ăn đời ở kiếp với nhau hạnh phúc xiết bao. Than ôi, ngày ấy đâu rồi! Âu cũng là ý Trời. Cả đời này tao chẳng bao giờ gặp lại một người như thế nữa. Mà ông ấy còn là tay sành sỏi nhất cái hạt này về chuyện ủ phân chuồng đấy.”
“Vâng, thưa bác Snowe,” tôi đáp, “bác nói thế thật quý hóa quá. Và giờ cháu cũng muốn giống như thầy cháu, cháu muốn nói thẳng bụng mình.”
“Thế mới phải chứ, con trai; chí phải đấy. Mào đầu thế là đủ rồi.”
“Điều cháu muốn nói là thế này—cháu không chấp nhận bất kỳ ai ve vãn mẹ cháu đâu.”
“Ve vãn mẹ mày á, con trai?” Bác Snowe kêu lên, vẻ kinh ngạc tột độ như thể đó là chuyện hoang đường nhất trần đời; “Ủa, xưa nay có ai làm cái trò ấy đâu?”
“Có đấy ạ, có kẻ đang tán tỉnh mẹ cháu. Và ai làm chuyện đó thì người ấy tự biết rõ nhất.”
“Chà, chà! Con nít ranh giờ lại đòi dạy đời người lớn cơ đấy! Tao cứ tưởng bà ấy mới là người tự định đoạt chứ. Thôi khỏi cần, chú em, chẳng cần đèn của chú đâu. Đường về cửa nhà tao thì tao tự biết; và tao có quyền bước vào đó.” Nói đoạn, bác ta đóng sầm cửa lại trước mũi tôi, chẳng buồn mời lấy một ngụm rượu táo.
Chiều hôm sau, việc đồng áng vừa xong xuôi, tôi đi chăm nom bầy ngựa—bởi dạo này chẳng thể trông cậy vào John Fry được nữa, anh ta con đàn bầy lũ lại thêm mụ vợ đâm chứng hay cằn nhằn—và ngay lúc tôi đang nhẩm tính chỉ còn năm ngày nữa là hết hạn một tháng, tôi sẽ được tự do đi tìm Lorna, thì có một người cưỡi ngựa từ phía chỗ cạn nơi con đường băng qua suối Lynn tiến lại. Thấy người đó không phải Tom Faggus, tôi chẳng buồn bước ra đón, bụng nghĩ hẳn chỉ là khách bộ hành đi Brendon hoặc Cheriton, chắc lại ghé vào xin ngụm sữa hay hớp rượu táo rồi hỏi đường đi tiếp.
Nào ngờ người ấy dừng ngựa ngay trước cổng nhà tôi, đứng thẳng trên bàn đạp, rồi cất tiếng gào toáng lên như thể một bậc tai to mặt lớn; tay không ngừng vung vẩy một mảnh vải trắng xốc xếch trong gió, nom tựa như dải cổ áo của cha xứ. Thấy vậy, tôi bèn băng qua sân để ra nói chuyện.
“Công vụ triều đình!” ông ta quát to; “Thừa lệnh Đức Vua! Lại đây mau, hỡi gã nhà quê cục mịch kia, bằng không sẽ bị phạt vạ và tống giam đấy!”
Dù chẳng lấy gì làm vừa tai, tôi vẫn bước tới như phận sự của một thần dân trung thành; dẫu vậy tôi cứ tà tà mà đi, bởi trần đời này chưa có trang nam tử nào hối thúc nổi tôi, dù với phụ nữ thì tôi luôn sẵn lòng vội vã.
“Trang trại Plover Barrows đây phải không!” ông ta thốt lên; “Chúa chứng giám cho tôi mệt mỏi chừng nào. Rốt cuộc ở cái xứ chết tiệt này có cái nơi chết giẫm nào tên là trang trại Plover Barrows không hả? Suốt hai mươi dặm đường vừa qua, người ta cứ bảo chỉ còn nửa dặm nữa thôi, hoặc chỉ cần rẽ qua khúc quanh là tới. Trả lời ta mau, nếu nhà ngươi không to gấp ba lần ta thì ta đã cho một trận roi rồi.”
“Thưa ngài,” tôi đáp, “ngài chẳng phải nhọc công làm gì. Đây chính là trang trại Plover's Barrows, và chúng tôi rất hoan nghênh ngài ghé lại. Bữa tối nay có món cật cừu, còn bia vừa khui thùng đang sủi bọt trong veo. Nhưng cớ sao ngài lại buông lời nguyền rủa chúng tôi như vậy? Chúng tôi chẳng thích bị mắng mỏ vô cớ đâu.”
“Thôi, ta chẳng có ác ý gì đâu,” ông ta làm lành; “cật cừu thì ngon đấy, ngon tuyệt hảo là đằng khác, miễn là đừng nướng cháy khét. Mười ngày nay ta bị yên ngựa cọ cho trầy da tróc vảy, chưa được bữa ăn nào ra hồn. Cứ hễ nghe quát ‘Thừa lệnh vua’ là người ta lại tống cho ta thứ tồi tệ nhất. Suốt dọc đường từ London xuống đây, có một gã thảo khấu cứ đi trước ta một bước, chén sạch sơn hào hải vị của thiên hạ mà ai nấy đều cúi rạp mình cung phụng. Gã đi ba dặm bằng ta đi một dặm dẫu chẳng thèm thay ngựa giữa đường. Gã muốn cướp sạch ta lúc nào cũng được, nếu ta bõ công cho gã ra tay. Gã cưỡi một con ngựa cái lông hung, hông nở nang và đầu thon gọn. Ta thề sẽ sống để thấy ngày gã bị treo cổ trên giá.”
Vừa nói, ông ta vừa cho ngựa bước qua lớp rơm rải ngoài sân, khó nhọc rút đôi chân mỏi nhừ ra khỏi bàn đạp, dường như còn chưa dám đặt chân xuống đất. Đó là một người đàn ông thô kệch, gương mặt sắt lại, chừng bốn mươi tuổi, vóc dáng tầm thước. Ông ta mặc bộ đồ cưỡi ngựa màu nâu sẫm, bê bết bùn đất Exmoor, nhưng đường kim mũi chỉ khác hẳn kiểu may đo của thợ vườn xứ chúng tôi. Vắt ngang bao súng lục là chiếc áo choàng bằng da thú màu hung đỏ, bóng nhẫy vì mồ hôi ngựa. Khi nhìn xuống chiếc mũ kim loại sáng loáng cứng quắc, đôi mắt nhỏ đảo liên hồi cùng chòm râu đen tỉa nhọn hoắt như chông của ông ta, tôi có cảm giác ông ta khinh khỉnh coi tôi (hơi quá đáng, tôi nghĩ bụng) như một kẻ quê mùa dốt nát chẳng biết sự đời.
“Annie ơi, mang tảng giăm bông xuống đi,” tôi cất tiếng gọi với, bởi em gái tôi vừa tình cờ bước ra cửa, hoặc có lẽ do nghe tiếng vó ngựa ngoài ngõ, “rồi cắt vài lát thịt hươu xông khói nữa nhé. Có khách quý tới dùng bữa tối, Annie ạ. Tiện thể lấy chiếc xiên thông vòi thùng bia để bia chảy ra cho sủi tăm ngon lành.”
“Ta thề sẽ bị đày xuống địa ngục,” người bạn mới của tôi nói, vừa đưa tay áo khoác cưỡi ngựa màu nâu lên quẹt ngang miệng, “nếu ta đã từng gặp được những người tốt bụng như thế này. Cậu quả là người tử tế, không trật đi đâu được. Mọi chuyện này sẽ là điểm cộng lớn cho cậu khi ta lập biên bản. Ít ra là nếu đồ ăn cũng ngon lành đúng như những gì tai ta vừa nghe. Bữa tối này khéo thừa sức thết đãi cả Tom Faggus, cái gã đã nẫng tay trên mọi đồ ăn thức uống của ta dọc đường. Mà này, món thịt hươu xông khói đó có đúng là hươu đỏ hoang dã vùng này không đấy?”
“Dạ thưa ngài, đúng thế ạ,” tôi đáp; “chúng tôi biết kiếm đâu ra loại nào khác bây giờ?”
“Phải, phải, cậu nói chí phải, con trai ạ. Ta nghe đồn thịt loài ấy có hương vị tuyệt diệu lắm. Sáng nay trong màn sương mù, có mấy con nhảy xổ ra làm ta khiếp vía, nhưng cũng khiến ta thèm thuồng mãi từ lúc đó. Ha ha, ta đã thấy cặp đùi nạc của chúng rồi. Cơ mà cô em nhỏ sẽ không quên chứ—cậu có chắc là cô ấy không quên không đấy?”
“Xin ngài cứ yên tâm, em cháu chẳng bao giờ quên bất cứ thứ gì có thể làm khách vừa lòng đâu ạ.”
“Thế thì hay quá, ta giao ngựa cho cậu rồi vào nhà đây. Cái sự sung sướng của cái miệng thì khứu giác đã hưởng trước một nửa rồi. Ấy chết, mải nghe cái lưỡi của cậu gieo hy vọng vào cái bụng vừa mới tuyệt vọng của ta, ta suýt nữa quên khuấy mất công vụ. Ta đói lả và đau nhức khắp người, từ gót chân trở lên, mà cồn cào nhất là chỗ bụng dưới vạt áo chẽn, dẫu vậy ta chưa thể nghỉ ngơi hay cắn một miếng bánh mạch nào chừng nào chưa tận mắt thấy và chạm tay vào John Ridd. Cầu Chúa cho hắn đừng ở quá xa; bằng không thì ta đành phải gặm yên ngựa mà sống mất.”
“Xin ngài đừng lo,” tôi đáp; “ngài đã thấy và chạm vào John Ridd rồi đấy. Cháu chính là anh ta đây, và cháu chẳng phải hạng người lẩn trốn dưới đáy thùng đâu.”
“Có mà phải dùng cái thùng cỡ đại mới úp nổi cậu đấy, John Ridd ạ. Nhân danh Đức Vua Charles Đệ Nhị bệ hạ, xin trao trát này!”
Ông ta chạm vào người tôi bằng vật màu trắng mà ban nãy tôi thấy ông ta vung vẩy, giờ nhìn kỹ mới nhận ra đó là một tấm da cừu, thứ mà người ta hay gọi là giấy da. Tờ giấy được buộc chéo bằng một sợi dây thừng nhỏ, bốn góc niêm phong bằng những mảng sáp xù xì thô kệch. Theo lệnh của viên lính truyền tin (bởi lúc này tôi hoảng quá chẳng còn nghĩ được gì), tôi cạy đống dấu niêm phong nhiều đến mức thừa sức trấn giữ cho một bóng ma lễ Phục sinh khỏi đội mồ sống dậy; và đập vào mắt tôi là tên mình được viết chữ to tướng; lạy Chúa xin đừng bắt con phải chịu một phen kinh hồn bạt vía nào như thế nữa khi về già.
“Đọc đi, con trai; đọc đi, hỡi gã khờ to xác, nếu quả thực cậu biết chữ,” viên công quyền giục giã để trấn an tôi; “chẳng có gì giết chết cậu đâu, chàng trai, kẻo bữa tối của ta nguội ngắt mất. Đừng có trố mắt nhìn ta như thế, đồ ngốc; người cậu to như thế thừa sức nuốt chửng ta đấy; đọc đi, đọc đi, đọc mau lên.”

“Thưa ngài, xin mạn phép hỏi quý danh ngài là gì ạ?” tôi hỏi; dẫu chẳng hiểu sao mình lại hỏi câu đó, có lẽ chỉ vì sợ tà thuật phù phép mà thôi.
“Tên ta là Jeremy Stickles, chàng trai ạ, chẳng qua chỉ là một viên lục sự quèn của Tòa Vương quyền đáng kính mà thôi. Và lúc này đây là một kẻ sắp chết đói, chẳng có hạt gì vào bụng trừ phi cậu chịu đọc cái trát đó.”
Bị thúc ép như vậy, tôi đành đọc, đại ý như sau; không phải tôi nhớ từng câu từng chữ, mà chỉ nắm được phần cốt lõi và trọng tâm—
“Gửi thần dân tốt của trẫm, John Ridd, v.v.”—văn bản mô tả về tôi bằng những lời lẽ tốt đẹp hơn nhiều so với những gì tôi tự biết về mình—“nhân trát này, gửi lời chào. Chiếu theo lệnh này, nhân danh Đức Vua chúa thượng của chúng ta, yêu cầu ngươi phải đích thân trình diện trước các vị Quan tòa Đáng kính thuộc Tòa án Bệ hạ tại Westminster, gác lại mọi công việc riêng tư, để cung cấp những chứng cứ thuộc phạm vi hiểu biết của ngươi, liên quan đến một số vấn đề mà qua đó nền thái bình của Đức Vua tôn kính và sự an nguy của vương quốc này đã, đang hoặc có nguy cơ bị xâm phạm, công kích, đe dọa hoặc tổn hại. Lấy trát này làm bằng.” Phía dưới là bốn con dấu sáp, rồi đến một chữ ký tôi không tài nào đọc nổi, chỉ thấy bắt đầu bằng chữ J và kết thúc bằng vài nét chữ uốn lượn gần như thành hình tròn. Dưới cùng có thêm một dòng chữ viết bằng nét mực khác: “Mọi chi phí sẽ được đài thọ. Việc này khẩn cấp muôn phần.”
Viên lính truyền tin chăm chú nhìn tôi trong lúc tôi cố đọc hết những gì có thể; nom ông ta có vẻ rất khoái chí trước sự sững sờ của tôi, bởi ông ta đã liệu trước điều đó. Rồi chẳng biết làm gì hơn, tôi lại nhìn vào mặt ngoài phong bao, và thấy trên đỉnh viết dòng chữ: “Hỏa tốc, Hỏa tốc, Hỏa tốc! Phụng mệnh Hoàng đế Bệ hạ; phi ngựa không ngừng nghỉ.”
Những ai biết tính tôi hẳn có thể đoán được rằng lúc ấy đầu óc tôi quay cuồng, tai lùng bùng đến nỗi phải bám chặt lấy cái móc sắt đóng dưới mái tranh vốn dùng để móc cào cỏ. Thần trí tôi gần như bay biến sạch trơn, chỉ đinh ninh rằng tai họa này giáng xuống là do ma thuật của Mẹ Melldrum, bởi tôi đã phớt lờ lời cảnh báo của bà mà lại đi tìm gặp Lorna. Thế nhưng viên công quyền lại ái ngại cho tôi, và lo ngay ngáy cho bữa tối của ông ta.
“Này con trai, đừng sợ,” ông ta bảo; “bọn ta có lột da cậu đâu mà hãi. Miễn là cậu khai báo hết sự thật, thì mọi chuyện sẽ... mà thôi, ta sẽ bày cho cậu ngọn ngành, và làm sao để tai qua nạn khỏi trở về bình an vô sự, với điều kiện thức ăn của cậu phải ngon và dọn ra không được chậm trễ.”
“Thưa ngài, chúng tôi luôn dốc lòng thết đãi khách khứa,” tôi nói, “chẳng cần phải mặc cả điều kiện gì đâu ạ.”
Thế nhưng khi mẹ tôi nhìn thấy mảnh giấy da đó (bởi chúng tôi không sao giấu nổi bà), bà ngất lịm ngay xuống luống hoa cẩm chướng ưa thích mà bà đang chăm sóc; và khi chúng tôi lay gọi bà tỉnh lại, bà không ngớt lời than vãn về sự suy đồi của thời thế và lòng người. “Nói gì cũng vô ích thôi; bà thừa biết tỏng chuyện là thế nào rồi, và cả xứ này rồi cũng sẽ biết. Đức Vua nghe tiếng con trai bà nề nếp, hiền lành, siêng năng, lại là chàng trai khỏe nhất nước Anh; mà ngài thì vốn là một kẻ trụy lạc—cầu Chúa tha tội cho miệng lưỡi bà—nên ngài chẳng thể nào yên lòng chừng nào chưa tóm được thằng Johnny tội nghiệp của bà, biến nó thành một kẻ phóng đãng giống như ngài. Và nếu ngài làm thế thật...”—đến đây mẹ tôi lại òa lên khóc nức nở; Annie vội lau mặt cho mẹ, trong khi Lizzie sửa sang lại tà áo cho bà cho ngay ngắn.
Thế nhưng thanh danh của Đức Vua đã được gỡ gạc đôi phần khi bác Jeremy Stickles (thực sự mủi lòng trước cảnh tượng ấy, vả lại bác ta xét cho cùng cũng chẳng phải người xấu bụng) giải thích rõ ràng cho mẹ tôi hiểu rằng Đức Vua ngồi trên ngai vàng đang buồn phiền khôn xiết, chừng nào chưa được diện kiến John Ridd. Rằng danh tiếng của John đã vang xa vạn dặm, cả về tầm vóc lẫn mọi đức hạnh—đến nỗi thật lòng có Chúa chứng giám, Đức Vua cũng phải nghiêng mình thán phục.
Nghe vậy, mẹ tôi ngả lưng vào chiếc ghế bành ngoài vườn, mỉm cười nhìn khắp lượt chúng tôi, và trìu mến nhất là nhìn Jeremy; bà chỉ liếc tôi một cách bẽn lẽn, rồi nghẹn ngào trong ngấn lệ thốt lên: “Bệ hạ sẽ có được thằng John của tôi; Bệ hạ thật là nhân từ: nhưng chỉ trong hai tuần thôi đấy nhé. Tôi chẳng màng tước vị gì cho nó đâu. Với tôi nó chỉ là thằng Johnny; còn với đám thợ thuyền thì cứ gọi nó là Cậu John là đủ rồi.”
Dù mẹ tôi rất đỗi bằng lòng cho tôi lên London, đinh ninh rằng tôi sẽ được thăng quan tiến chức và rạng danh rỡ ràng, nhưng bản thân tôi lại chìm sâu trong vực thẳm u sầu. Bởi Lorna sẽ nghĩ sao về tôi cơ chứ? Thời hạn một tháng đằng đẵng sau bao ngày ngóng trông mòn mỏi vừa mới điểm; nàng tuyệt mỹ nhường ấy hẳn sẽ lặng lẽ ngó xuống thung lũng, vừa e ấp lại vừa sợ tiếp thêm ngọn lửa tình cho tôi; thế nhưng nơi ấy sẽ chẳng có bóng dáng ai đón đợi, và đó há chẳng phải là một sự sỉ nhục ghê gớm đối với nàng sao! Cứ dằn vặt mãi về điều đó và thấy chẳng có cách nào thoát ra được, tôi không tài nào chợp mắt nổi dù chỉ một lát; mặc dù Jeremy Stickles (người ngủ ngay cạnh tôi) ngáy to đến mức thừa sức chia bớt giấc ngủ cho tôi. Bởi tôi cảm thấy bản thân mình dường như đang gánh vác một trọng trách lớn lao; đang ở vào một vị trí được tín nhiệm, có thể nói là vậy; và bổn phận là không được làm phương hại đến sự tín nhiệm đó. Vì ai mà biết được Đức Vua sẽ tra hỏi tôi những gì về gia tộc Doone—và tôi linh cảm rằng chính bọn họ là căn nguyên của sự xuất hiện kỳ quái này—hoặc Đức Vua Bệ hạ sẽ nghĩ sao nếu sau khi nhận được thông điệp từ ngài (được bảo mật cẩn mật dưới bao nhiêu con dấu) mà tôi lại phụ lòng tin ngài dành cho đứa con của một vị ủy viên giáo xứ, rồi dại dột bép xép làm lộ lời ngài ra ngoài?
Có lẽ tôi chẳng mấy khôn ngoan khi tự dựng lên cho mình cả một bức tường rào cản đầy băn khoăn day dứt như thế. Dẫu vậy, tất cả những điều ấy vẫn hiện hữu và đè nặng lên tâm can tôi. Và cuối cùng tôi quyết lòng rằng, ngay cả Lorna cũng không được phép biết lý do tôi ra đi, cũng như chẳng được biết bất cứ điều gì về việc đó; nhưng nàng cần phải biết rằng tôi đã đi xa nhà một thời gian dài, và có lẽ nàng sẽ thấy buồn lòng vì chuyện ấy. Nhưng làm sao để báo cho nàng biết chừng ấy sự tình mà không vi phạm cam kết giữ kín đây?
Cứ vò đầu bứt tai suy nghĩ về điều đó, tôi thiếp đi lúc nào không hay, quá cả giờ thức dậy thường lệ; đến bữa điểm tâm cũng chẳng thấy bóng dáng tôi đâu; và mẹ tôi (vốn thấy chuyện này quá đỗi lạ lùng) đâm ra lo lắng vô cùng. Nhưng bác Stickles đã trấn an bà rằng trát lệnh của nhà vua thường gây ra tác động như thế, và đó lại là một dấu hiệu tốt.
“Này bác Stickles, chừng nào chúng ta phải lên đường?” tôi hỏi khi thấy ông ta đang thơ thẩn ngoài sân ngắm đàn gà tây non đang mải mê mổ thóc và chạy nhảy dưới nắng theo nhịp tiếng kêu cục tác ồm ồm của gà bố. “Ngựa của bác bị kiệt sức nặng rồi, hôm nay khó mà đi đường trường được; còn con Smiler hôm qua vừa phải kéo xe trượt suốt dọc sườn dốc Cleve phía trên; còn mấy con khác thì chẳng con nào thồ nổi cháu đâu.”
“Vài năm nữa thôi,” viên công quyền của nhà vua đáp, ngắm nghía tôi với vẻ đầy mãn nguyện; “thì việc bắt bất kỳ con ngựa nào cõng cậu trên lưng cũng đều là một tội ác tày đình đấy, John ạ.”
Bác Stickles đến lúc này đã trở nên vô cùng thân mật với gia đình tôi, bác gọi tôi là “Jack”, gọi Eliza là “Lizzie”, và cái điều tôi ghét nhất trần đời là bác gọi cô em Annie xinh đẹp của tôi là “Nancy”.
“Chuyện đó là do ý Trời định đoạt thôi, thưa bác,” tôi đáp lại bằng giọng khá gay gắt; “và con ngựa phải chịu khổ cũng chẳng phải ngựa của bác. Nhưng cháu muốn biết chừng nào chúng ta mới khởi hành chuyến đi đằng đẵng lên thành London. Cháu thấy việc này dường như vô cùng khẩn cấp và gấp rút lắm mà.”
“Đúng thế, tất nhiên là vậy rồi, con trai ạ. Nhưng ta thấy đằng kia có một con gà tây tơ, cái con đi khập khiễng ấy, (nếu ta không nhầm về loài gia cầm) thì đem quay vào ngày mai chắc tuyệt lắm đây. Mẹ cậu cũng cần có thời gian chuẩn bị chứ: thế là hoàn toàn hợp lý. Nào, tối nay hãy làm thịt con gà tây đó đi (vì cái vẻ béo mẫm của nó làm ta thèm thuồng quá rồi), trưa mai chúng ta sẽ đánh chén nó, có khi kèm thêm một con cùng đàn nữa; rồi bữa tối làm thêm vài lát thịt hươu đỏ nướng, thế rồi đến sáng thứ Sáu, nhờ ơn Chúa che chở, chúng ta sẽ hướng thẳng ra đường cái quan, phụng mệnh Bệ hạ.”
“Ấy, nhưng thưa ngài,” tôi run giọng hỏi dồn, lòng cồn cào tha thiết muốn gặp Lorna; “nếu công vụ của Bệ hạ có thể hoãn đến thứ Sáu, thì liệu có hoãn thêm đến thứ Hai được không ạ? Nhà cháu có một lứa lợn sữa trắng phau mập mạp tuyệt hảo, đến thứ Sáu này là tròn sáu tuần tuổi. Lợn mẹ không đủ sữa nuôi cả đàn, nên cần phải đem quay một con. Bác không nghĩ rằng để cánh đàn bà tự tay xẻ thịt con lợn ấy thì tiếc lắm ru?”
“Jack con trai ta ơi,” bác Stickles đáp, “đời ta chưa từng được ở một nơi nào tuyệt vời như chốn này; và Chúa cấm ta không được mang ơn bạc nghĩa với Người mà vội vã cất bước ra đi. Mà giờ nghĩ lại, thứ Sáu chẳng phải là ngày lành để những người ngoan đạo bắt đầu một chuyến đại sự. Trưa mai ta sẽ đích thân chọn chú lợn con, đúng vào lúc chúng hay nô đùa nhảy nhót nhất; và chúng ta sẽ ăn mừng sinh nhật nó bằng cách xẻ thịt nó vào ngày thứ Sáu. Sau đó, chúng ta sẽ thắt chặt lưng buộc bụng, rồi khởi hành thật sớm vào sáng thứ Bảy.”
Thế nhưng điều này đối với tôi cũng chẳng khá hơn việc lên đường ngay lập tức là bao. Bởi Chủ nhật mới là ngày đầu tiên tôi có thể đường hoàng bước chân vào Thung lũng Doone. Dù tôi đã đem hết mọi lẽ ra nài nỉ bác Jeremy Stickles, hứa sẽ thết đãi bác bất cứ con vật nào có trong trang trại cho bữa trưa, bác ta cũng chẳng dám dời ngày khởi hành muộn hơn thứ Bảy. Chẳng qua chỉ vì quý mến gia đình tôi và cảm kích lòng hiếu khách này mà bác mới chịu nấn ná lại đến tận hôm đó. Do vậy, cơ hội duy nhất để tôi được nhìn thấy Lorna trước khi đi là đứng rình trên vách đá và dõi mắt tìm nàng, hoặc ngóng trông một tín hiệu nào đó từ phía nàng.
