Lorna Doone: Bản Tình Ca Exmoor

Lượt đọc: 162 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 18
Say Đắm Dẫn Lối Tới Phù Thuật

❊ ❊ ❊

Dù đã gần cuối tháng Ba, gió vẫn rít lên dữ dội và buốt giá thấu xương khi tôi cuốc bộ đến nơi ở của Mẹ Melldrum vào buổi chiều hôm ấy. Không cưỡi ngựa đi là một nước cờ khôn ngoan, kẻo lỡ có điều gì phật ý, mụ ta lại ếm bùa lên con vật; chẳng khác nào chuyện bà thầy Simonsbath từng ếm bùa cả chuồng ngựa của bác nông dân Snowe dạo nọ.

Lúc tôi bước chân vào thung lũng thì mặt trời đã tà tà nơi mép đồi, bởi tôi chẳng thể rời nhà trước khi chăm nom bầy gia súc xong xuôi, mà đường đi lối lại thì ngót nghét bảy dặm có lẻ. Bóng các tảng đá đổ dài thượt và thẳm sâu, những đám dương xỉ khô nâu xao xác rập rình, còn bụi gai góc trút lá khẳng khiu, vung vẩy những cành xơ xác qua lại dưới ráng chiều đỏ quạch. Dưới chân các vách đá lởm chởm, vài con dê hoang gặm cỏ rải rác; rồi chúng hất sừng, co cẳng chạy biến, thoăn thoắt nhảy lên các gờ đá rồi đứng trân trân nhìn tôi. Lại thêm tiếng sóng biển từ xa dội về, len lỏi khắp chiều dài thung lũng, vỗ bờ nơi chân đá rồi rì rầm như tiếng vọng trong vỏ ốc.

Nghĩ chuyện nọ xọ chuyện kia, lại thêm cảm giác cô quạnh ngập tràn mà tay không tấc sắt, tôi đã toan quay ngoắt về cho rảnh nợ rồi chờ mùa màng đẹp trời hơn hãy đến. Và rồi, khi nhác thấy một bóng hình cao lớn xám xịt đang dập dờn nơi góc thung lũng mờ tối phía dưới, một cơn khiếp hãi ập tới tiếp sau muôn nỗi sợ trước đó, khiến ngón tay cái đang đặt sẵn trong cuốn Kinh Thánh của mẹ (vốn được nhét vào chiếc túi áo to tướng để giữ mình) run rẩy đến mức bật cả ra ngoài, mãi chẳng sao nhét lại vào được. "Đáng đời mày lắm," tôi tự nhủ, "ai bảo dính líu đến quỷ Beelzebub làm chi. Phải chi ngày trước mình chịu nghe lời mục sư!"

Nghĩ đoạn, tôi liền rẽ ngoặt sang bên; chẳng phải tôi muốn cắm đầu bỏ chạy như người đời vẫn gièm pha, mà chỉ cốt giả vờ như một kẻ lãng du tình cờ ghé thăm thung lũng, và giờ đã ngắm nghía đủ rồi nên quay bước. Lẽ ra mưu kế ấy đã trót lọt, tôi đã về được đến nhà để rồi sau đó tự giận thói hèn nhát của mình, hiềm nỗi ngay khoảnh khắc tôi vừa chuyển gót, người đàn bà đằng xa đã giơ cây gậy lên hướng về phía tôi, buộc lòng tôi phải đứng khựng lại.

Giờ đây, khi ý trời (nói thế cho phải lẽ) đã run rủi đôi bên mặt đối mặt, dù có chuyện gì xảy đến đi chăng nữa, tôi cũng đành đứng thẳng người, gượng cứng cỏi, rũ sạch mọi dấu vết của nỗi sợ hãi mà vững lòng nương tựa vào cuốn Kinh Thánh, mong rằng Lời Chúa sẽ che chở dù tôi đã trót bất tuân. Nhưng vừa nghĩ đến điều đó, lương tâm bỗng níu chặt chân tôi lại, khiến tôi chẳng thể cất bước tiến thêm.

Trong suốt lúc ấy, người đàn bà đáng sợ nọ cứ từng bước tiến lại gần; tôi mừng húm khi tìm được một tảng đá để ngồi xuống, bởi hai đầu gối đã run lẩy bẩy cả rồi. Tôi cố nghĩ ngợi đủ điều cho khuây khỏa nhưng đầu óc trống rỗng chẳng nảy ra nổi ý nào; mắt tôi cũng không sao rời khỏi bà ta được, dẫu trong lòng không ngừng cầu xin Chúa đoái hoài ở bên.

Thế nhưng khi bà ta đến đủ gần để tôi nhìn rõ mặt mũi, nét mặt ấy lại có điều gì đó khiến tôi chẳng thể nào ghét bỏ. Trông bà dường như đã trải qua muôn vàn giông bão cuộc đời và nếm trải từng nỗi truân chuyên, song tâm can vẫn giữ trọn lòng trắc ẩn để biết xót thương người khác. Mái tóc trắng dài buông xõa hai bên, chấm qua cằm; và từ nơi gương mặt hằn sâu nếp nhăn, đôi mắt sáng trong dường như đang bao trùm lấy tôi. Dẫu có thừa thời gian ngẫm ngợi, tôi vẫn không khỏi ngỡ ngàng đến độ chẳng thốt nên lời; dẫu vậy lòng tôi vẫn mong sao có tiếng động nào đó phá tan bầu không khí tĩnh mịch này.

"Ngươi tới tìm ta," bà cất tiếng, đôi mắt như nhìn thấu qua gương mặt ngây ngô của tôi như nhìn qua tấm kính, "chẳng phải để chữa đau thần kinh tọa, cũng chẳng phải để cầu phúc trừ bệnh lở loét cho bò. Đưa bàn tay đây, John Ridd; rồi nói xem cớ sao ngươi lại tìm đến ta?"

Nhưng tôi kinh ngạc khôn xiết khi thấy bà ta biết rõ tên tuổi và mọi sự về mình, đến nỗi chẳng dám trao bàn tay vào quyền phép của bà, thậm chí chẳng dám hé răng nửa lời.

"Đừng sợ ta, con trai; ta chẳng có tài phép nào làm hại được con; mà dẫu có, ta cũng chẳng buồn nhọc công. Nào, nếu con là đứa có chút thông minh, hãy nói ta nghe vì sao ta lại quý mến con?"

"Xưa nay con chẳng có chút khôn ngoan nào cả, thưa Mẹ," tôi đáp theo đúng cái lối chất phác của xứ Devonshire; "với lại theo chỗ con biết, con chưa từng giáp mặt Mẹ bao giờ."

"Thế nhưng ta lại biết rõ con, John à, hệt như con chính là đứa cháu nội của ta vậy. Con còn nhớ cây sồi già ở Oare, vũng lầy đầu nguồn sông Exe, và đứa bé suýt chết vùi nơi đó nếu không nhờ sức vóc, lòng can đảm và trên hết là lòng nhân từ của con chăng? Đứa bé đó chính là cháu gái ta đấy, John; và là tất cả những gì ta yêu thương nhất trên cõi đời này."

Nghe bà nhắc đến chuyện đó, rành rọt cả địa danh lẫn sự tình, tôi mới sực nhớ lại toàn bộ câu chuyện (xảy ra hồi tháng Tám năm ngoái), và thầm nghĩ mình ngốc nghếch biết bao khi chẳng chịu tìm hiểu thêm về bé gái từng sa chân xuống hố bùn đen ngòm cùng giỏ quả việt quất, đứa trẻ vốn đã bị nuốt chửng nếu chú chó nhỏ của nó không đánh hơi thấy tôi đằng xa. Tôi đã cõng con bé trên lưng đưa về cho mẹ tôi; rồi mẹ con tôi thay quần áo mới toanh cho nó, đưa nó đến nơi nó bảo; nhưng con bé chẳng hé răng nửa lời về thân phận, chỉ cho biết tên Thánh, bảo rằng nó tám tuổi và thích ăn khoai nướng. Gia đình tôi cũng chẳng buồn gặng hỏi thêm; bởi tánh người xứ chúng tôi với khách khứa vốn là như vậy.

Nhưng khi nhớ lại mẩu chuyện xưa và nhìn cách bà trìu mến nhìn mình, tôi tan biến hết nỗi sợ Mẹ Melldrum và bắt đầu thấy có cảm tình; một phần vì tôi từng cứu cháu gái bà, phần khác là nếu bà thực sự thông tuệ đến thế, lẽ ra đâu cần đến tôi cứu mạng đứa nhỏ khỏi chết đuối. Bởi vậy tôi đứng thẳng dậy và cất lời, dẫu khí thế vẫn chưa hẳn ngang ngửa với bà:—

"Mẹ hiền từ ơi, chiếc giày con bé đánh mất nằm dưới bùn lầy chứ chúng con đâu có giữ. Chúng con cũng chẳng tìm được chiếc nào vừa đôi, dù đã cho con bé một đôi giày của em gái Lizzie."

"Con trai, chiếc giày đó thì can hệ gì tới ta chứ? Con mới ngây ngô và khờ khạo làm sao—ít ra là trong mắt thiên hạ! Giờ thì nói cho ta hay, bởi con không biết nói dối, điều gì đã dẫn lối con đến chốn này?"

Vì quá đỗi ngượng ngùng và bối rối, tôi đã toan nói dối cho xong chuyện, cho tới khi bà bảo rằng tôi không thể làm thế; và khi ấy tôi hiểu rằng mình quả thực không tài nào dối trá nổi.

"Con đến để hỏi," tôi vừa nói vừa dán mắt vào một tảng đá để giọng khỏi run, "khi nào con mới có thể đi gặp Lorna Doone."

Tôi chẳng thể thốt thêm lời nào nữa, dù trong đầu đầy ắp năm mươi câu hỏi khác muốn tỏ tường. Nhưng dù tôi có nhìn đi hướng khác, rõ ràng hỏi bấy nhiêu thôi cũng đã là quá đủ. Tôi cảm nhận được bà thầy thông thái nhìn tôi vừa giận dữ lại vừa xót xa; rồi tôi bỗng thấy tức tối vì dường như có kẻ dám coi thường Lorna.

"John Ridd," người đàn bà lên tiếng khi nhận thấy vẻ mặt ấy của tôi (bởi lúc này tôi đã can đảm nhìn thẳng vào bà), "ngươi đang nhắc tới ai thế hả? Chẳng lẽ lại là một đứa con của chính những kẻ đã sát hại cha ngươi?"

"Con không biết, thưa Mẹ. Làm sao con biết được? Vả lại điều đó can dự gì đến Mẹ?"

"Nó can dự tới mẹ con đấy, John à, và ta tin chắc nó cũng can dự tới chính bản thân con; trên đời này chẳng còn tai họa nào nghiệt ngã hơn thế giáng xuống đầu con đâu."

Tôi nín thở chờ bà nói tiếp, bởi những lời lẽ chua xót ấy thốt ra khiến tôi bàng hoàng đến nghẹt thở.

"John Ridd, nếu con còn mảy may quý tiếc thể xác hay linh hồn mình, còn thương mẹ con hay thanh danh của người cha đã khuất, thì tuyệt đối chớ dính dáng gì đến bất kỳ kẻ nào mang họ Doone."

Bà nhìn tôi trân trân đầy nghiêm nghị, cao giọng răn đe khiến cả thung lũng cong vút như một chiếc chuông khổng lồ dội lại tiếng "Doone", làm tôi cảm giác như con tim mình đã chết lặng trước vạn vật và muôn người. Nếu ý trời đã định tôi phải dứt tình với Lorna, xin hãy ban một điềm báo từ nơi vách đá, và tôi sẽ cố mà tin theo. Nhưng chẳng có điềm triệu nào xuất hiện cả, tôi liền quay sang người đàn bà, bụng thầm ước giá như bà ta là một trang nam tử.

"Bà chỉ là một mụ già tội nghiệp, quanh quẩn với mấy mẩu xương, mảnh dao, xô nước với chìa khóa cửa, thì biết gì về số phận của một thiếu nữ như Lorna chứ? Họa chăng bà chỉ bốc thuốc trị cước chân, đau thần kinh tọa, hắc lào với bỏng da; ngay cả lũ cừu ghẻ lở may ra cũng bớt khập khiễng nhờ mấy ngón tay xoa bóp của bà. Thánh John Tẩy Giả với đám người nhà ngài, cùng mớ lông cừu với cành kinh giới cay chỉ hợp để chữa cho mấy con ngựa cái, bầy chó ốm với lũ gà mắc chứng vàng da mà thôi. Mẹ Melldrum, nhìn con xem, trông con giống một thằng ngốc lắm sao?"

"Con đích thị là một thằng ngốc, con trai à. Khốn khổ thay, giá mà con là ai khác thì tốt biết mấy! Giờ thì hãy nhìn xem kết cục của chuyện đó; John Ridd, hãy nhìn cho kỹ kết cục của nó đây."

Bà chỉ tay về phía mỏm đá tựa lâu đài, nơi trên một bờ đá hẹp nằm giữa tầm mắt chúng tôi và những vì sao đang dần tỏ, một trận tử chiến dữ dội đang diễn ra. Một con cừu béo tốt với gương mặt hiền lành đã cẩn trọng trèo lên đó để gặm một túm cỏ mọng nước còn đẫm sương đêm. Từ một mỏm đá phía trên, một con dê đen gầy gò lao xộc xuống, thoăn thoắt nhảy bổ, chĩa sừng thị uy và khè ra những tiếng thở giận dữ nơi lỗ mũi. Con dê vốn đã gặm sạch cỏ ở chỗ ấy theo đúng sở thích của nó, cắn giật từng bụi cỏ theo thói quen ăn uống của loài dê. Thế nhưng nó vẫn hung hãn xông vào cắn xé con cừu với vẻ đầy ác độc.

Con cừu thiến ngây thơ rất muốn thoái lui khỏi cuộc chiến, nhưng nhìn quanh quất chẳng tìm đâu ra lối thoát để được yên thân. Kẻ thù đã chặn đứng ngay lối nó vừa nhảy lên; chẳng còn con đường nào khác ngoài việc liều mạng chống trả, bằng không sẽ bị hất văng xuống biển sâu năm trăm bộ bên dưới.

"Nằm xuống, nằm xuống mau!" Tôi gào lên với nó như thể đang quát một con chó, bởi tôi từng chứng kiến một trận chiến tương tự trước đây, và biết rằng cơ hội sống sót duy nhất của con cừu là dựa vào sức nặng của cơ thể để đối phương khó bề lay chuyển.

"Nằm xuống, nằm xuống mau, John Ridd!" Mẹ Melldrum nhại lại lời tôi với giọng mỉa mai cay độc, nhưng mặt không hề nở một nụ cười.

Nghe tiếng tôi, con cừu tội nghiệp ngoái lại nhìn với ánh mắt thảm thương đến độ tôi không dám nhìn tiếp; tôi vắt chân lên cổ chạy thục mạng hòng cứu nó khỏi cuộc giao tranh. Nó thấy tôi chẳng thể nào tới kịp, bởi con dê đã nhún mình chực chồm tới, nên con cừu tội nghiệp đành cúi gục trán xuống, để đôi sừng vô hại cong sang hai bên; con dê liền tung vó sau, lao bổ vào nó bằng những cú nhún nhảy thoăn thoắt đầy mưu mẹo, đôi sừng dài sắc nhọn luôn chĩa về phía trước, còn cái đuôi ngắn củn thì vểnh lên như búa đập của khẩu súng.

Khi hùng hục leo lên vách đá dựng đứng, tôi chẳng thể thấy rõ chúng đang làm gì, nhưng chắc hẳn con cừu đã chiến đấu vô cùng dũng cảm đến tận phút cuối và chỉ chịu lùi bước từng chút một, khiến tôi suýt nữa đã nuôi hy vọng cứu được nó. Nhưng vừa lúc đầu tôi nhô lên khỏi mỏm đá phẳng, tôi đã thấy nó bị hất văng ngược ra sau, bật ra một tiếng rên rỉ trầm buồn ặc ặc nơi cổ họng. Thân xác nó xé gió rơi xuống tạo nên một âm thanh ngắn ngủi, hệt như tiếng chiếc gàu bị quẳng xuống đáy giếng sâu, và tôi chẳng thể đoán nổi lúc nào nó chạm mặt nước, ngoại trừ tiếng vọng dội lại giữa các vách đá. Lúc bấy giờ, cơn giận ngút trời đối với con dê bốc lên ngùn ngụt (phần vì hụt hơi, phần chẳng kịp suy tính thiệt hơn), tôi liền chộp ngay lấy chân sau bên phải của nó trước khi nó kịp quay đầu tận hưởng chiến thắng, rồi quẳng phăng nó lao theo con cừu, để nó nếm mùi vị của chính sự tàn bạo mà nó vừa gieo rắc.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.