
Về quãng thời gian còn lại của mùa đông năm ấy, tôi chẳng nhớ được bao lăm, bởi khi đó tôi hãy còn là một đứa trẻ con, và nỗi nhớ cha cồn cào nhất là những lúc ở ngoài trời—những khi đi bẫy chim, lần theo dấu thỏ rừng trên tuyết, hay huấn luyện chó chăn cừu. Tôi thường tha thẩn ngắm nhìn khẩu súng của người, một món đồ cổ nhặt được dưới biển, chếch phía dưới Glenthorne, thứ mà cha lấy làm hãnh diện khôn cùng dẫu nó chỉ là một khẩu súng hỏa mai điểm hỏa bằng dây bùi nhùi; tôi lại nhớ những lần mình cầm đóm lửa trong khi cha ngắm bắn một con thỏ, và có lần ngắm cả một con hươu đỏ đang cọ mình vào bụi phỉ. Nhưng ngắm nghía mãi cũng chẳng đi đến đâu, theo như tôi nhớ, ngoài đôi ba giọt nước mắt dại khờ rơi xuống, cho đến một ngày John Fry gỡ khẩu súng xuống khỏi hàng móc nơi tay cha từng đặt; nhìn cái cách John cầm nó, tôi đau nhói cả lòng, như thể lão chẳng còn chút ký ức nào về người xưa.
“Thiệt rủi cho ổng, đêm bữa chạm trán lũ Doone lại hổng có cây này bên mình. Tui cuộc là Bác Jan sẽ cho tụi nó chầu diêm vương cái một, thay vì để mạng mình đi tong dễ dàng vậy. Rồi giờ này ổng có khi đang đi chợ đàng hoàng, chớ đâu phải nằm vùi dưới nấm đất đằng kia. Cậu Jan, cậu ngó dọc theo nòng súng này nè, thấy mồ ổng liền đó. Thôi nào, mắc mớ gì mà mếu máo? Biết vầy tui cóc thèm nói.”
“John Fry, tôi không có mếu máo nhé; bác lầm to rồi đấy, John. Bác cứ nghĩ tôi là con bé Annie không bằng. Mùa đông tôi hay ho, rồi cha cho tôi kẹo cam thảo—ý tôi là—tôi muốn nói là—trước đây người vẫn cho. Giờ đưa khẩu súng đây cho tôi, John.”
“Cậu mà đòi cầm súng, Jan! Cậu còn chưa đủ sức vác nó lên vai nữa kìa. Nó nặng như cùm, thiệt tình!”
“Tôi mà không cầm nổi ư, John! Bác chẳng biết cái quái gì cả. Tránh ra mau, John; bác đang đứng đối diện họng súng đấy, khéo nó đang nạp đạn cũng nên.”
John Fry nhảy dựng lên còn lẹ làng hơn lúc lão làm công nhật; còn tôi thì gác miệng súng lên một thanh xà ngang, trong lòng dâng lên niềm tin chắc mẩm rằng mình có thể bắn trúng cánh cửa đối diện, hoặc chí ít là bức tường đất nện cạnh đó, mà chẳng làm suy suyển gì đến vườn cây ăn trái. Nhưng John nhất quyết không chịu đưa đóm hay bùi nhùi cho tôi, và ngẫm lại tôi cũng thấy may, dù ngoài mặt vẫn hậm hực như tính nết mọi đứa con trai, bởi tôi từng nghe cha bảo khẩu súng Tây Ban Nha này giật như ngựa đá, vả lại liều đạn trong nòng là do chính tay cha nạp, tôi chẳng nỡ lòng nào bắn bỏ. Nhưng sau này tôi thấy nó chưa từng giật quá mạnh một khi đã tì chắc vào vai, trừ phi nạp đạn ẩu. Thật tình mà nói, độ dày của khối kim loại ấy đủ khiến người ta phải kinh ngạc; và những lời người làng kể về nó có lẽ cũng đúng phần nào, dẫu phần lớn bọn họ toàn là quân ba hoa—hay ít ra, ý tôi là, họ hay lầm lẫn như mọi người đời khác. Họa chăng chẳng sai chút nào khi bảo rằng khẩu súng cổ này từng thuộc về một quý tộc Tây Ban Nha, thuyền trưởng một chiến hạm lộng lẫy trong ‘Hạm đội Bất khả Chiến bại’ lừng danh mà nước Anh chúng ta đã đánh tan tác, nhờ có Chúa và thời tiết tương trợ, cách đây cũng cả trăm năm có lẻ—tôi chẳng nhớ rõ từng tháng từng ngày làm chi.
Một dạo sau, khi John đem liều đạn tôi hằng trân quý đi bắn chết một con chuột cống, tôi bỗng thấy việc tập bắn bằng khẩu súng đồ sộ ấy là lẽ đương nhiên, thay vì dùng khẩu súng hỏa mai ngắn cũn của John Fry trông chẳng khác nào cái chuông gắn thêm cái cán. Với một đứa con trai thì có lẽ chẳng bia ngắm nào tuyệt hơn một chiếc cối xay gió, như tôi từng thấy ở các vùng đồng bằng; nhưng trên cánh đồng hoang bao la của chúng tôi chẳng có lấy một cái cối xay gió nào, họa hoằn lắm mới có vài cánh cửa vựa thóc ở nơi khuất gió, nằm trên lối dẫn lên các khe núi. Dọc theo những khe núi ấy, ta có thể mượn vách núi làm đường gióng để ngắm bắn, và cơ may bắn trúng cửa là rất lớn nếu chịu áp má vào nòng súng và cố đừng run sợ.

Dần dà tôi bắn thạo đến mức tống gần như toàn bộ máng chì ở chái phía bắc nhà thờ nhỏ làng tôi xuyên qua cánh cửa vựa thóc tốt nhất nhà, chuyện này về sau khiến tôi ân hận mãi, nhất là khi đã lên làm người coi việc giáo xứ, và nó cũng khiến tôi tha thứ cho bao đứa trẻ nghịch ngợm; nhưng may thay cha tôi không nằm lại ở phía bên đó của nhà thờ.
Thế nhưng suốt thời gian ấy, trong khi tôi lang thang khắp các ngọn đồi hay quanh quẩn nơi nông trại, thậm chí ngồi nghe John Fry huyên thuyên, thì mẹ tôi, vì nhiều tuổi hơn và nỗi đau cứ gặm nhấm dai dẳng hơn, chỉ quanh quẩn trong nhà hoặc giữa đám gia nhân và lũ gà qué. Mẹ chẳng màng trò chuyện với người thân cận nhất, trừ những lúc bộc phát nghẹn ngào nhắc về người chủ tốt bụng mà tất cả chúng tôi vừa vĩnh viễn mất đi. Song lũ gà nào có bận tâm, chúng chỉ lo cục tác đòi hạt đại mạch; còn mấy cô thị tỳ, dù cũng quý mến cha, nhưng mùa xuân đã cận kề nên tâm trí họ chỉ hướng về những người tình nhân. Mẹ cho thế là sai trái, là ích kỷ và bội bạc; nhưng đôi khi mẹ lại lấy làm tự hào rằng chẳng ai có cái cớ chính đáng để tiếc thương cha sâu sắc như mẹ. Chỉ riêng con bé Annie là lặng lẽ ra vào, khóc một mình chẳng để ai hay, thường là nấp ở góc đặt đàn ong và hòn đá mài. Nhưng chẳng hiểu sao nó chẳng bao giờ chịu để ai nhìn thấy mình khóc; nó cứ như muốn tự mình gặm nhấm nỗi đau, lấy nước mắt mà nêm nếm cho vơi bớt. Rất nhiều lần tôi bắt gặp, và lần nào nó cũng quay phắt lại trừng mắt nhìn tôi, khiến tôi chẳng dám nhìn thẳng vào nó mà chỉ lúng túng hỏi chừng nào thì đến giờ ăn cơm.
Thế rồi vào giữa tháng mùa đông giá rét, cái tháng mà người ta gọi là tháng Mười Hai, khi cha đã nằm yên dưới nấm mồ lạnh được hai tuần, tôi lại hết sạch thuốc súng để tập luyện nhằm chống lại kẻ thù của người. Chưa một lần nào bóp cò mà tôi không nhủ thầm: “Phát này dành cho kẻ giết cha”; John Fry bảo tôi nghiến răng trợn mắt đến mức khẩu súng phát hỏa được cũng là chuyện lạ. Nhưng dẫu tay tôi khó lòng giữ nổi súng nếu lưng không tì vào thanh chắn, tôi vẫn thấy nhẹ lòng mỗi khi nghe tiếng nổ vang lên và nuôi hy vọng sẽ bắn trúng kẻ thù của người.
“Ôi, mẹ ơi,” tôi lên tiếng ngay sau bữa trưa hôm ấy, trong lúc mẹ đang ngồi nhìn tôi, chực buông lời (như dạo này tuần nào mẹ cũng nói đến bảy lần): “Con trông càng ngày càng giống cha! Jack, lại đây hôn mẹ nào”—“ôi, mẹ ơi, giá như mẹ biết con đang cần một đồng shilling đến mức nào!”
“Jack, chừng nào mẹ còn sống để cho con, thì con sẽ không bao giờ thiếu một đồng shilling. Nhưng con cần tiền làm gì thế, con yêu, ruột thịt của mẹ?”
“Để mua một món đồ tít bên Porlock, mẹ ạ. Có lẽ lát nữa con sẽ kể mẹ nghe. Còn nếu con không nói, ấy là vì điều tốt cho mẹ và cho các em mà thôi.”
“Chúa tôi, thằng bé này nói năng hệt như một ông cụ sáu mươi tuổi không bằng. Hôn mẹ một cái nào, Jack, rồi mẹ sẽ cho con đồng shilling.”
Hồi ấy tôi ghét cay ghét đắng chuyện ôm hôn; và mọi đứa con trai ngay thẳng, một khi được Chúa ban cho chút sinh lực, ắt cũng đều như vậy. Nhưng lúc này tôi đang quá thèm thuốc súng, nên đành tiến lại hôn mẹ một cách ngượng ngùng, mắt không quên liếc ra góc cửa xem Betty có nhìn thấy hay không.
Thế nhưng mẹ hôn tôi liền tù tì nửa tá cái, mà đổi lại chỉ cho đúng một đồng shilling duy nhất; dẫu vậy tôi cũng chẳng nỡ lòng nào vòi thêm, dù nếu mẹ cho thì tôi cũng nhận ngay. Thoắt cái, tôi đã nhét đồng shilling vào túi rồi chuồn mất tăm, dắt con ngựa Peggy ra đường đi Porlock mà không để mẹ hay biết. Bởi giờ đây mẹ sợ con đường ấy lắm, cứ như thể mọi lùm cây đều là quân giết người, và chẳng đời nào mẹ cho tôi đi một mình dù chỉ một trăm thước trên con lộ đó. Nói thật lòng, nỗi sợ ấy cũng ám ảnh tôi suốt bao năm trời; ngay cả bây giờ, mỗi khi cưỡi ngựa qua đó lúc trời tối, thấy một bóng người bên đụn than bùn cũng đủ làm tôi rùng mình, chỉ chực lao tới tóm cổ hắn. Nhưng chuyến này tôi bạo dạn lắm, vì bên mình đã có khẩu súng hỏa mai của John Fry, và hễ thấy chỗ nào có thể rình rập là tôi đảo mắt canh chừng ráo ráo. Dẫu vậy, tôi chỉ thấy toàn cừu với lũ bò đỏ bé choắt, cùng vài con hươu rừng thông thường, cho tới khi đến sát thị trấn Porlock, rồi phi thẳng tới tiệm ông Pooke, nơi có biển hiệu Chiếc Xiên và Vỉ Nướng.
Ông Pooke lúc ấy đang gà gật ngủ, bởi ngày hôm đó chẳng có mấy việc; thế là tôi buộc con Peggy vào cán một chiếc chảo sưởi, con ngựa vô phép vô thiên cứ thế khịt mũi phì phì; còn tôi thì oai vệ bước vào, lăm lăm khẩu súng của John Fry. Vốn dĩ Timothy Pooke là một kẻ hiền lành, chỉ mong sống yên phận chứ chẳng thích thú gì trò mạo hiểm, trong khi vóc dáng tôi đã cao to ngang ngửa đám trai tráng lớn tuổi hơn. Vừa mở mắt ra, ông Pooke liền thụt lùi ngay xuống gầm bàn tính tiền, rồi chụp một chiếc chảo rán to tướng lên đầu như thể lũ Doone lại đến cướp phá theo thói quen của chúng sau mỗi mùa hội chợ. Bị coi là tướng cướp khiến tôi vừa nóng mặt vừa thấy kỳ cục; song thú thật trong lòng tôi cũng có phần khoái chí.
“Úi chà, ông Pooke,” tôi nói, vận dụng vốn từ hoa mỹ học được ở Tiverton; “chẳng lẽ ông tưởng tôi không biết cách cầm vũ khí hay sao? Phải chi đây là khẩu hỏa mai bùi nhùi cổ của Tây Ban Nha thì hẵng nói, chứ đây là cỗ máy đá lửa xịn, vác đi mười dặm đường cũng chẳng đời nào tự cướp cò, ông làm gì mà hoảng hốt đến thế. Tôi có chĩa thẳng họng súng vào người ông thế này—đúng như vầy nè—suốt cả tiếng đồng hồ đi nữa, nó cũng chẳng đời nào nhả đạn, trừ phi tôi bóp cò thật mạnh bằng ngón tay dính đầy bồ hóng; thấy chưa, đúng thế đó, ông Pooke, chỉ cần mạnh thêm một tí nữa thôi.”
“Lạy Chúa tôi, John Ridd, lạy Chúa, cậu bé ơi,” Pooke van vỉ, lúc này đã nhận ra tôi; “làm ơn làm phước, đừng chĩa cái thứ đó vào mặt tôi như thể bắt tôi ngậm lấy nó vậy. Bỏ nó xuống giùm đi, rồi cậu muốn lấy món gì tốt nhất trong tiệm tôi cũng chiều.”
“Hừ!” Tôi đáp với vẻ khinh khỉnh, lia nòng súng một vòng làm rơi cả chùm nến chưa kịp thắp của lão xuống đất: “Hừ! Làm như tôi chưa từng biết cầm súng không bằng! Tay tôi bị cóng vì đi qua cánh đồng hoang, chứ không thì tôi dám cuộc là có chĩa họng súng vào ông cả tiếng đồng hồ cũng chẳng có gì phải cuống lên đâu.”
Nhưng mặc cho mọi lời trấn an, lão chỉ mong sao tống khứ được tôi cùng khẩu súng ra khỏi cửa cho khuất mắt. Tôi dám chắc cái thứ ‘diêm tiêu đê tiện’, như kịch tác gia vĩ đại từng gọi, chưa bao giờ rẻ đến thế cả trước lẫn sau này. Đổi lấy một đồng shilling của tôi, ông Pooke đưa cho hai bọc to tướng nhét không vừa túi áo, cùng một tảng chì nặng trịch mà tôi phải buộc vào vai con Peggy. Chưa hết, lão còn tặng thêm một phong kẹo cho em Annie của tôi, đứa bé có gương mặt hiền hậu và tính tình ngoan ngoãn khiến ai nấy đều yêu mến.
Trời vẫn còn le lói chút ánh sáng khi tôi lên tới đỉnh đồi phía trên Porlock, lòng thầm tự hỏi không biết mẹ có đang hoảng hốt hay vẫn chưa hay biết gì. Hai bọc thuốc súng to tướng đeo sau lưng cứ va đập vào nhau chan chát, làm tôi sợ chúng sẽ bục ra hoặc phát nổ, hất tung tôi qua đầu con Peggy khỏi tấm vải dạ lót lưng ngựa mà tôi đang cưỡi. Bởi cha luôn thích đắp chút dạ lên hông ngựa mỗi khi đi xa, phòng lúc phải dừng lại bất chợt giữa trời khi con vật đang nóng bừng, ướt sượt và thở dốc. Cha cũng luôn bảo yên ngựa chỉ dành cho những gã đàn ông đẫy đà, nặng nề và đã mất đi sự lanh lẹ; chẳng đứa trẻ hay thanh niên nào trong nông trại dám bén mảng leo lên yên ngựa, vì ai cũng thừa biết ông chủ sẽ hất cẳng họ xuống cái một. Riêng tôi thì từng cưỡi thử một lần vì tò mò; kết quả là hai ba ngày sau không đi nổi vì da yên cọ rát cả hai đầu gối. Giờ đây, Peggy sải bước đưa tôi đi một cách dũng mãnh, chốc chốc lại phì hơi thành những làn khói mờ ảo giữa màn đêm buốt giá; chẳng mấy chốc, vầng trăng nhô lên qua sườn đồi, cả tôi lẫn con ngựa vừa mừng rỡ khi thấy ánh trăng, lại vừa nơm nớp sợ những bóng đen và hình thù kỳ dị bủa vây xung quanh. Tôi sẵn sàng nổ súng vào bất cứ ai bất cứ lúc nào, bụng tràn trề niềm tin vào khẩu hỏa mai, nhưng trong thâm tâm vẫn cầu mong không phải dùng đến. Và khi đi ngang qua đoạn đường hẹp nơi bọn Doone đã sát hại cha tôi, một nỗi sợ hãi tột cùng ập đến khiến tôi phải gục đầu vào cổ con Peggy, nhắm nghiền mắt lại, toàn thân lạnh toát. Tuy nhiên, tuyệt nhiên chẳng thấy một bóng người nào cho tới khi chúng tôi về đến sân trang trại cũ, nơi mẹ tôi đang sụt sùi khóc lóc, còn Betty Muxworthy thì không ngớt lời cằn nhằn.
“Đi theo anh mau,” tôi thì thầm với Annie ngay khi vừa ăn tối xong; “nếu em biết giữ mồm giữ miệng, anh sẽ cho em xem thứ này.”
Nó nhổm dậy khỏi băng ghế nhanh đến nỗi mặt ửng hồng lên vì sung sướng, khiến tôi phải nhìn chằm chằm sang hướng khác để đánh lạc hướng bà Betty. Betty tưởng tôi giấu thứ gì trong tủ góc sau thùng đồng hồ, và bà càng đinh ninh như thế khi thấy tôi chối đây đẩy. Không phải Betty Muxworthy hay bất kỳ ai từng bắt quả tang tôi nói dối—bởi tôi chưa từng lừa gạt ai bao giờ, ngay cả với mẹ tôi, hay thậm chí một chuyện khó hơn thế nhiều, là với người yêu tôi (khi tôi lớn lên và có người yêu)—mà chỉ vì Betty từng bị lừa tình trong chuyện hôn nhân từ một hai thế hệ trước bởi một gã thợ đào mương đắp bờ, nên giờ đây bà chẳng còn chút trắc ẩn nào, chỉ khăng khăng tin rằng đàn ông từ trong nôi cho tới lúc xuống mồ toàn là quân dối trá, còn đàn bà dại dột mới thèm để mắt đến họ.
Khi không bới móc được tội lỗi gì của tôi, Betty liền gạt phắt tôi sang một bên như thể tôi là người vô hình; rồi bà bắt đầu dỗ dành “Cô chủ Annie”, như cách bà vẫn thường gọi con bé, vuốt ve mái tóc mềm mại xuống tận tay và thì thầm vào đôi tai nhỏ nhắn. Trong khi đó, người mẹ kính yêu của tôi đang thiếp đi vì quá mệt mỏi và lo lắng cho tôi; còn Watch, con chó cưng của cha, thì gục đầu gật gù sát bên vạt váy của mẹ.
“Giờ thì em có đi không nào, Annie?” Tôi giục, vì cần nó cầm giúp chiếc muôi để nấu chảy chì; “em có đi ngay không, hay để anh đi gọi con Lizzie cho nó xem hết bây giờ?”
“Anh mà dám làm thế à,” Annie đáp; “để Lizzie đi trước em sao được hở anh John; nó đến khuấy nồi cháo thịt còn chẳng xong, thịt giăm bông với lưỡi bò còn chẳng phân biệt nổi, lại còn bảo đằng nào chả thế, miễn ngon là được! Ôi dào, bà Betty xem, học hành sách vở cho lắm rồi ra nông nỗi thế đấy!”
“Tạ ơn Chúa là Người không để tôi mắc cái chứng ấy,” Betty cộc cằn đáp, bởi bà chẳng bao giờ thèm tranh luận trừ phi phần thắng nghiêng về mình; “sáng nào tôi cũng phải tạ ơn Người vì đã không để tôi lầm đường lạc lối như vậy. Đàn ông là quân lừa lọc, gà mái cũng là giống dối trá; nhưng lừa lọc nhất trần đời chính là mấy cuốn sách, đầu đuôi ngang dọc với những chấm đen li ti bên trong, trông chẳng khác nào con lợn mắc bệnh sởi. Thế mà có kẻ lại vờ vịt cười khóc theo chúng. Xin Chúa tha tội cho cái quân dối trá ấy!”
Một phần tính khí gàn dở của Betty là bà chẳng bao giờ tin vào chuyện đọc chữ hay khả năng đọc được sách, mà trước sau như một vẫn khăng khăng rằng người ta học thuộc lòng trước rồi giả vờ nhìn vào những hình vẽ trên giấy mà đọc ra, cốt để làm cho những người lương thiện phải lóa mắt chẳng khác nào trò ảo thuật. Ngay cả việc tận mắt thấy cha xứ và thầy trợ tế đọc sách cũng không đủ sức thuyết phục bà; câu cửa miệng của bà luôn là: “Chẳng khác gì nhau hết, bọn họ cũng một giuộc như chúng ta cả thôi.” Và giờ đây, sau gần bốn mươi năm gắn bó với trang trại, từng chăm bẵm cha tôi từ thuở lọt lòng, may từng tấm áo, nấu từng miếng ăn cho người, rồi lại chính tay đặt người vào quan tài, uy quyền của bà đã lớn đến mức dẫu là người làm công giỏi nhất cũng chẳng dại gì cãi lại Betty nửa lời, trừ phi muốn gánh lấy hậu quả bị bà mắng xối xả gấp mười gấp hai mươi lần.
Annie là tình yêu và niềm vui của đời bà. Vì Annie, bà sẵn lòng làm bất cứ điều gì, thậm chí cố nở một nụ cười mỗi khi cô bé cười đùa và nhảy nhót quanh bà. Quả thật tôi chẳng hiểu sao ai nấy đều phải lòng Annie ngay từ lần đầu gặp gỡ. Con bé có cử chỉ và nết na đáng yêu đến thế, lại thêm ánh nhìn nhân hậu và ánh sáng dịu ngọt trong đôi mắt xanh biếc ngập tràn niềm tin yêu hồn nhiên. Ai nhìn vào nó dường như cũng thấy lòng mình hướng thiện hơn, bởi tâm hồn nó chẳng vương chút bụi trần tội lỗi. Lại thêm hoa tay nấu nướng của nó nữa, tài tình đến mức người ta chẳng thể ngờ; và niềm vui lớn nhất đời nó là thấy người khác hài lòng với món ăn mình nấu. Sau này tôi đã đi bôn ba khắp thế gian như các bạn sẽ thấy, nhưng tôi chưa từng gặp một ai sánh được với Annie trong việc đem lại sự êm ấm, vỗ về cho một người đàn ông đang mỏi mệt.