
Người cha kính yêu của tôi đã bị bọn Doone vùng Bagworthy sát hại trên đường từ chợ Porlock cưỡi ngựa về nhà vào một tối thứ Bảy. Cùng đi với cha còn có sáu người bạn nông phu, ai nấy đều hết sức tỉnh táo; bởi cha chẳng bao giờ chịu giao du với kẻ nào uống quá nửa gallon bia hay một gallon rượu táo. Đám cướp chẳng hề có thù oán gì với cha; cha chưa từng sỉ vả chúng, cũng chẳng bao giờ làm ầm ĩ lên mỗi khi chúng cướp bóc người khác. Tính cha vốn liêm khiết đến mức nghiêm cẩn, lại luôn giữ tròn bổn phận với giáo xứ, cha hiểu rằng bảo vệ bản thân cùng của cải là việc riêng của mỗi người; trừ phi người đó thuộc về giáo xứ chúng tôi, khi ấy chúng tôi mới phải đứng ra che chở.
Bảy người nông dân chất phác ấy đang thong thả dạo bước, cùng nhau đỡ đần qua những đoạn đường gian nan trắc trở, miệng râm ran cất những bài thánh ca và làn điệu quen thuộc để thêm phần dũng khí, thì thình lình một kỵ sĩ chắn ngang lối đi ngay dưới trời đầy sao.
Qua trang phục, vũ khí, cùng vóc dáng đồ sộ in bóng dưới ánh sao hôm mờ ảo, họ nhận ra hắn ngay; tuy thoạt trông là cảnh một địch bảy, nhưng thực chất lại là một chọi một. Trong số sáu người vừa mới đây còn cất cao lời ca cùng các bài thánh vịnh ca ngợi quyền năng Thiên Chúa và sự cứu rỗi của linh hồn mình—những bài thánh ca dạo ấy người ta vẫn hay hát trong các quán trọ—chẳng một ai là không móc sạch túi tiền ra nộp, ngoan ngoãn cúi đầu trước kẻ nhà Doone.
Nhưng cha tôi xưa nay vẫn nghĩ rằng, phàm là kẻ đã được ấm thân trong chiếc áo khoác và gilê của mình thì chẳng đáng có bộ thứ hai, trừ phi chịu vung tay chiến đấu để giữ lấy chúng. Thế nên, trong khi đám bạn rụt rè ngả mũ, run rẩy với chút can khí còn sót lại, cha đã vung cây gậy lớn qua đầu, thúc ngựa xông thẳng vào tên cướp nhà Doone. Bằng một ngón điều khiển ngựa điêu luyện, gã thảo khấu hoang dã ấy tránh được cú tấn công bất ngờ, dù chắc hẳn gã phải kinh ngạc lắm khi thấy có kẻ dám chống cự lại mình. Rồi khi chú ngựa Smiler bị đà lao cùng thể trọng của cha lôi đi (vốn chẳng quen trận mạc, cũng chưa từng biết xoay trở ngoài chuyện đeo ách cày), tên cướp huýt sáo một tiếng giòn giã qua ngón tay cái, rồi quay sang vơ vét những người nông dân còn lại. Nhưng cha tôi, vừa ghì đầu ngựa Smiler hòng quay lại ứng cứu cho họ, đã thấy mình rơi vào vòng vây của cả chục gã đàn ông dường như từ đống than bùn chui ra, kẻ trên lưng ngựa, kẻ đi bộ dưới đất. Dẫu vậy, cha vẫn vung gậy đánh trả kịch liệt trong chừng mực mắt còn nhìn thấy được; với thân hình hộ pháp, sức vóc hơn người cùng máu nóng bốc lên ngùn ngụt, chúng chẳng dễ gì khuất phục được cha. Cổ tay cha thoăn thoắt vung gậy đập vỡ ba bốn cái sọ—xưa nay cha vẫn nức tiếng với môn đánh gậy một tay; đến mức những kẻ còn lại phải dạt ngựa ra xa, khiến cha ngỡ mình đã thắng thế và bụng bảo dạ sẽ về kể lại cho vợ nghe.

Thế nhưng, ngoài tầm với của cây gậy, có một kẻ đang thu mình bên đống than bùn, khẩu súng dài tì chắc trên vai; hắn đã nhắm trúng người cha tội nghiệp của tôi in hình trên nền trời, và phần sau câu chuyện tôi chẳng đành lòng kể lại nữa. Người ta chỉ biết chú ngựa Smiler tự tìm về nhà với vết máu đọng trên vai, còn cha thì đến sáng hôm sau mới được tìm thấy, nằm chết trên đồng hoang, bên dưới là cây gậy quấn dây thường xuân đã gãy đôi. Chuyện ấy liệu có phải là một trận chiến công bằng hay chăng, xin để mặc Chúa phán xét giữa nhà Doone và tôi.

Vào những tháng ngày đầy rẫy bạo tàn ấy, việc mẹ nhận ra mình đã thành goá phụ và đàn con mất cha mang lại nỗi xót xa nhiều hơn là kinh ngạc. Lũ con chúng tôi vỏn vẹn chỉ có ba đứa, chưa đứa nào đủ lớn để đỡ đần việc nhà, mà chỉ biết an ủi mẹ bằng cách khiến mẹ phải đầu tắt mặt tối làm lụng nuôi nấng. Tôi, John Ridd, là con cả, và cảm thấy đây là một gánh nặng đè trĩu lên vai; kế đến là em gái Annie, kém tôi chừng hai tuổi; và sau cùng là bé Eliza.
Thế rồi, trước khi tôi kịp về đến nhà và hay tin về nỗi mất mát đau thương này—chẳng đứa con nào yêu cha hơn tôi yêu người cha của mình—mẹ đã làm một việc vô cùng kinh ngạc, khiến cho tất thảy xóm giềng đều bảo ắt hẳn mẹ đã hoá điên. Vào sáng thứ Hai, trong khi xác chồng vẫn chưa được chôn cất, mẹ trùm một chiếc khăn trùm đầu màu trắng lên tóc, khoác quanh mình tấm áo choàng đen, rồi chẳng hỏi ý kiến một ai, cứ thế một thân một mình đi bộ thẳng đến cổng nhà Doone.
Đầu giờ chiều, mẹ tới lối vào trơ trọi và hoang vu, nơi thực chất chẳng có cánh cổng nào cả, chỉ là một khoảng tối tăm phải bước qua. Nếu câu chuyện này còn tiếp tục, rồi tôi sẽ phải kể về nơi ấy sau, đúng như những gì tận mắt tôi đã chứng kiến về sau này; còn lúc này tôi xin không nán lại kể dông dài. Chỉ biết rằng không có phát súng nào nhắm vào mẹ, người ta chỉ bịt mắt mẹ lại, rồi có ai đó dắt tay dẫn mẹ đi mà không hề có ý làm hại.
Mẹ chỉ còn nhớ đó là một con đường gập ghềnh và dốc đứng hiểm trở, bởi giữa lúc bị mũi sắt lạnh ngắt dí sát vào người, mẹ chẳng còn bụng dạ nào mà nghĩ ngợi cho tường tận. Đi hết con đường ấy, người ta tháo dải bịt mắt ra, và mẹ gần như chẳng dám tin vào mắt mình.
Bởi mẹ đang đứng ở đầu một thung lũng xanh rì thẳm sâu, như được tạc vào lòng núi theo hình bầu dục hoàn hảo, bao bọc chung quanh là vách đá dựng đứng cao chừng tám mươi hay một trăm bộ; từ bờ vực ấy, những ngọn đồi rậm rạp cây cối đen sẫm vươn vút lên tận trời mây. Bên cạnh mẹ, một con sông nhỏ từ lòng đất lượn lờ chảy ra, róc rách thì thầm trong bóng tối tĩnh mịch như chưa hề hay biết đến ánh ban ngày; rồi dòng nước sáng dần lên, trôi xuôi và đổ dồn xuống thung lũng. Đoạn chảy qua đồng cỏ, đôi bờ rợp bóng những hàng cây trăn, ngọn cỏ non xanh mơn mởn mọc chìa ra mép nước, còn những búi cói vàng tụ lại như đang đứng nhìn dòng nước chảy xiết qua mau. Nhưng xuôi xuống phía dưới, dọc theo hai bờ suối là những ngôi nhà lợp mái xây bằng đá, vuông vức và góc cạnh thô sơ, dựng lên như thể lấy dòng suối làm con đường cái chạy giữa các nhà. Chúng chỉ cao vỏn vẹn một tầng, không nằm đối diện nhau mà so le thụt thò như những quân ki; duy chỉ có ngôi nhà đầu tiên, hoá ra là dinh cơ của tên thủ lĩnh, nom như một dạng nhà đôi, hay đúng hơn là hai ngôi nhà được nối liền với nhau bằng một cây cầu ván bắc ngang dòng sông.
Mẹ tôi đếm được cả thảy mười bốn nếp nhà tranh, cái nào cũng na ná một kiểu, chẳng có gì khác biệt để so bì, hoạ chăng chỉ trừ nhà của tên thủ lĩnh. Nằm sâu trong thung lũng yên bình này, cách biệt khỏi mọi ồn ào, bạo lực và những cuộc đả ẩu—ngoài tiếng rì rào của dòng suối nhỏ—bất cứ ai thoạt nhìn cũng sẽ ngỡ đây là chốn nương thân của những tâm hồn chất phác và ngây thơ vô tội. Thế nhưng, chẳng một ngôi nhà nào ở đó lại không phải là hang ổ của những kẻ giết người.
Hai người đàn ông dẫn mẹ tôi xuống một bậc thang dốc đứng và trơn trượt, tựa như chiếc thang bắc lên vựa cỏ khô; rồi từ chỗ thác nước đổ, họ dẫn mẹ tới tận nhà của tên thủ lĩnh. Và ngay trước cửa, họ để mặc mẹ đứng đó run rẩy, dù lòng đã quyết gom hết can đảm để nói cho ra lẽ.
Nhưng nghĩ cho cùng, một góa phụ nông dân tầm thường như mẹ thì lấy quyền gì mà dám phiền lòng khi những đấng bậc quý tộc thấy thích giết chồng mình cơ chứ? Mà nhà Doone lại thuộc dòng dõi quyền quý tột bậc, điều đó lũ dân cày đất Exmoor chúng tôi ai ai cũng rõ; vả lại xưa nay chúng tôi đã được dạy dỗ chu đáo đến mức—dù ai có nói ngược lại đi chăng nữa—luôn cảm thấy mọi thứ mình có theo lẽ đương nhiên đều thuộc về những kẻ bề trên. Vì thế mà mẹ cảm thấy có phần xấu hổ khi không kìm nén được nỗi oán thán trong lòng.
Thế nhưng chỉ một lát sau, như lời mẹ kể, ký ức về người chồng lại ùa về, nhớ dáng người cha đứng bên cạnh ôm lấy mẹ bằng cánh tay vạm vỡ, nhớ cha thích ăn món thịt xông khói rán thế nào và khen ngợi mẹ dịu dàng ra sao—thế là nước mắt mẹ cứ trào ra, chẳng có gì ngăn lại nổi.
Một lão già cao lớn, chính là Sir Ensor Doone, bước ra ngoài với con dao tỉa cành trên tay, đôi găng tay làm vườn kéo cao tận bắp tay, trông chẳng khác nào một gã phu đào mương quèn. Chỉ có điều, nhìn vào khuôn miệng, ánh mắt, dáng đi, và nhất là giọng nói của lão, ngay cả một đứa trẻ cũng có thể nhận ra và cảm nhận được đây tuyệt nhiên không phải hạng phu phen đào rãnh. Có lẽ mãi về sau này, lão mới thấy có đủ lý do để ước ao giá như mình chỉ là một kẻ đào mương thực thụ.
Với mái tóc bạc lay động trên vai áo, lão dừng lại cúi nhìn mẹ tôi, và trước cái nhìn chằm chằm đen thăm thẳm ấy, mẹ bất giác phải nhún gối cúi chào.
“Này bà kia, bà không phải người của chúng ta. Ai đưa bà tới đây? Tuổi trẻ thì bồng bột—nhưng ta đã chán ngấy cái trò này lắm rồi.”
Lão cau mày nhìn mẹ vì nhan sắc mặn mà của bà; thế nhưng dưới hàng mi, ánh mắt lão lại có vẻ thích thú trước vẻ đẹp ấy. Nhưng đối với mẹ, đang chìm trong nỗi đau thương tột cùng của tình phu phụ, cái nhìn ấy như một sự sỉ nhục vào tiết hạnh của người phụ nữ; và trong cơn phẫn uất bùng lên, mẹ đã cất lời.
“Ông nói thế nghĩa là sao tôi chẳng hiểu. Đồ phản trắc! Đồ giết người! Đồ hèn hạ! Tôi đến đây là để đòi chồng tôi.” Mẹ chẳng thể nói thêm được lời nào nữa, bởi trái tim lúc này nghẹn lại, dâng ứ lên tận cổ họng và khoang miệng; nhưng đôi mắt mẹ vẫn mở to nhìn thẳng vào lão.
“Thưa phu nhân,” Sir Ensor Doone cất giọng—dù sao lão cũng xuất thân từ hàng quý tộc, dẫu là một kẻ quý tộc vô cùng tồi tệ—“ta xin bà thứ lỗi. Mắt ta đã già nua lẩm cẩm, bằng không ta đã nhận ra ngay. Giờ đây, nếu chúng ta có đang giam giữ chồng bà, ông ấy sẽ được thả tự do mà không cần tiền chuộc, xem như sự tạ lỗi vì ta đã trót mạo phạm bà.”
“Thưa ngài,” mẹ tôi thốt lên, nỗi đau xót bỗng chốc vỡ òa trước thái độ nhã nhặn của lão, “xin hãy để cho tôi được khóc một lát.”
Lão lùi ra xa một chút, dường như hiểu rằng trong lúc này đàn bà chẳng cần ai can thiệp. Và nhìn cách mẹ khóc, lão biết bọn họ đã giết chết chồng bà rồi. Bản thân từng nếm trải đau thương, lão không hề nổi giận với mẹ, mà kiên nhẫn chờ cho mẹ định thần lại.
“Tôi chẳng hề muốn,” mẹ vừa thổn thức chấm chiếc khăn tay màu đỏ mới tinh, vừa nhìn chăm chú vào hoa văn trên khăn, “thực tình chẳng muốn chút nào, thưa Sir Ensor Doone, khi phải buông lời buộc tội oan cho ai. Nhưng tôi đã mất đi người chồng tuyệt vời nhất mà Chúa từng ban cho một người phụ nữ; tôi biết ông ấy từ thuở ông ấy mới đứng cao đến thắt lưng ngài, còn tôi thì chưa ngang đầu gối ngài đâu, thưa ngài; vậy mà chưa từng một lần ông ấy nặng lời với tôi, hay chặn ngang lời tôi nói. Mọi việc cỏ cây trong vườn ông ấy đều giao cho tôi, cả việc muối thịt xông khói, ngày nào mổ lợn là tốt nhất, và phải bảo ban đám tớ gái ra sao. Không phải là tôi muốn đòi hỏi... ôi, mình ơi, thiếp thấy lạ lùng quá đỗi, mới tuần trước chàng còn là tất cả của thiếp cơ mà.”
Tới đây mẹ lại òa khóc nức nở, không gào thét lớn tiếng mà chỉ lặng lẽ quay mặt đi, bởi mẹ biết giờ đây sẽ chẳng còn ai thèm lau nước mắt cho mình nữa. Hàng năm mươi, hàng trăm chuyện vụn vặt diễn ra hằng tuần, hằng ngày bỗng chốc ùa về trong tâm trí, khiến lòng mẹ rã rời như vôi tôi sủi nước.
“Chuyện này phải điều tra cho rõ; phải làm sáng tỏ ngay lập tức,” lão già đáp lời, có phần lay động bất kể mọi sự lõi đời của mình. “Thưa phu nhân, nếu quả có điều oan khuất xảy ra, xin hãy tin vào danh dự của một người nhà Doone; ta sẽ dốc sức đền bù thỏa đáng. Xin mời vào trong nghỉ ngơi, để ta gặng hỏi chuyện này cho ra lẽ. Người chồng tốt của bà tên là gì, và nỗi bất trắc này xảy ra vào lúc nào, ở đâu?”
“Trời đất ơi,” mẹ tôi nói, khi lão kéo ghế mời mẹ ngồi vô cùng lịch thiệp, nhưng mẹ nhất quyết không chịu ngồi; “Sáng thứ Bảy tôi vẫn còn là một người vợ, thưa ngài; vậy mà đến tối thứ Bảy tôi đã thành góa phụ, đàn con tôi mất cha. Chồng tôi tên là John Ridd, thưa ngài, ai ai quanh đây cũng đều biết mặt; ở khắp xứ Somerset hay Devon này chẳng tìm đâu ra người đàn ông nào đàng hoàng và tốt bụng hơn ông ấy. Ông ấy đang trên đường từ chợ Porlock về, sau yên ngựa còn buộc tấm áo mới mua cho tôi, cùng chiếc lược vỏ sò để tôi búi tóc... ôi, mình ơi, chàng đối với thiếp tốt biết dường nào!”
Nghĩ tới đó mẹ lại không tài nào tin nổi nỗi đau này là thật, chỉ ngỡ như một cơn ác mộng do quỷ dữ gieo rắc, bởi điều đó quá đỗi tàn nhẫn đối với mẹ, và có lẽ chỉ chốc lát nữa thôi mẹ sẽ tỉnh giấc, rồi chồng mẹ sẽ cười xòa trêu chọc mẹ cho mà xem. Thế là mẹ vội gạt nước mắt, gượng cười và ngơ ngác nhìn quanh như tìm kiếm điều gì.
“Thưa phu nhân, đây quả là một việc hệ trọng,” Sir Ensor Doone ân cần nói, tỏ vẻ hết sức bận tâm: “Ta biết lũ trẻ nhà ta có phần ngỗ ngược. Nhưng ta không tin chúng lại nhẫn tâm hãm hại ai. Dẫu vậy... dẫu vậy, trông bà đúng là người phải chịu oan khiên. Gọi Quân sư đến đây cho ta,” lão đứng từ cửa nhà hét lớn; và tiếng gọi truyền vang dọc khắp thung lũng, “Đưa Quân sư đến gặp Thủ lĩnh.”
Quân sư Doone bước vào khi mẹ tôi còn chưa kịp hoàn hồn; và nếu như có cảnh tượng nào khiến mẹ phải kinh ngạc giữa lúc mọi nhận thức về phải trái đúng sai đã đảo lộn vì biến cố, thì đó chính là diện mạo của viên Quân sư. Đó là một gã đàn ông người vuông vức, sức mạnh phi thường, nhưng thấp hơn tầm vóc chung của người nhà Doone một bộ (điều mà tôi sẽ miêu tả sau này), gã mang bộ râu dài màu xám xơ xác rủ tận xuống đai lưng da. Đôi lông mày rậm rạp sụp xuống khuôn mặt như đám thường xuân leo quanh gốc sồi trụi ngọn, bên dưới là đôi mắt to tròn màu nâu, tựa như mắt cú mèo lúc ủ rũ rỉa lông. Gã có tài giấu biến ánh mắt đi, hoặc khiến nó rực sáng như ngọn lửa bùng cháy. Gã đứng đó, tay cầm chiếc mũ lông hải ly, mẹ cố nhìn gã nhưng dường như gã chẳng thèm đoái hoài nhận ra sự có mặt của bà.
“Quân sư,” Sir Ensor Doone đứng thẳng người, vượt trội hơn gã về chiều cao, cất giọng, “ở đây có một vị phu nhân danh giá—”
“Ôi, không dám, thưa ngài; tôi chỉ là một người đàn bà tầm thường thôi.”

“Xin phu nhân thứ lỗi cho, cứ để ta nói. Này Quân sư, đây là một vị phu nhân rất có uy tín ở vùng này, người đang tố cáo nhà Doone đã sát hại chồng bà một cách oan ức—”
“Giết người! Rõ ràng là giết người!” mẹ tôi kêu lên, “nếu trên đời này còn có chuyện giết người cướp của. Ôi, thưa ngài! Ôi, thưa ngài! Ngài biết rõ điều đó mà.”
“Lẽ phải và sự thật tuyệt đối của vụ việc là tất cả những gì ta muốn biết,” lão già nói một cách vô cùng trịch thượng: “và công lý sẽ được thực thi, thưa phu nhân.”
“Ôi, tôi xin các ngài... xin các ngài đừng xem đây như một món việc làm ăn. Xin Thiên Chúa trên trời cao hãy chứng giám cho tôi!”
“Xin cứ trình bày vụ việc,” viên Quân sư nói.
“Sự việc là thế này,” Sir Ensor đáp, đưa một tay ra hiệu cho mẹ tôi: “Người chồng đáng kính của phu nhân đây dường như đã bị giết trên đường từ chợ Porlock trở về, mới tối thứ Bảy vừa rồi thôi. Thưa phu nhân, nếu ta nói có gì sai xin bà cứ chỉnh lại.”
“Mới tối hôm đó thôi, thật sự là vậy, thưa ngài. Có lúc tôi thấy như đã qua cả năm trời, nhưng có lúc lại ngỡ mới trôi qua chừng một giờ trước.”
“Cho biết tên hắn,” Quân sư nói, đôi mắt vẫn cụp xuống vẻ soi xét.
“Là ông John Ridd, theo ta được biết. Này Quân sư, chúng ta đã nghe danh ông ta nhiều lần; một người đáng kính và yêu chuộng hoà bình, xưa nay chưa từng can dự vào công việc của chúng ta. Giờ đây, nếu đứa nào trong đám trẻ nhà ta hành xử thô bạo, chúng sẽ phải trả giá đắt. Nhưng ta khó lòng tin được chuyện này. Bởi dân chúng quanh vùng này thường hay hiểu sai về nỗi khổ của chúng ta, và chẳng hề có chút cảm thông nào cho chúng ta cả. Quân sư, ông là người nắm rõ mọi việc và vốn rất nghiêm khắc với người nhà; hãy kể xem sự vụ xảy ra thế nào.”
“Ôi, thưa ngài Quân sư!” mẹ tôi kêu lên; “Thưa ngài Quân sư, ngài sẽ công minh mà; nhìn diện mạo ngài là tôi biết ngay. Xin hãy nói cho tôi biết đó là ai, và cho tôi được đối chất mặt đối mặt với hắn, tôi sẽ đội ơn ngài, rồi Chúa sẽ ban phước cho ngài và con cái ngài.”
Gã người vuông vức với chòm râu dài màu xám chẳng hề mảy may xúc động, gã lùi lại phía cửa rồi cất giọng, tiếng nói của gã ầm ừ như đá lở dưới đáy hầm mỏ.
“Chuyện này chỉ vài lời là đủ rõ. Bốn hay năm vị quý tộc đứng đắn và hiền lành bậc nhất của chúng ta có đem theo một món tiền lớn tới phiên chợ nhỏ ở Porlock. Họ mua một số đồ dùng và tiện nghi gia đình với giá rất đắt, rồi thúc ngựa lên đường về nhà, tránh xa đám người chè chén tục tằn. Khi họ ghìm cương cho ngựa nghỉ bên đống than bùn, giữa đêm tối mịt mùng ập xuống, thì một tên cướp vóc dáng hộ pháp và khỏe như hùm tế ngựa xông vào giữa họ, toan đường sát hại hoặc uy hiếp. Thói ngạo mạn và liều lĩnh của hắn thoạt đầu khiến họ kinh ngạc, nhưng họ quyết không chịu khoanh tay để mất số của cải được ủy thác trong tay. Hắn đã đánh ngất ba người trong số họ, bởi sức mạnh nơi cánh tay hắn thật khủng khiếp; thế là người cuối cùng buộc phải dùng súng lục để đỡ đòn của hắn. Thưa ngài, chính là Carver, chàng Carver dũng cảm và cao quý của chúng ta, người đã cứu mạng các anh em và chính bản thân mình; và họ mừng khôn xiết khi thoát thân được. Dẫu sao, chúng tôi cũng chỉ mong đó là một vết thương phần mềm, chứ không nỡ tiễn hắn về thế giới bên kia giữa lúc còn mang nặng tội lỗi.”
Khi câu chuyện dối trá tột cùng ghê tởm ấy cứ từng đốt từng đoạn phơi bày ra trước mắt mẹ, chẳng khác nào loài bọ “ngựa ma quỷ”,* mẹ bàng hoàng đến mức chỉ biết trố mắt nhìn gã, như thể đất trời sắp nứt toác ra đến nơi. Nhưng thứ duy nhất mở to ra lại là cặp mắt nâu lớn của viên Quân sư, đang nhìn xoáy vào khuôn mặt mẹ tôi với vẻ đượm buồn giả tạo khi gã nhắc tới hai chữ “tội lỗi”.
* Tên dân gian vùng Tây Nước Anh dùng để gọi loài bọ cánh cứng đuôi vểnh.
Không thể chịu nổi cái nhìn ấy, mẹ đột ngột quay sang Sir Ensor, và (theo mẹ cảm nhận) bắt gặp một nụ cười thoáng hiện trên môi lão cùng một vẻ thích thú ngấm ngầm.
“Tất cả người nhà Doone đều là những bậc quý ông,” lão già nghiêm nghị đáp, nét mặt làm bộ như thể chưa từng biết cười từ thuở lọt lòng. “Chúng tôi luôn sẵn lòng giải thích, thưa phu nhân, về bất kỳ sự hiểu lầm nào mà đám dân quê có thể quy kết cho chúng tôi; và chúng tôi muốn bà hiểu rõ một điều rằng chúng tôi không hề buộc tội người chồng khốn khổ của bà có mưu đồ cướp bóc định trước, chúng tôi cũng sẽ không đâm đơn kiện để tịch thu tài sản của ông ta. Có phải vậy không, thưa Quân sư?”
“Không nghi ngờ gì nữa, đất đai của hắn đáng bị tịch thu; trừ phi ngài rủ lòng từ bi lượng thứ, thưa ngài.”
“Quân sư, chúng ta sẽ rộng lượng bỏ qua. Thưa phu nhân, chúng tôi tha thứ cho ông ấy. Rất có thể vào đêm hôm khuya khoắt như thế, ông ấy đã chẳng còn phân biệt nổi đúng sai. Rượu ở Porlock nặng lắm, và ngay cả một người lương thiện cũng có thể dùng gậy gộc một cách bất minh trong cái thời buổi bạo lực và cướp bóc vô pháp vô thiên này.”
Nhà Doone mà lại mở mồm nói về chuyện cướp bóc! Đầu óc mẹ tôi quay cuồng đến mức chỉ biết nhún gối cúi chào cả hai kẻ đó, hầu như chẳng còn biết mình đang ở đâu, chỉ cố giữ tròn phép xã giao. Trong suốt thời gian ấy, mẹ luôn cảm thấy một luồng hơi ấm dâng lên trong lòng, mách bảo rằng lẽ phải thuộc về mình, vậy mà mẹ lại chẳng biết làm cách nào để giãi bày trước mặt chúng. Nói đoạn, mẹ vội vã lau khô nước mắt rồi bước ra ngoài làn không khí lạnh buốt, sợ rằng mình sẽ lỡ lời nói ra điều dại dột.
Thế nhưng khi mẹ đã ở trên đường về, dưới sự áp giải của đám lính gác, mắt mẹ bị bịt kín lại, như thể đôi mắt ấy chưa đủ mù lòa vì khóc than, thì có ai đó từ phía sau hối hả chạy tới, nhét một chiếc túi da nặng trĩu vào bàn tay buông thõng mềm nhũn của mẹ.
“Thủ lĩnh gửi bà món này,” hắn thì thầm; “cứ cầm lấy đem về cho lũ trẻ.”
Thế nhưng mẹ đã buông tay để nó rơi đánh bịch xuống đất, như thể vừa chạm phải một con rắn mù; rồi lần đầu tiên trong đời, mẹ quỳ sụp xuống trước mặt Thiên Chúa, tủi nhục đến tận cùng khi thấy ngay cả bọn Doone cũng quay sang thương hại mình.