Lorna Doone: Bản Tình Ca Exmoor

Lượt đọc: 162 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Một Sự Tình Trọng Đại

❊ ❊ ❊

Nguyên cớ cùng diễn biến việc tôi rời trường Tiverton xảy ra đúng như sau. Vào ngày 29 tháng Mười Một, năm Chúa 1673, chính cái ngày tôi tròn mười hai tuổi và đã dốc cạn túi mua kẹo ngọt thết đãi đám trẻ nhỏ—cho tới khi lũ học trò lớn ùa vào cướp sạch—chúng tôi tan trường lúc năm giờ chiều, đúng theo lệ ngày thứ Ba. Theo thói thường, chúng tôi hò nhau xua đám học sinh bán trú chạy tán loạn dọc lối đi lát đá từ hiên trường xuống tận cổng, nơi lão Cop gác cổng vừa ở vừa làm nhiệm vụ. Chúng tôi chẳng mảy may bận tâm, và đối với bọn chúng cũng chẳng ích gì, cái sự thực rằng chúng vốn là con dân thuộc thị trấn của đấng sáng lập trường, hay thậm chí có thể là cháu gọi ông bằng bác họ (bởi ngài không để lại người nối dõi trực hệ); chúng tôi cũng chẳng buồn tra cứu gốc gác tông tộc của chúng làm chi. Từ lâu, đám học trò nội trú ăn ngủ tại trường như chúng tôi đã mặc định lũ học sinh ngoại trú kia toàn là một lũ “tiện dân”, như cái hỗn danh chúng tôi quen gọi, chỉ vì chúng chẳng mất lấy một đồng groat tiền học phí lại còn tự đùm túm cơm nước mang theo. Về khoản tiêu thụ số thức ăn ấy thì chúng tôi sẵn lòng giúp một tay, bởi khẩu phần đạm bạc dưới nhà ăn chỉ tổ làm sôi thêm dạ dày; và hễ đang bận thưởng thức đồ ăn của chúng, chúng tôi mới hào phóng cho phép chúng bắt chuyện. Dẫu vậy, khi thức ăn đã sạch bách, chúng tôi lại thấy bọn này ngứa mắt đến độ không đá đít đuổi xéo khỏi khuôn viên trường Blundell thì không chịu nổi. Trong số ấy, có đứa là con nhà phố buôn bán, tiểu tử các chủ tiệm tạp hóa, phường thuộc da hay hàng gia cầm; lũ này, nói đỡ cho chúng một lời, dường như cũng tự biết thân biết phận rằng việc mình bị ăn đòn là lẽ đương nhiên. Nhưng cũng có những đứa xuất thân từ các danh gia vọng tộc bậc nhất xứ Devon—như dòng họ Carew, họ Bouchier, hay họ Bastard—và đôi khi vài đứa trong bọn quay ngoắt lại thụi luôn kẻ vừa đá mình. Dẫu sao nói công bằng thì ngay cả chúng cũng hiểu mình bị ăn đá âu cũng chỉ vì cái tội đi học không mất tiền.

Sau khi đám “trẻ cứu tế” ấy đã cút thẳng—như cái danh xưng miệt thị chúng tôi vẫn réo sau lưng, “Nếu mày đập vỡ cái túi của tao vào đầu tao,” một đứa vặc lại, “thì ngày mai lấy gì mà ăn chực?”—và sau khi lão già Cop khép sập cánh cổng sắt đôi kêu loảng xoảng bên dưới vòm đá thô ráp nơi khắc những câu thơ tiếng Latinh bằng thứ đồng thau xoàng xĩnh, mấy đứa chúng tôi, bụng hãy còn no và chẳng màng tới tiếng chuông báo bữa tối do đã mút đẫy kẹo gừng parliament và kẹo ngọt dumps nhờ túi tiền của riêng tôi—chẳng phải tôi giàu có gì, mà bởi đã chắt bóp từng đồng cho ngày sinh nhật—chừng sáu hay bảy đứa, toàn bọn nhỏ người, đứng tựa vào chấn song sắt giữa lúc trời nhá nhem. Giữa bóng chiều tà bảng lảng cùng làn sương mờ buông xuống lúc chập tối, bóng dáng chúng tôi chẳng mấy lộ liễu, bằng không lão Cop đã xua đuổi chúng tôi một thôi một hồi khắp bãi cỏ, bởi lão vốn rất gắt gỏng với bọn trẻ con một khi mụ vợ lão đã bòn rút sạch tiền của chúng. Chỗ cánh cổng thừa thãi khoảng trống cho cả hội, vì nó đủ sức chứa tới chín đứa đứng chen chúc, trừ phi được nuôi ăn béo tốt mẫm mạp, mà chuyện đó thì họa hoằn lắm mới thấy; bấy giờ chúng tôi vừa ngóng ra mặt đường vừa ước ao được sổ lồng chạy ra đó, lại thêm phần háo hức chờ xem một đoàn ngựa thồ hàng rầm rộ đi qua, có cả lính kỵ mã hộ tống. Bởi lẽ đám học trò ngoại trú đã mật báo rằng một toán người định bụng vào thị trấn sáng nay đã nghỉ lại ở Sampford Peveril, và chắc chắn phải tới nơi trước lúc đêm buông, vì ngài Faggus đang ráo riết đuổi theo sau. Số là ngài Faggus chính là anh họ con bác con cô của tôi, niềm rạng danh của cả dòng tộc, một trang hảo hán vùng Northmolton nức tiếng trên khắp nẻo đường cái quan từ thị trấn Barum kéo dài tận London. Lẽ dĩ nhiên tôi thầm mong người anh ấy sẽ tóm gọn đám phu thồ, còn lũ bạn thì xúm lại hỏi ý kiến tôi chẳng khác nào thỉnh ý một bậc tiên tri.

Một thằng đứng tựa sát bên cạnh không chịu nhường chỗ cho tôi cựa cùi chỏ, lại còn nện một cú đau điếng vào bụng tôi, dù dạ dày nó đang căng tròn mớ kẹo parliament tôi đãi. Thấy nó ăn ở bạc bẽo quá chừng, tôi bèn thẳng tay thụi ngay một quả vào mặt nó, chẳng buồn đắn đo cân nhắc thiệt hơn. Thấy thế, nó liền cúi gục đầu rồi húc mạnh như điên vào giữa áo gi-lê của tôi, làm tôi nghẹt thở tưởng chừng như ruột gan phổi phèo rơi tuột cả ra ngoài túi áo, hồn xiêu phách lạc vì đau đớn cùng cực. Trước khi tôi kịp hoàn hồn, đám đông đã tự tiện sắp đặt cho hai đứa dời ra “Hộp Bàn Là”—tên gọi mảnh cỏ hình tam giác nơi giao nhau của hai con đường lát đá dẫn từ hiên trường và hiên nhà ăn, cũng là võ đài lừng danh của các trận tỉ đả; có điều chúng tôi phải đợi đoàn ngựa thồ đi qua đã, rồi mới thắp nến quây vòng tròn, thế mới hợp ý bọn đứng xem. Nhưng thình lình, từ phía sau cây cột khắc chữ của đấng sáng lập, không phải từ mạn Taunton mà lại từ hướng cầu Lowman, xuất hiện một đoàn ngựa vô cùng khiêm tốn, vỏn vẹn chỉ có hai con (nếu tính cả con ngựa lùn), cùng một gã mặt đỏ gay ngồi vắt vẻo trên lưng con ngựa lớn hơn.

“Kính thưa các cậu chủ nhỏ đáng kính,” gã cất giọng e dè trước cổng trường, “làm ơn cho hỏi cu Jan Ridd nhà tôi ở đao?”

“Nó ở đa-y nè, đích thị Jan Ridd rầu,” một thằng nhóc lanh lợi nhại lại chất giọng quê mùa của John Fry để trêu chọc.

“Thế thì chỉ cho nó ra đao,” John Fry nói rồi thò chiếc roi ngựa qua chấn song sắt về phía chúng tôi; “Chỉ mặt nó ra, rồi tống nó ra đa-y.”

Mấy thằng bé khác thi nhau chỉ trỏ vào tôi, vài đứa bắt đầu reo hò; nhưng tôi biết mình phải làm gì.

“Ôi, bác John, bác John,” tôi kêu lên, “sao bác lại đến vào lúc này, lại còn bắt con Peggy băng qua đồng hoang nữa, trời thì rét buốt xương cho nó thế này? Phải hai tuần nữa mới tới thứ Tư nghỉ lễ cơ mà, bác John. Bác làm ăn thế mà coi được à!”

John Fry rướn người về phía trước yên ngựa, lảng tránh ánh mắt của tôi; rồi từ trong cổ họng gã phát ra một âm thanh rột rẹt như tiếng sên bò trườn trên mặt kính cửa sổ.

“Ồ, bọn tao biết tỏng rồi, Cậu Jan ạ; tao đồ rằng người xứ Oare ai nấy đều biết ráo, chẳng cần phải đi học trường như cậu đao. Mẹ cậu đã để dành hết táo lại, còn bà già Betty thì đảo dồi tiết đen, chẳng ai dám bén mảng bẫy lấy một con chim sáo. Tất tật đều dành cho cậu đấy, cậu bé; tất cả mọi thứ giờ là cho cậu ráo!”

Gã bỗng nhiên ngập ngừng nín bặt, khiến tôi đâm hoảng. Tôi lạ gì cái thói ấy của John Fry.

“Thế còn thầy, còn thầy—ôi, thầy cháu thế nào rồi?” Tôi gạt phăng lũ bạn sang hai bên vừa hỏi dồn. “Bác John, thầy cháu có lên thị trấn không? Lần nào thầy cũng đích thân đi đón cháu cơ mà, đâu chịu để ai khác đi thay.”

“Thầy cậu đợi ở cây cột cong, bên kia lều đếm cừu ấy.* Ông không dứt ra khỏi nhà được vì bận chuẩn bị thịt xông khói cho lễ Giáng sinh, với lại có mấy thùng rượu táo bị hỏng.”

Gã dán mắt vào đôi tai con ngựa mà nói; và hiểu quá rõ tính nết của John Fry, tôi biết tỏng gã đang nói dối. Tim tôi trĩu nặng như một tảng chì, tôi tựa lưng vào thanh giằng cánh cổng, chẳng còn thiết tha đấm đá với ai nữa. Một nỗi u uất nặng nề bao trùm lấy tôi như đám mây giông vần vũ, tôi sợ hãi không dám nghe thêm bất cứ điều gì nữa. Tôi thậm chí chẳng buồn vỗ về chiếc mõm của con ngựa lùn Peggy, dù nó đã ghé mũi qua chấn song nơi mắt lưới thưa hơn, hít hà hơi tôi rồi khe khẽ gặm lấy những ngón tay tôi. Nhưng dù ai sống hay ai chết, việc đời vẫn cứ phải tiến hành; mà phận sự cốt yếu của những người Cơ Đốc tốt lành, không còn nghi ngờ gì nữa, chính là giáng đòn vào mặt nhau.

“Lên đi chứ, Jack,” một thằng nâng cằm tôi lên bảo; “nó đấm mày, mày cũng đấm nó rồi còn gì.”

“Giải quyết nợ nần cho xong trước khi về,” một huynh trưởng rảo bước tiến lại sau khi nghe rõ sự tình danh dự; “Ridd, chú mày phải đánh cho xong trận này.”

“Đánh đi, vì danh dự của lớp dưới chứ,” thằng nhóc ranh đứng cạnh ghé tai tôi giục giã, chính là cái đứa thông minh đầu lớp vừa nhại giọng John Fry ban nãy, đứa làu làu ngữ pháp thời aorist và từng cố nhồi nhét vào đầu tôi; ngặt nỗi tôi chưa bao giờ nhích lên quá ba bậc xếp hạng, mà lần đó cũng chỉ là ăn may, vừa qua bữa trưa là tụt dốc không phanh. Lũ bạn vây quanh tới tấp thúc giục tôi vào cuộc, dẫu bụng dạ tôi chẳng còn tha thiết gì; vốn là đứa chậm hiểu (điều này chẳng thể trách tôi được), tôi đưa mắt nhìn hết đứa này sang đứa khác hòng tìm một lối thoát. Chẳng phải tôi sợ đánh nhau, bởi ngót ba năm ở trường Blundell, tuần nào tôi cũng phải choảng nhau ít nhất một bận đến mức bọn chúng đều phải kiêng nể; chỉ có điều gánh nặng trong lòng lúc này khiến tôi chẳng còn hăng hái như dạo chạy nhảy trên đồng cỏ. Nghĩ lại chuyện này thật đáng buồn; nhưng dẫu đến tận bây giờ, khi đã ở độ tuổi từng trải, tôi vẫn ngờ rằng thật viển vông khi tưởng tượng, và thật ngây thơ như lòng dạ người mẹ khi cứ khăng khăng rằng lũ con trai có thể sống mà không đấm đá lẫn nhau. Trừ phi chúng là những đứa trẻ ngoan ngoãn khác thường, và biết sợ hãi lẫn nhau.

“Không,” tôi cất lời, lưng tựa vào thanh giằng bằng sắt rèn của cánh cổng cắm chặt vào mặt tiền nhà lão Cop: “Tao không đánh với mày lúc này đâu, Robin Snell, đợi bao giờ tao quay lại đã.”

“Thế thì chịu đòn hèn nhát đi, Jack Ridd!” độ nửa tá nhóc tì nhao nhao lên, đẩy Bob Snell xông tới; bởi tất cả chúng đều biết thừa, từng tỉ thí với tôi rồi và đều nếm mùi thất bại—chúng biết rõ, tôi nói thật lòng, rằng nếu không có biến cố tày đình thì đời nào tôi chịu nuốt cái nhục nhã ấy. Nhưng tôi chẳng màng đến chúng, chỉ thẫn thờ ngơ ngác nhìn John Fry, con ngựa Smiler, khẩu súng hỏa mai và con Peggy. Dưới ánh đèn hắt ra từ cửa sổ phòng khách nhà lão Cop, tôi thấy John Fry đang gãi đầu gãi tai, mặt mày tái mét đi, hết nhấp nhổm rồi lại lắc lư trên lưng con Smiler như thể đang bị dồn vào bước đường cùng. Suốt lúc đó gã cứ liếc nhanh từ ánh mắt tôi xuống nắm đấm đang siết chặt, và dường như gã còn cố nháy mắt ra hiệu ngầm với tôi; đúng lúc ấy con Peggy khẽ ngoe nguẩy cái đuôi.

“Cháu có nên đánh không, bác John?” Rốt cuộc tôi lên tiếng; “Nếu bác không tới thì cháu đã đánh rồi đấy, bác John à.”

“Ý Chúa đã định; tao e là mày nên đánh thôi, Jan à,” gã thì thầm qua chấn song sắt; “đường đời mày còn phải đánh đấm nhiều lắm. Tốt nhất là tập dượt từ sớm cho quen đi. Liệu lão gác cổng có cho tao vào trong để coi chừng xem người ta có chơi sòng phẳng với mày không, hả cậu bé?”

Gã ái ngại nhìn xuống đôi ủng da bò và lớp bùn lầy bê bết trên mình lũ ngựa, bởi mấy bãi lầy trên đường đi dơ dáy kinh khủng. Quả thực, Peggy, con ngựa lùn màu hồng của tôi nhờ nhẹ cân nên vai không bị bám dính là bao; nhưng con Smiler (con ngựa kéo xe trượt trẻ nhất nhà) thì bùn ngập quá cả vai, chẳng ai nhận ra nó là giống ngựa khoang, chỉ thấy toàn một màu bùn đỏ lẫn bùn đen. Đã thế khẩu súng hỏa mai to tướng còn bị trét một tảng bùn dày cộp, còn chiếc mũ ngày Chủ nhật xỉn màu của John Fry thì bị cắm thêm một chùm cỏ đầm lầy. Tôi nhìn thấy tất thảy những điều ấy trong khi gã nặng nề và mệt mỏi tụt xuống ngựa, nhấc chân khỏi tấm lót yên như thể lưng vừa bị trẹo một cú đau điếng.

Tới lúc này thì chuyện đánh hay không chẳng còn do chúng tôi tự quyết định được nữa; bởi vài ba anh lớn lớp trên, những bậc huynh trưởng khả kính từng lấy làm khoái chí khi dạy dỗ đám đàn em chúng tôi cách đấm, đỡ, gạt đòn, nhử mồi và phản công, hay cách áp sát như bài kiếm thuật, cùng đòn thế cho kẻ yếu thế quỳ một chân xuống khi mọi mưu mẹo cận chiến chẳng thể cản nổi bước tiến công—những bậc thầy lão luyện ấy thà đứng xem lũ nhóc chúng tôi giao đấu còn hơn là tự mình thượng đài, chừng sáu bảy anh đã chạy huỳnh huỵch xuống lối đi lát đá uốn cong khi nghe tin có “một trận so găng ra trò” sắp diễn ra nơi cổng trường. Còn cái từ “so găng” ấy liệu có bắt nguồn từ một thuật ngữ Hy Lạp chỉ sự xung đột như mấy cậu mọt sách uyên bác nhất vẫn quả quyết, hay nó chỉ đơn thuần là một hình ảnh ví von từ những cánh tay cối xay gió đập liên hồi như tôi từng thấy ở những vùng quê không có suối nước mà người ta làm bánh mì bằng sức gió—chuyện ấy một kẻ thất học như tôi chẳng dám lạm bàn. Chỉ biết rằng những kẻ quây vòng tròn gọi trận đấu ấy là “cối xay thịt”, còn lũ chúng tôi, những kẻ phải chịu đòn nhừ tử bên trong, đành ráng gượng vui theo trò đùa cợt của họ cho tới khi dạ dày nôn nao lộn mửa.

Hơn nữa, lúc này tôi cảm thấy đè nặng trên vai một trách nhiệm, một bổn phận phải giữ vững khí phách đàn ông của dòng họ Ridd và danh dự của vùng Exmoor trước mặt John Fry. Xưa nay chưa từng có ai đả bại được tôi, dẫu trong ba năm cắp sách tới trường, tôi đã kinh qua hơn sáu mươi trận kịch chiến, tưới máu lên từng ngọn cỏ ở trung tâm khu Hộp Bàn Là. Ban đầu, chiến tích ấy chẳng nhờ cậy vào ngón nghề nào của riêng tôi, mãi về sau tôi mới khôn ra; bởi trong hai ba mươi trận đầu, tôi cứ vung nắm đấm theo bản năng mách bảo, chẳng khôn ngoan hơn con muỗi mắt lao đầu vào ngọn đèn lồng; sở dĩ tôi toàn thắng một phần nhờ sức vóc trời cho, nhờ cái tính dẻo dai lì lợm của dân Exmoor ngấm vào máu thịt, và phần nhiều hơn là vì tôi chẳng bao giờ biết điểm dừng khi đã bị ăn đòn no nê. Nhưng phen này xem chừng tôi sẽ phải lĩnh đủ đòn, thậm chí còn hơn thế nữa; bởi lẽ ngay từ đầu bụng dạ tôi đã sa sút; lại thêm thằng Robert Snell to con hơn bất cứ đối thủ nào tôi từng chạm trán, đầu nó thì dày mà sọ nó thì cứng chẳng kém cạnh gì tôi.

Tôi chưa từng hé răng nửa lời với mẹ về những trận ẩu đả liên miên này vì bà vốn yếu lòng; tôi cũng chẳng dám kể với cha vì ông không tận mắt chứng kiến. Thành thử thấy tôi trông vẫn như một đứa trẻ ngây thơ vô tội với những món tóc xoăn hoe vàng trên trán và chẳng bao giờ văng tục chửi thề, John Fry cứ ngỡ đây là trận đánh lộn đầu tiên trong đời tôi; bởi thế khi được mở cổng cho vào với lý do “chuyển lời nhắn cho thầy hiệu trưởng” như một huynh trưởng đã nói với lão Cop, còn Peggy và Smiler được buộc vào hàng rào chờ tôi thanh toán xong việc riêng, John tiến lại gần tôi, nước mắt rơm rớm, bảo: “Đừng có dại dột lao vào làm gì, Jan; đừng đánh nữa, nghe tao đi mà.” Nhưng tôi bảo với gã rằng giờ đây muốn rút lui cũng đã quá muộn màng; thế là gã đành nói: “Xin Chúa ở cùng mày, Jan, và nhớ gập khớp ngón tay cái vào trong đấy.”

Mảnh đất nơi góc giao hai con đường lát đá tuy chẳng rộng rãi gì nhưng cũng thừa chỗ để đánh nhau, nhất là với những đứa con ngoan đạo vốn thích ghé sát mặt mà tỉ thí. Đám học trò lớn quây thành một vòng tròn xung quanh nhờ đặc quyền bề trên, còn lũ nhóc chúng tôi được phép nằm bò ra đất mà dòm qua háng các đàn anh. Nhưng khi chúng tôi còn đang chuẩn bị và những cây nến xèo xèo tỏa khói trong màn sương mù, bà lão Phoebe đã ngoài tám mươi tuổi, người có căn phòng nằm ngay trên hiên nhà ăn, lại tập tễnh bước ra như lệ thường để phá tan cuộc vui đấu đá. Chẳng ai thèm để tâm đến bà, mà bà cũng chẳng trông mong điều đó; ngặt nỗi điều phiền toái là hai huynh trưởng luôn phải bỏ lỡ hiệp đầu tiên của trận đánh vì mắc bận dìu bà cụ quay về phòng.

Tôi tự hỏi không biết Robin Snell cảm thấy thế nào. Rất có thể nó chẳng mảy may bận tâm, vì xưa nay nó vốn là một đứa hung hăng ngỗ ngược. Nhưng tim tôi cứ đập thình thịch từng hồi khi đám bạn xúm lại lột áo tôi ra; quá đỗi sợ thua, tôi phà hơi nóng vào các khớp ngón tay. Rồi tôi cởi chiếc áo chẽn ngắn vắt lên chiếc mũ vải, bên trên phủ thêm chiếc áo gi-lê, một thằng bạn lấy làm hãnh diện khi được nhận chân giữ áo giúp tôi. Tên nó là Thomas Hooper, và tôi vẫn nhớ như in ánh mắt nó nhìn tôi lúc ấy. Chiếc áo chẽn ngắn ấy do chính tay mẹ may cho tôi trong những đêm đông thanh vắng, bà còn cẩn thận thùa những nút thắt thật hợp thời, nên tôi chẳng nỡ để nó vấy máu, vả lại trong túi áo vẫn còn mấy hạt phỉ ngon lành. Bấy giờ Robin Snell (sau này ba lần đắc cử thị trưởng thành Exeter) bước lại gần, đứng dạng chân nghênh ngang nhìn trừng trừng vào tôi, và tôi cũng chẳng ngần ngại nhìn thẳng lại nó. Quanh eo nó quấn một chiếc khăn tay buộc túm chiếc quần cộc, chân xỏ đôi giày vải nhẹ tênh, còn toàn bộ phần thân trên thì cởi trần. Nó nhảy nhót nhún nhảy theo cái điệu làm tôi muốn chóng cả mặt, vả lại nó còn cao hơn tôi cả mấy đốt ngón tay. Trong khi đó tôi, đầu óc còn đang rối bời bao mối hoài nghi về John Fry và chuyến đi của gã, mới chỉ kịp cởi áo chẽn cùng áo gi-lê, bụng dạ chẳng chút thoải mái để bước vào cuộc chiến.

“Nào, bắt tay nhau đi,” một anh lớp lớn nhảy cẫng lên vì phấn khích trước màn so tài, một học sinh lớp Ba cao gần một mét tám hét lớn; “bắt tay đi, lũ quỷ nhỏ. Giữ vững nhuệ khí và cống hiến một trận thật đẹp mắt nào, rồi Chúa sẽ ban phước cho đứa nào cừ khôi hơn.”

Robin nắm lấy tay tôi, trừng mắt đầy vẻ khinh miệt, rồi bất thình lình giáng một cú trời giáng vào mặt tôi trước khi tôi kịp giơ tay phòng thủ.

“Làm cái trò gì thế hả cu?” John Fry gào lên; “Thụi lại nó đi chứ Jan, được không hả? Khá lắm, thằng Jan nhà ta!”

Bởi lẽ tôi đã lập tức đáp trả Robin bằng tất cả sức nặng và nhịp điệu của một nhịp ngắt ngũ bán âm (một thứ thuật ngữ tôi chỉ biết tên chứ chưa từng hiểu đầu cua tai nheo ra sao), và cuộc chiến bắt đầu bước vào giai đoạn quyết liệt, đám học trò đứng xem không phải thất vọng chút nào. Dù chẳng thể nghe rõ những tiếng hò reo cổ vũ giữa lúc những nắm đấm tới tấp nện vào người, nhưng điều đó cũng chẳng thiệt thòi gì; bởi sau này John Fry kể lại rằng những lời chửi thề lúc đó bốc lên ngùn ngụt như lò lửa. Song chúng tôi chẳng buồn đếm xỉa hay bận lòng tới những thứ ấy, chỉ biết mải miết vung đòn trong cơn mê muội, đầu óc chẳng còn suy xét được chi. Tôi chỉ biết rằng khi hiệp đấu kết thúc, tôi lảo đảo bước về góc của mình với lồng ngực thở dốc như bễ thổi, chỉ muốn khuỵu ngã lăn đùng ra đất.

“Hết giờ nghỉ!” huynh trưởng quát lớn trước khi tôi kịp lấy lại hơi, giữa lúc tôi chỉ muốn nán lại thêm một lát trên đầu gối của thằng bạn đang đỡ tôi. John Fry đã bước lại gần, lũ bạn cười ồ lên vì gã đòi một chiếc đèn lồng chuồng ngựa và còn dọa sẽ mách mẹ tôi.

“Hết giờ rồi!” một thằng khác hét toáng lên, giọng còn sốt sắng hơn cả huynh trưởng. “Nếu đếm đến ba mà mày chưa bước ra thì coi như mày chịu thua và phải về với đám đàn bà.” Tôi thấy điều đó thật nghiệt ngã. Nó bắt đầu đếm: một, hai, ba—nhưng trước khi tiếng “ba” kịp thốt ra khỏi miệng nó, tôi đã đứng đối diện với đối thủ, hai tay thủ thế, hơi thở phì phò nóng rực, quyết tâm chờ xem cục diện xoay chuyển ra sao. Bởi lẽ tôi vừa được ngồi trên đầu gối của một thằng bạn thông thái và dày dạn kinh nghiệm chỉ bảo, người hiểu rất rõ kết cục đôi khi khác xa so với lúc khởi đầu. Cậu ta là một học giả uyên bác hiếm có; mà giờ đây đã làm bẽ mặt đám người Đức trong các vấn đề phê bình học thuật. Quả thực những kẻ thông minh đĩnh ngộ thường dành nhiều thiện cảm nhất cho những đứa đần độn.

“Dứt điểm nó đi, Bob,” một thằng lớn quát lên, câu nói khiến tôi đặc biệt để bụng vì thấy nó ăn ở tệ bạc quá, mới buổi chiều nay nó còn ăn kẹo bơ của tôi kia mà; “kết liễu cả tông ti họ hàng nhà nó đi; cho nó chừa cái tội dám cả gan đối đầu với một trang nam nhi như mày.”

Nhưng tôi đâu dễ bị hạ gục như thế, dẫu các khớp ngón tay lúc này đã tím tái và buốt giá như bị cước. Chẳng còn điểm tựa nào ngoài đôi chân, và chúng vẫn còn đủ vững để nâng đỡ tôi. Thế nên hiệp đấu này, hay vòng đấu này nếu quý vị muốn gọi như thế, được tôi triển khai hết sức thận trọng, vừa nhẹ nhàng nhớ lại những gì người bạn cố vấn thông minh đã dặn dò, vừa nung nấu quyết tâm giành lấy lời khen của cậu ấy trước khi quay lại ngồi trên gối cậu ta. Và tôi nghĩ, chưa bao giờ trong suốt cuộc đời mình lại có những lời nói rót vào tai êm ái đến thế (ngoại trừ những lúc người tôi yêu thổ lộ lòng mình), khi người phụ tá kiêm đỡ đầu của tôi—người giờ đây đã xem như cùng chung số phận với tôi và sẽ phải rơi lệ nếu thấy tôi thất trận—thì thầm:

“Tuyệt lắm, Jack, cừ khôi lắm! Cứ giữ vững nhịp thở như thế, Jack, rồi mày sẽ đục thủng nó ngay thôi!”

Trong khi đó John Fry cứ lăng xăng đi đi lại lại quanh đám đông, hỏi han bọn chúng xem tình hình ra sao, liệu tôi có nguy cơ mất mạng không, vì sợ mẹ tôi phải đau lòng. Nhưng khi nghe ngóng được rằng tôi đã kinh qua hơn sáu mươi trận đánh lộn, gã bèn tiến lại gần tôi với vẻ mặt rầu rĩ, giữa lúc tôi đang thở hồng hộc ngồi trên gối của người bạn phụ tá, tay cầm một mảnh san hô xốp để lau bớt những giọt máu túa ra, rồi gã ghé sát tai tôi nói như thể đang thúc đinh thúc ngựa vào mạn sườn:

“Tuyệt đối không được chịu thua nghe chưa Jan, bằng không thì đừng hòng vác mặt về xứ Hexmoor nữa.”

Nghe đến đó, mọi ngần ngại trong tôi tan biến sạch trơn. Một luồng sôi sục bùng lên trong khối óc nặng trĩu, và một tia sáng lóe lên trước mắt tôi. Ngay lập tức tôi siết chặt hai nắm đấm, quả tim tôi bám chặt lấy lồng ngực như keo thợ đóng giày. Hoặc là Robin Snell phải giết chết tôi, hoặc tôi sẽ hạ gục Robin Snell. Thế là tôi lao vào trận chiến với nhuệ khí dâng trào, còn Bob tiến lại với nụ cười ngạo nghễ đắc thắng, và tôi căm ghét cái nụ cười ấy tột cùng. Nó tung cú đấm tay trái về phía tôi, và tôi đáp trả bằng một quả đấm tay phải ngay giữa hai mắt nó; nó chớp mắt lia lịa, mặt mày méo xệch chẳng lấy gì làm dễ chịu. Tôi chẳng còn biết sợ nó, chẳng nương tay với nó, và cũng chẳng màng thương xót chính mình. Hơi thở tôi đã điều hòa trở lại, trái tim tôi sắt đá lạnh lùng, và đôi mắt không còn tóe lửa nữa. Tôi chỉ biết một điều duy nhất: thà chết chứ quyết không chịu làm ô danh nơi chôn rau cắt rốn. Phần còn lại của trận đấu diễn ra thế nào tôi cũng chẳng nhớ rõ; chỉ biết rằng tôi là người trụ lại đến cuối cùng, và còn phải phụ một tay khiêng thằng Robin vào giường nằm.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.