
Tất nhiên, ngay sáng hôm sau, tôi đã thức dậy trước khi mặt trời tháng Mười ngoi lên, băng qua chốn hoang sơ cùng những dải rừng hướng về phía dòng nước Bagworthy, nơi chân ngọn thác dài. Bình minh nhô lên thật huy hoàng trong cái lạnh quyện lẫn hơi ấm; từ dải ánh sáng rực rỡ đang lan tỏa, mặt trời ghé mắt nhìn xuống, trút bờ vai nặng nề qua rặng núi xám cùng dải cao nguyên trập trùng. Dưới ánh nhìn ấy, những lớp sương mù long lanh ngập ngưng chìm xuống rồi luồn lách vào những khoảng hốc sâu; rồi chúng lặng lẽ rút đi thành hàng thành lối, như những vạt áo thướt tha níu quấn vào các góc trú ẩn yên bình dưới rặng đá rủ bóng xuống thảm cỏ; trong khi đó, những đường nét kiêu hùng của đồi núi dần hiện ra, trôi đi dập dìu nối tiếp nhau.
Rồi những dải rừng bừng thức trong muôn vàn nếp gấp, tựa tấm trướng của núi đồi vừa tỉnh giấc, uy nghi mang theo chiều sâu trầm mặc và ký ức của những trận bão bùng. Bàn tay dịu dàng của mùa thu đã chạm lên chúng, nhuộm trọn từng vạt lá trong sắc vàng, sắc đỏ cùng màu ô-liu; và niềm vui của rừng già hướng về phía thái dương không còn là tình yêu nồng cháy của chú rể, mà là lòng kính ngưỡng dành cho vị cha già.
Thế nhưng, trước khi bóng hình trôi dạt của núi rừng kịp tan biến, luồng ánh sáng hân hoan đã bất ngờ nhảy ngót qua đồi cao thung thũng, rải xuống sắc hổ phách, lam ngọc, tử hường cùng sắc hồng nhung thắm thiết; tùy thuộc vào cảnh vật mà ánh sáng rọi chiếu hay tấm rèm bao bọc chung quanh; song tất cả đều xua tan nỗi sợ hãi cùng móng vuốt gớm ghiếc của bóng đêm, cùng cất cánh trên đôi cánh hy vọng và xướng lên rằng: “Đức Chúa đang ở nơi đây.” Bấy giờ, sự sống cùng niềm vui lại tràn trề vươn lên từ muôn hang hốc tối tăm; từng bông hoa, mầm nụ cùng mỗi chú chim đều cảm nhận được nỗi xao xuyến ấy; và toàn bộ luồng uy lực từ ánh nhìn của Chúa bỗng hòa thành sự bao dung dịu hiền.
Có lẽ một buổi sáng vĩnh cửu cũng sẽ hửng lên với chúng ta như thế, khi vách đá và vực sâu không còn nữa, đồi núi thung lũng lẫn đại dương mênh mông cũng biến tan; khi vinh quang chẳng làm khiếp sợ hạnh phúc, mà hạnh phúc cũng chẳng ganh tị với vinh quang; khi muôn loài đều trỗi dậy và tỏa sáng dưới ánh ngời từ gương mặt Cha, bởi chính Ngài đã tái sinh.
Đấng làm cho mặt trời mọc lên soi chiếu kẻ thiện lẫn người ác. Và quả thực, nếu không nhờ điều nhân từ ấy, thung lũng Doone có lẽ đã chìm trong bóng tối vĩnh viễn. Giờ đây, khi tôi đứng hổn hển—vì ít ai có thể leo lên tới đây—ở đỉnh đoạn đèo hẹp dài và ngay dưới chân hẻm núi, mọi nỗi muộn phiền, đau đớn cùng sự bất an của riêng tôi bỗng chốc tan biến vào niềm kinh ngạc và hân hoan khôn xiết. Bởi dù cho tôi có chậm chạp ngu ngơ đến đâu, thỉnh thoảng tôi vẫn có thể thấu cảm được cái đẹp; và chính vì nó hiếm hoi xuất hiện, cảnh tượng ấy cứ đọng lại trong tôi như một bức tranh vô giá.

Tảng đá lớn chắn ngang với khe nước đổ dốc ngoằn ngoèo đâm xuyên qua đứng sừng sững, trần trụi và xám xịt trong bóng râm, hằn lên những rãnh nước đỏ quạch chảy xuống. Nhưng mặt trời đã bắt đầu lấp lánh trên đỉnh dải cao nguyên phía đông, xuyên qua vòm cây cổ thụ giăng đầy tổ chim cũ và dây thường xuân. Ranh giới của muôn vàn thân cây nghiêng bóng từ các vách đá nhô ra hắt xuống thảm cỏ long lanh dưới chân những rặng đá phía tây. Và xuyên qua lòng đồng cỏ đẫm sương, dẫu được bao bọc bởi bóng râm nhưng một bên lại được nụ cười mặt trời chạm tới, dòng nước trong như pha lê chảy qua, uốn lượn lấp lánh tựa như niềm hy vọng chuyển hướng.
Ở hai bên bờ, những ngọn cỏ đang vươn lên đợt cuối của mùa thu chĩa ra như muôn ngọn giáo, kết thành những búi cỏ uốn cong đẫm hạt sương tinh khôi như ngọc trai. Sự mềm mại của sắc xanh hiện lên dưới lớp áo choàng xám bạc; trong khi thứ ánh xám mờ ảo ấy—vốn là gợn ửng hồng của sức sống xanh tươi—đang lan tỏa sự trinh nguyên rực rỡ. Ngay lúc đó, tâm hồn tôi dường như được nâng bổng lên, dù trí óc vẫn còn nặng trĩu muộn phiền: ai có thể chứng kiến những kỳ công bao la và nhân từ ấy mà không cảm thấy thẹn thùng trước những nỗi gian truân nhỏ bé của kiếp người?
Không chỉ hết cảm thấy hổ thẹn về nỗi đau, tôi còn ngập tràn sự thẫn thờ trước niềm hạnh phúc, khi trông thấy Lorna của tôi đang tiến lại gần, trong trẻo hơn giọt sương mai, tươi sáng và rạng rỡ hơn cả ánh mặt trời. Điều khiến tôi yêu nàng sâu sắc, điều nâng đỡ trái tim tôi hướng về nàng như làn gió xuân nâng niu những tầng mây, chính là sự tươi vui và nét hồn nhiên bẩm sinh trong tâm hồn nàng. Vậy mà tất cả những điều ấy vẫn quyện hòa cùng sự e ấp thẹn thùng của người thiếu nữ, một ý niệm về những điều chưa biết, và cả cảm giác về số phận đang đợi chờ phía trước.
Nàng vẫn bước đi xuống thung lũng, không hề hay biết tôi đang ngắm nhìn mình, vì cứ ngỡ tôi chưa thể đến (do sự hiểu lầm của chính tôi); hoặc ít nhất nàng đã tự nhủ với lòng mình như thế. Trong niềm vui của sự sống bừng tỉnh cùng sự tươi sáng của buổi bình minh, nàng đã trút bỏ mọi muộn phiền, trông như đang lướt đi trên ánh mặt trời tựa một dải sóng bạc bồng bềnh. Bất ngờ nhìn thấy tôi—vì tôi đã vội bước ra ngay, sợ bị cho là lén lút theo dõi nàng—sắc hồng trên má nàng thêm thắm lại, đôi mắt ánh lên nét rạng rỡ khôn cùng; và nàng hân hoan bước đến đón tôi.
“Cuối cùng thì anh cũng đến rồi, John. Em cứ tưởng anh đã quên em rồi chứ. Em không sao làm cho anh hiểu được—tối nào họ cũng nhốt em lại; nhưng hãy vào nhà em đi, anh đứng ở đây nguy hiểm lắm.”

Trong lúc đó, tôi chẳng thể thốt nên lời vì quá đỗi nghẹn ngào trong hạnh phúc, chỉ biết bước theo nàng vào hang đá nhỏ, nơi tôi từng ghé thăm hai lần trước. Tôi biết thời khắc trọng đại nhất của đời mình đang đến—rằng Lorna sẽ thổ lộ tình yêu nàng dành cho tôi.
Trong giây phút, nàng vờ như không hiểu ý nghĩa trong ánh mắt tôi, mà cố lái sang những chuyện khác, giọng thỉnh thoảng ấp úng, và dưới làn mi dài, đôi má nàng lại ửng lên sắc hồng thắm thiết.
“Đây không phải là điều anh đến đây để nghe,” tôi khẽ thì xầm thật dịu dàng, “em biết rõ anh đến đây để hỏi điều gì mà.”
“Nếu anh cố tình đến đây để hỏi, sao anh còn ngập ngừng mãi thế?” Nàng can đảm quay mặt đi, nhưng tôi thấy làn môi nàng đang run rẩy.
“Anh trì hoãn là vì anh sợ; vì cả cuộc đời anh đang treo trên một lời nói của em; vì những gì đang ở bên anh lúc này có thể sẽ chẳng bao giờ còn ở bên anh nữa, dù với anh, nó quý giá hơn tất cả thế gian này, hay muôn vàn thế giới cộng lại.” Khi tôi thốt lên những lời ân tình ấy bằng giọng nói trầm nhẹ, Lorna càng lúc càng run rẩy; nhưng nàng không đáp lại, cũng chẳng ngước nhìn tôi.
“Anh đã yêu em từ rất, rất lâu rồi,” tôi tiếp tục, chẳng còn bận tâm đến điều gì nữa, “từ khi em còn là một đứa trẻ, anh đã tôn thờ em như một cậu bé; rồi khi thấy em trở thành một thiếu nữ xinh xắn, chàng trai trẻ trong anh lại thờ phụng em; giờ đây khi em đã là một trinh nữ trưởng thành, tất cả những gì anh làm, và hơn thế nữa—anh yêu em nhiều hơn muôn lời có thể thốt ra, hay trái tim này có thể âm thầm giữ kín. Anh đã chờ đợi rất lâu rồi; và dẫu anh có kém cỏi so với em đến đâu, anh cũng không thể chờ thêm được nữa; anh phải có được câu trả lời của em.”
“Anh đã rất trung thành, John ạ,” nàng thì thầm với chùm dương xỉ và thảm rêu; “em e là em phải thưởng cho anh thôi.”
“Điều đó chưa đủ đối với anh,” tôi nói; “anh không muốn một sự bằng lòng gượng ép, cũng không cần sự chấp thuận vì lòng thương hại; bởi điều đó chỉ là sự chịu đựng mà thôi. Anh phải có được trọn vẹn tình yêu, hoặc không có gì cả; anh phải có được trái tim chân thành nhất của em, giống như em đang có trọn vẹn trái tim anh vậy, Lorna.”
Trong khi tôi nói, nàng e ấp ngước mắt nhìn lên qua làn mi khẽ chớp, như muốn kéo dài sự nghi ngờ của tôi thêm một khoảnh khắc vì sự kiêu hãnh đáng yêu của riêng nàng. Rồi nàng mở to đôi mắt tràn ngập vẻ quyến rũ, sâu thẳm và dịu dàng hướng về tôi, ôm lấy cổ tôi bằng cả hai tay, và trả lời bằng trọn vẹn trái tim mình sát bên ngực tôi,—
“Anh yêu, anh đã chiếm trọn tất cả rồi. Em sẽ không bao giờ thuộc về riêng em nữa. Em là của anh, người yêu của em, mãi mãi và cho đến vĩnh hằng.”
Tôi chẳng còn nhớ nổi mình đã làm gì hay nói gì sau đó, bởi tâm trí đã hoàn toàn choáng ngợp trước những lời nói và ánh mắt của nàng. Tôi chỉ nhớ duy nhất một điều, khi nàng ngước làn môi rạng rỡ lên như một đứa trẻ chờ đợi một nụ hôn, một nụ cười quyến rũ dịu dàng đã đón lấy tôi qua làn tóc xõa, khiến tôi dường như quên mất cả lễ nghĩa, không để cho nàng kịp thở.
“Thế là đủ rồi,” Lorna dịu dàng nói, gương mặt đỏ bừng lên; “hiện tại thế là đủ rồi, John. Và giờ hãy nhớ một điều này nhé, anh yêu. Mọi sự tử tế phải xuất phát từ phía em; còn anh phải giữ khoảng cách đúng mực như với một người thiếu nữ; trừ khi em cho phép. Nhưng anh có thể hôn tay em, John ạ; ôi đúng rồi, anh có thể hôn tay em đấy. Ôi thật chứ! Em quên mất; em thật là ngốc nghếch quá đi!”
Bởi vào lúc ấy, tôi đã nắm lấy bàn tay xinh xắn của nàng và ngắm nhìn nó với niềm tự hào lớn nhất trên đời khi nghĩ rằng một vật báu kiều diễm như thế này đã thuộc về mình; rồi tôi xỏ chiếc nhẫn nhỏ của mình vào ngón tay đeo nhẫn của nàng; và lần này Lorna đã giữ lấy nó, âu yếm nhìn ngắm vẻ đẹp của chiếc nhẫn, rồi ôm chặt lấy tôi trong dòng nước mắt nhạt nhòa.
“Mỗi lần em khóc,” tôi vừa nói vừa ôm nàng chặt hơn vào lòng, “anh sẽ coi đó là lời mời gọi để không phải giữ khoảng cách nữa. Đấy, giờ thì không ai có thể làm em khóc được nữa rồi. Em yêu, em sẽ không phải thở dài nữa, mà sẽ sống trong bình yên và hạnh phúc, có anh bảo vệ và chở che; còn ai dám làm phiền em nữa chứ?” Nhưng nàng lại thở dài một tiếng thở dài đau đớn, ánh mắt nhìn xuống đất với những giọt nước mắt lăn dài, và đặt một tay lên lồng ngực trẻ trung, tinh khôi đang trào dâng nỗi muộn phiền.
“Điều đó không bao giờ, không bao giờ có thể xảy ra,” nàng tự thì thầm với chính mình: “Em là ai mà lại dám mơ về điều đó? Có điều gì đó trong tim mách bảo em rằng chuyện ấy sẽ không bao giờ, không bao giờ thành sự thật.”