
Tôi xin đoan chắc với quý vị, và thề không nói ngoa lấy nửa lời (như John Fry vẫn quen miệng thề thốt mỗi khi gã sắp sửa buông ra những lời khoác lác tày trời nhất), rằng tôi đã ba chân bốn cẳng bò tót về miệng hố nọ, hệt như thể quỷ sứ đang đuổi bén gót phía sau. Giờ đây, tôi vô cùng ân hận vì thói bồng bột trẻ con của mình, hay đúng hơn phải gọi đó là một cơn điên rồ, khi đã dấn thân vào cái thung lũng nguyền rủa ấy mà chẳng có ai đỡ đần, cũng chẳng có chuyện gì bức bách. Tôi thầm nghĩ, chỉ cần thoát được ra ngoài phen này, nếu tôi mà còn bén mảng tới đây lần nữa mà không phải do bị người ta túm cổ lôi xềnh xệch quẳng vào, thì tôi xin nhường quyền cho con lừa con mới đẻ nhà tôi làm thầy giáo dạy học cho mình.
Tôi giữ lời thề thốt ấy ra sao, hồi sau quý vị ắt sẽ rõ. Giờ đây, kể lại việc tôi trốn thoát khỏi cái hang ổ ấy đêm đó thế nào thiết tưởng cũng đã đủ rồi. Trước tiên, tôi ngồi bệt xuống khoảng đất trống nhỏ hẹp mà Lorna đã chỉ cho, bụng thầm ngờ vực, cay đắng nghĩ hay là nàng cố tình muốn tôi lao đầu xuống hố cho chết đuối rảnh nợ, khỏi còn quấy rầy nàng nữa. Nhưng chưa đầy nửa phút sau, tôi đã thấy hổ thẹn vì ý nghĩ xấu xa đó, bởi tôi nhớ lại nàng đã xót xa nhường nào khi nghĩ đến việc dẫu chỉ là một con cá chạch nhỏ nhoi phải mất mạng. Rồi tôi tự nhủ: "Chắc chắn nàng phải coi trọng mình hơn cả nghìn con cá chạch chứ; và những lời nàng chỉ lối thoát khỏi nơi khủng khiếp này ắt phải là thực."
Thế là tôi bắt đầu cẩn thận, mải miết tìm kiếm dẫu răng đang va lập cập vào nhau, và khắp xương cốt bắt đầu nhức nhối vì giá buốt cùng ướt sũng. Chẳng bao lâu sau, vầng trăng nhô lên khỏi rặng núi, lấp ló qua những tán cây trên đỉnh; bấy giờ tôi mới nhận ra những bậc đá thô ráp gập ghềnh, trông như thể được đục bằng búa tạ, vừa hẹp, vừa dốc đứng lại cách nhau khá xa. Chúng được khoét rải rác bên sườn lối vào rồi lượn quanh một gờ đá nhô ra, nom tựa vết cấu véo trên ổ bánh mì nâu lớn mà một đứa trẻ đói bụng vừa gặm dở. Lên cao hơn nữa, nơi ánh trăng rọi rỡ hơn xuống vách đá dựng đứng, dường như có một vệt đường mòn nham nhở, đứt đoạn, ngoằn ngoèo như bóng một cành cây cong queo hắt lên tường nhà.
Cảnh tượng ấy chẳng mấy khích lệ lòng người; thoạt đầu tôi đã toan buông xuôi nằm phơi xác tại chỗ, nhưng nghĩ bụng làm vậy thật chẳng phải đạo chút nào. Chúa đã định sẵn ngày giờ cho mỗi chúng ta; nhưng dường như Người luôn báo trước mỗi khi Người chưa muốn ta nhắm mắt xuôi tay. Hơn nữa, tôi chợt thấy những đốm sáng lay động nơi đầu thung lũng, như thể có người cầm đèn bão đuổi theo sau, thế là chân tôi bỗng thoăn thoắt lạ thường, lấn át mọi nỗi đắn đo suy tính.
Ngay lập tức, tôi đặt chân lên bàn đạp thấp nhất (nếu có thể gọi tạm mấu đá ấy như vậy), mười đầu ngón tay bấu chặt vào vách đá rồi dồn sức bật người nhảy lên bàn đạp thứ hai. Nhờ có cây gậy chống đỡ, tôi cũng vượt qua được mấu ấy; dẫu thú thật với quý vị, ở độ tuổi đó tôi chẳng thể nhanh nhẹn bằng những đứa trẻ tầm vóc nhỏ thó hơn, bởi thân hình tôi khi ấy lớn phổng phao trước tuổi, cơ bắp chưa kịp phát triển tương xứng, còn các khớp xương lỏng lẻo như chẳng ăn khớp vào nhau. Khó khăn nhất là lỗ đá thứ ba, vách đá nhô hẳn ra chèn ngang trước ngực, tưởng chừng như không sao trèo qua nổi, cho đến khi tôi phát hiện ra một sợi thừng to bản, chắc chắn buông thõng trong một rãnh tối, và may mắn sao tôi vừa vặn với tới đầu dây.
Làm sao tôi trèo lên được, rồi băng qua bãi đất trống và tìm được đường về nhà qua cánh rừng Bagworthy, thì giờ đây tôi chẳng thể nào nhớ nổi nữa, bởi vì quá đỗi mệt mỏi rã rời nên toàn bộ đoạn đường còn lại đối với tôi lúc ấy cứ mông lung như một giấc chiêm bao. Thực tình, tôi cũng chẳng dám mong mình nhớ và kể lại được ngần ấy chuyện như đã kể, bởi lúc mới bắt đầu hạ bút ghi lại, tất cả chỉ như một màn sương mù giăng trước mắt. Dầu vậy, từng mảng ký ức dần sáng tỏ khi tôi chầm chậm nhớ lại từng việc một, sau khi đã nhấp một chút rượu thuốc êm dịu, bởi nỗi sợ hãi mỗi lần nhớ lại vẫn khiến tôi rùng mình.
Bởi lẽ nỗi nhọc nhằn vật lộn với dòng nước xiết, mối hiểm nguy khi ráng sức leo ngược con thác dài đầy ghềnh đá, rồi sự ngỡ ngàng trước nàng thiếu nữ xinh đẹp, nỗi kinh hoàng trước bọn giết người và cơn tuyệt vọng lúc tìm đường tháo chạy—tất cả những điều đó đối với tôi vẫn còn vẹn nguyên sức nặng tới tận bây giờ, khi tôi đã là một ủy viên giáo xứ bệ vệ, ngồi sưởi ấm bên lò sưởi sau khi đã trải qua bao phen phiêu lưu còn ghê gớm hơn nhiều, những chuyện mà nếu Chúa rủ lòng thương, tôi sẽ lần lượt kể lại. Chỉ hiềm nỗi việc viết lách sao mà nhọc nhằn đến thế (nhất là việc phải đặt câu cho gãy gọn, đúng ngữ pháp để không bị người đọc bắt bẻ và mong sao ngang cơ được với độc giả); khiến tôi nhiều lúc nhìn tẩu thuốc trên tay mà cứ ngỡ mình sắp bị ăn đòn tới nơi, giống như ngày xưa mỗi khi tôi viết một nét chữ nguệch ngoạc trong bài tập, thầy Twiggs già lại quát to với vẻ khoái trá chua cay: "John Ridd, thằng ranh kia, tụt quần xuống!"
Dù sao đi nữa, đêm đó tôi cũng đáng bị một trận đòn ra trò vì đã hành động dại dột đến thế, lại còn cọ rách tươm cả bộ quần áo vải thô thượng hảo hạng. Nhưng khi tôi về tới nhà thì bữa tối đã dọn xong xuôi, đám gia nhân đang ngồi quanh chiếc bàn mộc màu trắng, còn mẹ cùng Annie và Lizzie ngồi cạnh bên, tất cả đều đang sốt ruột chực chờ khai bữa (chỉ trừ mẹ tôi, người vẫn đang đứng ngóng ra ngoài cửa), cạnh lò sưởi là Betty Muxworthy, vừa cằn nhằn xối xả, vừa nấu nướng lại vừa nếm thức ăn, người ta thường bảo là ba đầu sáu tay một lúc cũng chẳng ngoa. Tôi đứng ngoài bóng tối bên đống củi nhìn qua khe cửa, nửa muốn trốn tiệt ngoài trời như một con chó vì sợ bị mắng mỏ hạch tội; nhưng dáng vẻ ngóng trông của người mẹ kính yêu cùng mùi xúc xích nướng vàng rộm thơm lừng cuối cùng đã chiến thắng sự sợ hãi trong tôi.

Thế nhưng chẳng ai cạy miệng được nửa lời xem tôi đã đi đâu suốt cả ngày lẫn tối; dẫu họ có gặng hỏi tôi đến mức nào và chỉ chực lắc cho tôi văng cả người ra, nhất là Betty Muxworthy, kẻ chẳng bao giờ chịu để yên cho chuyện gì êm thấm. Chẳng phải họ ép tôi nói dối, dẫu rằng có nói dối cũng đáng đời họ vì cái tội tọc mạch vào chuyện của người khác; mà đơn giản là tôi cứ ngậm chặt miệng, cắm cúi đánh chén bữa tối một cách ngon lành, mặc cho họ tha hồ trêu chọc móc mỉa, rồi sau bữa ăn lại khiến họ phát điên lên bằng một nụ cười đầy vẻ bí hiểm. Thực ra tôi cũng có thể hé lộ cho họ đôi điều, như tôi đã bóng gió một hai lần; và thế là bác Betty tội nghiệp cùng con bé Lizzie nhà tôi phát cuồng lên vì tò mò, khiến tôi cười đến nghẹt thở vì đắc chí và tự thấy mình quan trọng làm sao, suýt chút nữa thì ngã nhào cả vào đống lửa.
Bấy giờ tâm trí tôi biến chuyển ra sao (nếu quả thực nó có hoạt động, chứ không đơn thuần chỉ hành động theo bản năng của thể xác), tôi cũng chẳng tài nào nói rõ; chỉ biết rằng hậu quả của chuyến phiêu lưu vào hẻm núi Doone là đêm nào tôi cũng nằm mơ thấy chuyện ấy, điều mà trước đây tôi hiếm khi gặp phải, và nó thôi thúc tôi lao vào tập bắn súng với lòng nhiệt thành và quyết tâm gấp bội. Không phải vì tôi nuôi mộng một ngày kia sẽ bắn hạ từng tên nhà Doone một, hay thậm chí có ý muốn làm vậy, bởi bản tính tôi vốn không hay thù hằn; mà dường như tôi thấy việc thuần thục cây súng là bổn phận của mình, một thứ mà tôi bắt buộc phải làm chủ cho kỳ được.
Giờ đây tôi đã có thể bắn trúng cửa kho thóc một cách tài tình bằng khẩu súng hỏa mai Tây Ban Nha, thậm chí bằng cả khẩu súng họng loe của John Fry ở cự ly tròn mười sải đất mà chẳng cần bất kỳ điểm tựa nào kê súng. Và điều tôi làm rất sai quấy, dẫu khi ấy tôi chưa nhận thức được, là tôi cứ giữ rịt John Fry ở đó từ sau bữa trưa cho tới tận lúc chập choạng tối chỉ để gã tấm tắc khen những phát bắn của tôi, trong khi đáng lẽ ra suốt ngần ấy thời gian gã phải đi cày đất vụ xuân ngoài đồng. Mà nói cho cùng thì bản thân tôi cũng nên đi làm việc đó, hay chí ít cũng phải đi dắt ngựa cày; nhưng John thì chẳng hề ngần ngại ở lại với tôi thay vì phải bám lấy đuôi cày. Mà thật vậy, người xứ chúng tôi có câu ngạn ngữ cổ rằng:
Và một câu tục ngữ khác cũng chẳng dở chút nào, dẫu có phần hoang phí và chẳng giống tính cẩn kiệm của người Scotland tẹo nào:
Và chẳng có người đàn ông Devonshire nào, hay Somerset cũng vậy (mà tôi thì mang dòng máu của cả hai xứ), lại đi nghĩ đến chuyện làm lụng vất vả hơn mức mà Chúa muốn thấy ở mình.
Dầu vậy, tôi vẫn miệt mài luyện súng, và đến khi đã bắn thủng tan nát cánh cửa gỗ thông đỏ bằng tất cả những mẩu chì cắt ra từ máng xối mái nhà thờ (trong chừng mực lương tâm tôi thấy có thể chấp nhận được), tôi bắt đầu khao khát có một thứ vũ khí tốt hơn, đỡ gây ầm ĩ và bắn chuẩn xác hơn. Nhưng rồi mùa xén lông cừu ập đến, tiếp theo là mùa gặt cỏ khô, rồi thu hoạch hoa màu, rồi đào thứ củ gọi là "batata" (một giống mới nhưng rất ngon ở vùng chúng tôi, dân làng quen gọi là "taties"), rồi đến lúc ủ táo cho mềm, ép rượu táo, xếp các đống củi khô, giăng lưới bẫy gà gô, và phải chăm nom những chiếc bẫy gài trong vườn cùng bờ giậu, nơi những chú chim sáo nhảy nhót trên các ụ đùn của chuột chũi vào những buổi sớm tháng Mười sương trắng, và lũ chim xám sà xuống tìm ốc sên vào lúc mặt trời vừa hé rạng.
Thời gian trôi đi nhanh đến lạ lùng khi ngần ấy công việc cùng bao chuyện khác cứ dồn dập đổ xuống như đẩy cỗ xe lăn nhanh xuống dốc, chẳng cho nó lấy một giây dừng lại để ngó nghiêng xung quanh. Và riêng phần mình, tôi không tài nào hiểu nổi những người sống nơi phố thị hoa lệ—nơi chẳng có lấy một chú cừu non hay cánh chim trời (họa chăng chỉ thấy trong tủ kính cửa hiệu), không có đồng lúa trổ bông, không có thảm cỏ xanh mượt mà, thậm chí chẳng có lấy một cành cây để đẽo gọt hay một bậc thang qua rào để trèo lên ngồi nghỉ—làm sao những con người tội nghiệp ấy có thể sống trọn một kiếp người mà không thấy chán chường đến tận cổ và chết mòn vì buồn tẻ rỗi rãi, đó là điều chỉ có Chúa mới thấu hiểu nổi, nếu lòng từ bi của Người còn đoái hoài nghĩ đến.
Một năm trôi qua thế nào tôi cũng chẳng rõ, chỉ nhớ rằng suốt ngày tôi lông bông ngoài trời, hết săn bắn lại câu cá, coi sóc nông trại, cưỡi ngựa đuổi theo mấy con gia súc lạc đàn, hoặc thơ thẩn bên bờ biển phía dưới Glenthorne, ngắm nhìn những con sóng lớn mà nung nấu ý định đi làm thủy thủ. Bởi những ngày tháng ấy, cũng như bao chàng trai khỏe mạnh khác, tôi đinh ninh tin chắc rằng mình sinh ra là để làm bạn với biển khơi. Thực ra tôi cũng từng bước chân xuống thuyền gần hai lần; nhưng lần thứ hai mẹ phát hiện ra, bà chạy đến lôi tôi xềnh xệch về; và sau bận ấy bà khóc lóc thảm thiết đến nỗi tôi đành phải hứa danh dự với bà rằng từ nay sẽ không bao giờ đi thuyền nữa nếu chưa xin phép mẹ.
Thế nhưng Betty Muxworthy lại bộc lộ suy nghĩ của mình theo một cách hoàn toàn khác, trong khi vừa vắt đôi tất dài của tôi vừa đập rầm rầm vào chiếc giá phơi đồ.
"Thủy thủ hả, đúng rồi đấy! Cho đáng đời cái ngữ nó. Ở nhà thì cấm có chịu rời chân khỏi nước, hễ đi đâu là phải lội xuống cho bằng được, hệt như con cóc cụ bì bõm dưới bùn, quậy bẩn thỉu đến mức tôi nhìn cái quần của nó thôi cũng đủ phát ốm cả người. Cái ngữ ấy thì ở yên trên tàu thế nào được, khi nước cứ réo ùng ục dưới chân rồi gió thổi sóng tạt lên ướt sũng. Cho nó đi đi bà chủ, tôi thì tôi bảo cứ cho nó đi ráo, để cho lão Davy dưới đáy biển giặt giũ quần áo hộ nó."
Tôi e rằng những lời ra tiếng vào cay nghiệt ấy của Betty còn có sức răn đe giữ chân tôi ở nhà hiệu quả hơn cả những lời van nài tha thiết của mẹ tôi. Bởi ngày đó tôi ghét cay ghét đắng Betty, hệt như lũ trẻ con bao giờ cũng ghét một người ở gắt gỏng, và thường hay quấn quýt những kẻ ngoài mặt ngọt ngào nhưng giả tạo. Nhưng Betty, cũng như bao người đàn bà xốc vác khác, chỉ giả tạo ở cái thói gắt gỏng bên ngoài mà thôi; có lẽ lúc ấy buông lời cay nghiệt thế rồi lại vội vã xách xô chạy đi làm việc khác; sẵn sàng chày cối đến cùng như đinh đóng cột nếu người ta đôi co cãi lý lại với bà; nhưng nếu mặc kệ bà một mình, bà lại dịu giọng ngay, chẳng khác nào bánh xà phòng hăng nồng ngâm trong chậu nước, cứ thế tự tan ra khắp mặt nước mà chẳng hề sủi bọt.
Thế nhưng những điều này lũ trẻ con làm sao hiểu được, mà ngay cả tôi lúc này, dẫu đã dạn dày kinh nghiệm trường đời, thực tình cũng chẳng hiểu nổi; bởi tôi chưa bao giờ hiểu được phụ nữ nghĩ gì, và sẽ chẳng bao giờ hiểu được trừ phi họ tự miệng nói ra, nếu quả thực họ có khả năng diễn đạt điều đó. Thôi thì hãy gác chuyện ấy sang một bên. Bởi lẽ dẫu nay tôi đã nắm giữ một chức vụ có đôi chút quyền uy, tôi nhận thấy chẳng có ai thèm lắng nghe mỗi khi tôi cố đem luật lệ ra giáo huấn; mà tất cả đều dỏng tai chờ xem tôi sẽ dùng biện pháp mạnh nào để thực thi nó. Và tôi trộm nghĩ, người đọc một cuốn truyện cũng chẳng mấy bận tâm đến sự khôn ngoan hay dại dột của người cầm bút (bởi thừa biết phần khôn ngoan của tác giả kém xa mình, còn phần dại dột thì lại nhiều hơn bội phần), mà họ chỉ nôn nóng muốn biết người trong cuộc đã làm những gì và họ đã xoay xở ra sao. Về điều này thì tôi hoàn toàn có thể kể tường tận, nếu trên đời có ai kể được, bởi chính bản thân tôi đã từng lăn lộn giữa tâm điểm của mọi biến cố.
Nỗi khiếp đảm tôi trải qua đêm nọ ở Thung lũng Doone đã khiến tôi cạch mặt suốt một thời gian dài sau đó; tôi cẩn thận đến mức chẳng dám bén mảng ra các cánh đồng hay cánh rừng thuộc rìa trang trại ngoài nếu không có John Fry đi cùng làm bạn. John vô cùng kinh ngạc và lấy làm hả dạ khi thấy giờ đây tôi lại coi trọng gã đến thế; cho đến khi, giằng xé giữa thói thích khoe khoang và niềm khao khát có người giãi bày, tôi dần dần thổ lộ gần như toàn bộ những gì đã xảy ra với mình; chỉ trừ chuyện về Lorna, bởi một nỗi ngượng ngùng vô cớ đã ngăn không cho tôi nhắc tới nàng. Không phải vì tôi không nghĩ đến nàng, hay không thường xuyên ao ước được gặp lại nàng; nhưng dĩ nhiên khi ấy tôi vẫn chỉ là một cậu bé con, mà đã là con trai thì hay có thói coi thường bọn con gái, xem chúng là giống chẳng tích sự gì, sinh ra chỉ để nghe sai bảo. Và mỗi khi tụ tập cùng đám con trai khác, chúng tôi bao giờ cũng nói về lũ con gái như vậy, nếu chúng tôi hạ mình đoái hoài nhắc tới, coi họ như những sinh vật bậc thấp, chỉ đáng mặt chạy việc vặt cho cánh đàn ông và ẵm bế mấy đứa bé trai mà thôi.
Ấy thế mà em gái Annie của tôi trên thực tế lại có ý nghĩa với tôi hơn cả lũ con trai trong toàn giáo xứ, cùng cả vùng Brendon và Countisbury gộp lại; dẫu vào thời điểm đó tôi chưa từng mảy may nghĩ tới điều ấy, và ắt sẽ cười phá lên nếu có ai bảo tôi như vậy. Annie có gương mặt rất ưa nhìn và cung cách vô cùng dịu dàng, một vài người còn khen con bé cốt cách hệt như một tiểu thư đài các; nhưng em tuyệt nhiên chẳng hề kiêu kỳ làm bộ làm tịch, mà chỉ một lòng muốn làm vừa lòng mọi người. Và nếu chẳng may làm hỏng việc, em sẽ lén chạy đi khóc một mình mà không để ai hay biết, bụng đinh ninh rằng lỗi lầm hoàn toàn do mình, dẫu phần lớn nguyên do là tại người khác. Nhưng nếu em làm vừa lòng được ai đó, thật đẹp đẽ xiết bao khi ngắm nhìn em mỉm cười, rồi đưa tay xoa nhẹ chiếc cằm mềm mại theo một thói quen rất riêng, cái điệu bộ em luôn làm mỗi khi ghi nhớ cách để lần sau lại làm vừa ý người ta. Đôi má em ửng hồng tươi tắn, đôi mắt xanh thẳm như vòm trời mùa xuân, dáng người em thẳng tắp như một cây táo non, khiến chẳng ai có thể kìm lòng mà không mỉm cười với em và âu yếm vỗ nhẹ lên những lọn tóc nâu bồng bềnh; những lúc ấy con bé bao giờ cũng khẽ nhún gối cúi chào. Bởi em chẳng bao giờ tìm cách lảng tránh ánh nhìn của những con người lương thiện; và ngay cả ngoài sân trang trại, em cũng sẵn sàng chạy lại đỡ yên ngựa giúp bạn, rồi đon đả kể (dẫu bạn chưa kịp hỏi) xem bữa trưa nay có những món gì.
Sau này lớn lên, em trở thành một thiếu nữ vô cùng duyên dáng, dong dỏng cao, với chiếc cổ thon thả và bờ vai trắng ngần tuyệt đẹp lấp ló dưới làn tóc uốn bồng bềnh tựa mây trời. Than ôi! Tội nghiệp cho Annie, cũng như bao thiếu nữ hiền thục khác—nhưng thôi nào, tôi đã kể đến đoạn ấy đâu; còn vào lúc bấy giờ, con bé dường như chẳng có gì đáng để tôi bận tâm ngắm nhìn, một khi đã được chiêm ngưỡng dung nhan kiều diễm của Lorna Doone.