
Chuyện xảy ra vào một chiều tháng Mười Một (hồi ấy tôi chừng mười lăm tuổi, vóc dáng lớn nhanh như thổi vượt cả sức lực bản thân, còn em gái Annie vừa bước sang tuổi mười ba; dạo đó mưa tuôn xối xả mấy ngày liền, máng nước ngoài sân ngập tràn trề, vỏ cây từ các đống củi bị cuốn trôi theo rãnh nước, đến cả dòng nước từ máng xối nhà tôi cũng ngả màu nâu đục), đàn vịt ngoài sân bỗng kêu quàng quạc inh ỏi, chẳng chịu nối đuôi nhau vào chuồng như mọi bận. Thấy lạ, Annie và tôi liền chạy ùa ra xem có chuyện gì. Cả thảy có mười ba con vịt, trong đó mười con trắng như hoa loa kèn (thời ấy người ta chuộng giống vịt này), ý tôi không phải là hai mươi ba con đâu, mà chỉ là mười con trắng với ba con khoang nâu thôi; chẳng màng đến màu lông, con nào con nấy đều cất tiếng quác quác nghe ai oán lạ lùng. Chúng chĩa những chiếc mỏ vàng óng (nhưng lấm lem bùn đất, như vàng thật cũng hay vấy bẩn) lung tung khắp chốn, nhảy cẫng trên những bàn chân màng hình tam giác, lỗ mũi phì phì ra hơi; vài con quá đỗi hoảng loạn còn chúi rạp sát đất mà chạy, chiếc mỏ cứ há ra khép lại liên hồi, để lộ cả vòm họng bên trong, miệng kêu la thảm thiết.
Annie bắt đầu cất giọng dỗ dành: “Vịt con ơi, ngoan nào, ngoan nào,” theo điệu hát mà lũ vịt dường như đã mặc định coi là bài quốc ca của giống loài mình; thế nhưng thay vì chịu êm dịu lại, chúng lại quác to gấp ba lần, rồi chạy vòng quanh khiến chúng tôi hoa cả mắt. Đoạn chúng đồng loạt lắc lắc đuôi, vẻ mặt hết sức nghiêm trọng, rồi lại tiếp tục nháo nhác chạy vòng quanh. Xưa nay tôi vốn mê giống vịt vô cùng, từ vịt quay, vịt đang nướng cho tới lũ vịt sống nhảy nhót huyên náo; nhìn chúng đi lạch bạch nối đuôi nhau, các ngón chân xòe ra như lính duyệt binh, đôi mắt ti hí đảo lia lịa khắp bốn phương tám hướng, rồi cái cách chúng chúi mỏ mò mẫm, vầy nước, ngửa cổ tận hưởng điều gì đó rồi ríu rít khoe với đồng loại, thật là một cảnh tượng thú vị. Bởi thế, nhìn bộ dạng nháo nhác của chúng, tôi biết ngay ắt hẳn thế giới loài vịt đã xảy ra chuyện chẳng lành. Em gái Annie cũng nhận ra điều đó, thậm chí còn nhanh nhạy hơn tôi; con bé đếm đàn vịt như một cô chủ tháo vát, và chỉ thấy có mười ba con, trong khi rõ ràng phải đủ mười bốn con mới đúng.
Thế là chúng tôi bắt đầu đi tìm, lũ vịt lật đật chạy dẫn đường như thể chúng lặn lội lên tận đây cốt để gọi chúng tôi; và khi lần xuống góc sân nơi có hai cây tần bì lớn sừng sững bên con lạch nhỏ, chúng tôi mới hiểu căn nguyên nỗi khẩn thiết và sầu thảm của bầy vịt. Kìa! Chú vịt đực già màu trắng, bậc gia trưởng của cả đàn, một gã chim đực đầy phong nhã và mãnh tướng, luôn là kẻ sau cùng thò mỏ vào máng cám mạch nhưng lại là kẻ tiên phong quyết chiến nếu có con chó hay chú gà trống nào dám xâm phạm gia quyến—cái kẻ cừ khôi, rường cột của cả cơ đồ ấy—giờ đây đang lâm vào cảnh ngộ thảm thương, dẫu vậy miệng vẫn quác quác kháng cự kiên cường. Con suối nhỏ mà chú vốn thân thuộc từ thuở lông tơ, nơi chú vẫn quen mò sa giông, nòng nọc, ấu trùng cánh lông cùng đủ thứ mồi ngon khác—con suối mà ngày thường dòng nước nông choèn chẳng đủ cho chú ngụp lặn, đôi khi còn làm khô héo cả đám cải xoong—thì nay cuồn cuộn đổ về một dòng lũ nâu ngầu bọt dữ dội, như thể đôi bờ chưa từng thuộc về nó. Bọt tung trắng xóa, tiếng gầm vang rền, sóng dâng chồm qua các góc ngoặt nhấp nhô chẳng khác nào sóng biển, đủ sức làm khiếp vía bất kỳ con vịt nào, dẫu cho có sinh ra giữa chốn ba đào đi chăng nữa, huống hồ vịt nhà tôi chưa từng nếm trải cảnh ấy bao giờ.
Ở đó thường có một tấm rào thưa dài sáu bộ, cao bốn bộ rưỡi, hai đầu móc xích treo vào một thân sồi vắt ngang dòng nước. Tấm rào này dùng để ngăn đàn bò nhà tôi lúc vắt sữa khỏi lội xuống đó uống nước rồi đi lạc (bởi chúng kén ăn uống lắm), đồng thời chặn đàn gia súc lạ hoặc bầy ngựa của nông điền Snowe men theo lòng suối lén lút sang ăn trộm hoa màu. Thế nhưng lúc này tấm rào ấy—vào mùa hè vốn treo cách mặt nước lăn tăn chừng một bộ—lẽ ra đã bị dìm sâu hơn hai bộ dưới nước nếu không có sức cản khủng khiếp chống lại nó. Dòng thác lũ đổ xô mạnh đến nỗi những sợi xích căng hết cỡ kêu ken két, tấm rào bị quật gần như nằm rạp xuống, rác rưởi trôi giạt phủ lên kín mít như lợp mái tranh, dập dềnh lên xuống theo từng đợt sóng đỏ ngầu giận dữ. Nhưng thảm thương nhất là giữa hai thanh rào, nơi đám lau sậy, củi mục, thân cần tây dại và hoa mao lương chết trôi dồn lại thành một mớ bòng bong, chẳng phải ai khác mà chính là cụ vịt đực đáng kính của chúng tôi đang bị kẹt cứng khớp vai vào đó; chú cứ trồi lên ngụp xuống, chỏm lông đầu sũng nước, chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra, cái đuôi bị dòng nước xô dạt ra xa, miệng không ngừng kêu cứu nhưng chốc chốc lại phải im bặt vì tấm rào sập xuống dìm chú ngạt thở dưới làn nước xiết.
Trong thoáng chốc tôi không nén nổi tiếng cười, bởi khi được một con sóng lớn nâng bổng lên khỏi mặt nước, chú bèn liếc nhìn tôi bằng con mắt độc nhất còn lại (con kia bị mất trong một trận huyết chiến với gà tây), một cái nhìn cầu cứu đầy ai oán, rồi bồi thêm một tiếng quác thật to. Nhưng tôi đoán tiếng kêu ấy bật ra trật nhịp, bởi nước tràn ộc vào họng ngay khi tấm rào kéo chú chìm trở lại. Kế đó, người ta hầu như chẳng còn thấy mảy may túm lông đuôi của chú đâu, mãi cho tới khi chú lại đu đưa trồi lên; nhìn cái điệu sặc sặc nước, chẳng thể cất nổi tiếng quác nào nữa và cái mào ủ rũ cụp xuống, rõ ràng chỉ một phút nữa thôi là chú sẽ chết đuối, làm mồi cho lũ ếch nhái hả hê bên xác chú.
Annie òa khóc, đôi bàn tay vặn vẹo cuống cuồng, còn tôi đang toan liều mình nhảy xuống nước dẫu nhìn dòng lũ cũng phát hãi, nhưng bụng bảo dạ sẽ cố bám vào tấm rào, thì bất thình lình một người cưỡi ngựa từ góc hàng rào tần bì lớn bên kia bờ suối phi vòng tới, vó ngựa đã ngập dưới làn nước.
“Khoan đã!” người đó quát lớn; “Lùi lại mau, cậu bé! Dòng nước lũ này sẽ cuốn phăng cháu đi như cọng rơm đấy. Để ta lo cho, dễ ợt ấy mà.”

Dứt lời, anh cúi người về phía trước, thủ thỉ với con ngựa cái—nàng ngựa tơ tuyệt đẹp, mang sắc lông hồng dâu tây rực rỡ—nó cong cổ lên vẻ ngần ngại trước công việc hiểm nguy này; dẫu vậy, vì tin tưởng chủ, nó vẫn chịu dấn bước. Nàng ngựa bước xuống dòng lũ, đôi chân trước thon thả choãi dài về phía trước, đôi tai thanh tú dựng đứng, đôi mắt to tròn mở lớn hơn, nhưng người cưỡi dùng lực đầu gối giữ cho nó đi thẳng giữa dòng nước cuộn đục ngầu. Khi sức nước mỗi lúc một mạnh, nàng ngựa quay đầu nhìn lại đầy ngờ vực, nhưng nghe anh giục tiến lên, nó lại dấn bước; nước réo bọt trào cả qua vai, nó hất môi khinh miệt con nước dữ, bởi lòng can trường trong nó giờ đã bừng tỉnh. Đoạn, khi dòng lũ xô mạnh cuốn nó đi và đôi chân trước bơi đạp xuôi dòng, người kỵ sĩ nghiêng mình khỏi yên ngựa với một tư thế mà tôi chưa từng nghĩ con người có thể làm được, bàn tay trái của anh chộp lấy cụ Tom già, đặt chú vào giữa bao súng lục, rồi mỉm cười trước tiếng quác cảm ơn yếu ớt của chú. Trong chớp mắt, cả người lẫn ngựa đều bị cuốn xuôi dòng; người kỵ sĩ rạp mình sát lưng ngựa, gạt phăng tấm rào chắn ra xa rồi hướng về khúc ngoặt nơi mặt nước êm ả hơn.
Họ cặp bờ ở quãng dưới, cách đó chừng ba bốn mươi thước, ngay giữa vườn rau nhà tôi nơi đang trồng bắp cải mùa đông; dù Annie và tôi đã chui qua hàng rào chạy tới, miệng rối rít cảm ơn và nhìn anh đầy vẻ ngưỡng mộ, anh chẳng buồn đáp lại chúng tôi nửa lời cho đến khi đã trò chuyện cặn kẽ với con ngựa, như thể đang giải thích tường tận mọi sự cho nàng nghe.
“Cưng à, ta biết tỏng là em thừa sức nhảy qua mà,” anh vừa vỗ về má ngựa vừa bảo, lúc này anh đã xuống đất, còn nàng ngựa thì dụi đầu vào người anh, nước từ mình nó chảy tong tỏng; “nhưng ta có lý do chính đáng mới bắt Winnie yêu dấu phải lội qua dòng nước đấy chứ.”
Nàng ngựa đáp lại lời anh thật dịu dàng bằng ánh mắt êm ái, nhìn anh đầy âu yếm, và giữa họ dường như có một sự thấu hiểu tuyệt đối. Đoạn anh rút từ túi áo gi-lê ra hai hạt tiêu đen, bắt chú vịt già nuốt trọn, rồi nhẹ nhàng đặt chú đứng thử lên chân ngay chỗ khoảng hở trên hàng rào. Cụ Tom gượng đứng dậy hết sức dũng cảm, vỗ vỗ đôi cánh, rũ sạch nước trên lông đuôi; rồi chú lật đật chạy tót vào sân, cả gia quyến liền xúm xít vây quanh, tất cả cùng cất lên những âm thanh râm ran trong cổ họng, vươn thẳng mình dậy, chụm những chiếc mỏ lại với nhau như thể đang tạ ơn Chúa vì cuộc giải thoát kỳ diệu này.
Sau khi cất bao công sức và đứng nhìn đoạn kết của chuyến phiêu lưu ấy, người đàn ông quay sang chúng tôi với nụ cười tươi tắn trên môi, như thể tự thấy buồn cười với chính mình; chúng tôi bước lại gần ngắm nhìn anh. Anh hơi thấp người, tầm cỡ John Fry hoặc nhỉnh hơn một chút, nhưng vóc dáng vô cùng vạm vỡ và nhanh nhẹn, điều đó lộ rõ qua từng bước đi dẫu đôi chân hơi vòng kiềng vì cưỡi ngựa quá nhiều, nom anh như thể sinh ra là để sống trên lưng ngựa. Với một đứa trẻ như tôi, anh trông già dặn lắm, bởi anh đã ngoài hai mươi và râu ria rậm rạp; nhưng thực chất anh chẳng quá hai mươi tư tuổi, vẻ mặt hồng hào tươi tắn, sống mũi ngắn, đôi mắt xanh sắc sảo và dáng vẻ tinh quái, tếu táo như thể cuộc đời này chẳng có gì đáng phải bận tâm. Tuy vậy, anh cũng có nét nghiêm nghị, dứt khoát như tiếng súng nổ nếu có điều gì phật ý; và chúng tôi thừa hiểu (bởi trẻ con vốn nhạy cảm với những điều này) rằng thà chọc cho anh cười còn hơn là chuốc lấy rắc rối với anh.

“Sao nào, hai nhóc tì, há hốc mồm ra nhìn cái gì thế?” Anh đưa tay nựng cằm cô bé Annie xinh xắn, rồi đảo mắt đánh giá tôi từ đầu đến chân mà không hề chớp mắt.
“Ngựa của chú ạ,” tôi dõng dạc đáp, giờ tôi đã là một thiếu niên cao lớn; “cháu chưa từng thấy con ngựa nào đẹp thế này bao giờ, thưa chú. Chú cho cháu cưỡi thử một lát được không?”
“Nhóc nghĩ mình cưỡi nổi nó sao? Xưa nay nó chẳng thèm cõng ai ngoài ta đâu. Nhóc không kham nổi đâu. Thôi đi! Ta chẳng muốn làm hại mạng nhóc đâu.”
“Cưỡi nó ư!” tôi lớn tiếng thách thức đầy kiêu hãnh, bởi trông nó hiền lành và dịu dàng làm sao; “chưa có con ngựa nào sinh ra trên đất Exmoor này mà cháu không thuần phục nổi trong nửa giờ. Có điều cháu chẳng bao giờ cưỡi yên cả. Chú tháo đống đồ da ấy ra khỏi mình nó đi.”
Anh nhìn tôi, huýt sáo một tiếng khô khốc rồi thọc hai tay vào túi quần, nhoẻn miệng cười mỉa mai đến mức tôi không tài nào chịu nổi. Annie bèn túm chặt lấy tôi níu lại khiến tôi bực mình suýt phát điên lên. Anh ta bật cười, gật gù tán thành hành động của con bé. Và điều tồi tệ nhất là—anh chẳng buồn nói thêm câu nào.
“Tránh ra nào Annie, buông anh ra coi! Chú tưởng cháu là thằng ngốc sao, thưa chú? Cứ tin cháu giao nó đây, cháu sẽ không bắt nó chạy kiệt sức đâu.”
“Về khoản đó thì ta bảo đảm chắc chắn, nhóc con ạ. Nó bắt nhóc kiệt xác thì có lý hơn. Nhưng sau trận mưa này thì đất cũng mềm, ngã xuống chẳng đau lắm đâu. Nào, ra ngoài sân đi chàng trai trẻ, kẻo nát hết đám bắp cải của mẹ nhóc. Đống rơm êm ngoài kia sẽ đón nhóc nhẹ nhàng hơn, vì thói kiêu căng ắt phải trả giá bằng cú ngã mà. Ta là anh họ của mẹ nhóc đấy, đang định lên nhà chơi đây. Ta tên là Tom Faggus, ai ai cũng biết tiếng; còn đây là Winnie, nàng ngựa tơ của ta.”
Tôi thật là một kẻ ngốc nghếch khi không nhận ra ngay từ đầu! Tom Faggus, tay tướng cướp lừng danh cõi lộ, và nàng ngựa tơ nòi giống màu hồng dâu của anh! Danh tiếng của nó đã vang xa gần bằng chủ nó rồi; và niềm khao khát được cưỡi nó trong tôi bỗng chốc tăng lên gấp bội, dẫu sau lưng niềm phấn khích ấy nỗi sợ hãi cũng bắt đầu nhen nhóm. Chẳng phải tôi sợ những gì con ngựa có thể làm với tôi theo lối so tài sòng phẳng và mánh khóe loài ngựa, mà là bởi cái vinh quang được ngự trên lưng nó dường như quá đỗi lớn lao đối với tôi; nhất là khi thiên hạ đồn đại rằng nó chẳng phải ngựa tầm thường, mà là một mụ phù thủy đội lốt. Dẫu vậy, nom nó từ đầu đến chân đích thị là một nàng ngựa tơ tuyệt mỹ phi thường, với sải chân mềm mại, độ dốc vai thoai thoải êm ái, bộ lông bóng mượt đọng những giọt nước long lanh, và đôi mắt lồi to ngời sáng ngọn lửa thuần thục ngoan ngoãn. Liệu điều này là do dòng máu Ả Rập phương Đông mới du nhập vào, hay do sắc lông màu kem pha với sắc nâu đỏ của ngựa bản địa đã tạo nên cái màu dâu tây rực rỡ ấy, thì quả thực tôi chịu không tài nào đoán định nổi, bởi tôi vốn chỉ quen thuộc với lũ ngựa thồ làm nông. Lũ ngựa ấy thì đủ mọi hình thù và sắc lông; chẳng bao giờ đoán trước được chúng sẽ ra sao, và có đủ bốn chân lành lặn đã là may mắn lắm rồi.

Ông Faggus nháy mắt một cái, nàng ngựa liền ngoan ngoãn rảo bước theo sau anh; một sinh linh trẻ trung tươi tắn, tràn trề nhựa sống, nhưng sẵn sàng phủ phục tâm hồn trước một kẻ cao hơn mình, và tình yêu có thể dẫn dắt nó làm bất cứ điều gì; như thói thường của giống cái khi họ biết đâu là điều tốt nhất cho mình. Rồi Winnie nhẹ nhàng giẫm lên lớp rơm rạ, bên dưới là lớp phân chuồng mềm mại, đôi chân thanh nhã của nó khẽ nhấc lên lùi lại.
“Vẫn muốn thử chứ hả nhóc?” Tom Faggus dừng bước, nàng ngựa cũng dừng lại theo; cả hai cùng nhìn tôi đầy vẻ khiêu khích.
“Nó có biết nhảy không chú? Bờ suối bên này lấy đà nhảy tốt lắm đấy ạ.”
Ông Faggus cười thầm, quay sang nhìn Winnie để nó cũng hiểu được trò đùa. Còn nàng ngựa, về phần mình, dường như nắm thấu điểm thú vị của trò vui này ở chỗ nào.
“Ý nhóc là chỗ ngã nhào thật êm chứ gì. Thôi được, chắc cũng chẳng hề hấn gì đâu. Ta là người họ hàng với nhà nhóc, ta biết sọ người nhà này cứng thế nào mà.”
“Để cháu trèo lên,” tôi bực tức bảo, vì những lý do nhiều vô kể chẳng tiện giãi bày; “chú tháo cái túi yên lòng thòng kia ra đi. Cháu sẽ cố không bóp nghẹt mạng sườn nó, trừ phi nó giở trò nghịch ngợm với cháu.”
Lời nói đầy ngạo khí của tôi khiến ông Faggus nổi máu tự ái; lúc này John Fry cũng vừa chạy tới, cả Bill Dadds cùng năm sáu người làm nữa. Tom Faggus đưa mắt nhìn quanh một lượt, rồi hoàn toàn chẳng thèm bận tâm đến sự an nguy của tôi nữa. Danh tiếng lẫy lừng của con ngựa đang bị đe dọa, và mạng sống của tôi có xá gì so với điều đó? Vì thói thách thức và sự ngông nghênh ngu ngốc, tôi đã tự đẩy mình vào một cuộc quyết đấu, trong khi đôi chân tôi còn chưa đủ cứng cáp và hai cánh tay thì mềm oặt như con cá trích.
Dường như anh cũng nhận ra đôi chút điều đó dẫu đang bực mình với tôi, bởi anh nói rất khẽ với nàng ngựa tơ, lúc này nó đang bồn chồn khó lòng kiềm chế nổi; nhưng nó thu cánh mũi lại, hòa nhịp thở với hơi thở của anh và làm mọi cách để đáp lời anh.
“Đừng làm mạnh tay quá nhé, em yêu,” anh dặn: “cứ hạ thằng nhóc êm ái xuống đống phân chuồng kia thôi. Thế là đủ bài học rồi.” Đoạn anh tháo yên ngựa ra, và tôi thoăn thoắt trèo lên ngay tắp lự. Ban đầu nó bước đi thật nhẹ nhàng, đôi tai vểnh lên đầy âu yếm, bước chân e ấp làm duyên như thể hài lòng khi thấy một tải trọng quá nhẹ trên lưng, khiến tôi cứ ngỡ nó biết tôi cũng biết cưỡi ngựa đôi chút nên chẳng dám giở trò quậy phá. “Nào, chạy đi, Polly!” tôi hét lớn, bởi tất cả đám thợ làm đều đang đứng nhìn, đúng lúc họ vừa xong việc: “Chạy đi Polly, cho mọi người thấy mày làm được những gì nào!” Vừa dứt lời, tôi thúc mạnh hai gót chân vào sườn nó, và Billy Dadds liền tung mũ lên trời reo hò.
Dẫu vậy, nó vẫn chưa nổi cơn thịnh nộ, dù ánh mắt nó đã làm Annie khiếp vía, còn John Fry phải vớ vội cái cuốc chĩa để phòng thân; nhưng nó bắt đầu uốn mình qua lại, đôi chân trước lực lưỡng co lại như lò xo bị nén, chực chờ trong sự run rẩy dữ dội và bắt đầu toát mồ hôi đầm đìa. Rồi người chủ của nó cất tiếng huýt sáo thanh tao và sắc lẹm, đôi tai nó liền hướng ngay về phía anh; tôi cảm nhận thấy cơ thể nó bên dưới tôi đang gồng xiết lại như một thanh xương cá voi uốn cong, hai chân sau thu gọn dưới bụng, và tôi biết mình sắp gặp đại hạn rồi.
Thoạt tiên, nó chồm dựng đứng thẳng lên không trung, nện thẳng cái gáy vào mũi tôi đau điếng, máu mũi tuôn ra còn thảm hại hơn cả lần bị Robin Snell đấm; rồi nó nện phịch đôi chân trước ngập sâu vào đống rơm, đôi chân sau đá ngược vung lên tận trời xanh. Thấy tôi vẫn dính chặt trên lưng như sáp, bởi máu hiếu thắng của tôi cũng bốc lên ngùn ngụt chẳng kém gì nó, nó liền phi vụt đi mang theo tôi trên lưng, nhanh hơn bất kỳ chuyến đi nào tôi từng trải qua trước đó hay mãi về sau này. Nó lao thẳng đầu vào bức tường đất trát rơm—“Ôi Jack ơi, nhảy xuống mau!” Annie thét lên xé ruột—rồi nó ngoặt ngoắt như một tia chớp đúng lúc tôi ngỡ nó sẽ đâm sầm vào đó, chà xát đầu gối trái của tôi vào mặt tường đau điếng. “Mặc xác tao!” tôi gào lên, quần áo đã rách toang, và lúc này những câu chửi ngắn gọn là hiệu nghiệm nhất—“mày có giết tao thì mày cũng phải chết chung!” Đoạn nó phóng mình nhảy vọt qua cánh cổng sân trong một cú nhảy thót tim, nuốt trọn mọi lời tôi vừa thốt ra vào kẽ răng, rồi vượt qua luôn cả hàng rào cây gai rậm rạp như thể bầu trời chỉ là một hơi thở thoảng qua; rồi nó lao vun vút về phía những đồng cỏ ngập nước, trong khi tôi nằm rạp trên cổ nó như đứa trẻ ôm bầu ngực mẹ, bụng thầm ước giá như mình chưa từng được sinh ra trên đời. Nó lao thẳng tắp ngược ngọn gió, xé toang những đám mây mù quanh mình; tất cả những gì tôi cảm nhận được về tốc độ kinh hoàng ấy chỉ là ánh chớp hãi hùng từ bờ vai cuồn cuộn của nó, và bờ bờm tung bay như rặng cây giữa cơn bão táp. Tôi cảm thấy mặt đất dưới chân đang trôi tuột đi vun vút, không khí bị bỏ lại tít tắp phía sau; hơi thở tôi đứt quãng từng cơn, tôi bắt đầu cầu nguyện Chúa và ân hận vì mình đã hối lỗi quá muộn màng.

Suốt quãng thời gian dài lao đi như xé gió ấy, chẳng còn tâm trí đâu mà suy nghĩ, tôi chỉ biết bám chặt lấy bờm và vai nó, cắm ngập móng tay vào những nếp da thịt, bấm chặt ngón chân vào mạn sườn nó; trong lòng vẫn thấy tự hào vì mình đã trụ vững được lâu đến thế, dẫu biết chắc chắn kết cục mình sẽ bị đánh bại. Bực bội vì thấy tôi vẫn chưa chịu buông tha, nó liền giở một mưu mẹo khác: nó nhảy ngang qua chiếc máng nước rộng, thoăn thoắt nhảy qua nhảy lại liên hồi cho đến khi tôi không còn lấy một chút dưỡng khí trong lồng ngực. Những cành cây phỉ quất chan chát vào mặt tôi đau điếng, bụi tầm xuân gai góc cào rách da thịt, và lưng tôi đau thắt lại như thể người ta đang khứa từng nhát dao trên thân cá; đến mức tôi chỉ muốn buông xuôi, chịu thua hoàn toàn, cứ thế ngã xuống nằm chết giữa đám cải xoong cho xong. Nhưng bỗng có tiếng huýt sáo lảnh lót vang lên từ ngọn đồi gần nhà, nơi mọi người đã đổ xô ra dõi theo chúng tôi; con ngựa liền khựng phắt lại như trúng đạn, rồi quay đầu phi về nhà với tốc độ của một cánh chim én, êm ru và lặng lẽ đến lạ kỳ. Tôi chưa từng mơ thấy một chuyển động nào lại thanh thoát, uyển chuyển và nhẹ nhàng đến thế, êm dịu như làn gió lướt trên ngàn hoa nhưng lại thoăn thoắt tựa ánh chớp mùa hè. Tôi gượng ngồi thẳng dậy, nhưng sức lực đã cạn kiệt hoàn toàn, chẳng còn đủ thời gian để hồi phục; và dẫu cho nó vượt qua cánh cổng nhà chúng tôi nhẹ tựa cánh chim, tôi vẫn lộn nhào rơi tõm ngay xuống đống phân chuồng.
