Lorna Doone: Bản Tình Ca Exmoor

Lượt đọc: 162 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15
Trát Lệnh Nào?

❊ ❊ ❊

Hôm sau, bác Huckaback làm vẻ đầy bí hiểm, yêu cầu mẹ tôi cắt cử một người hộ tống ông tới một chốn hiểm nguy mà công việc buộc ông phải dấn thân vào. Mẹ tôi bèn đáp rằng ông cứ tự nhiên dắt theo John Fry; nghe vậy, bác thợ vải cười lớn, bảo John Fry chẳng bõ bề ngang, phải một gã John khác mới kham nổi việc này. Không chỉ vì vóc dáng hộ pháp của nó, mà ngộ nhỡ nó có bị bắt cóc thì khắp xứ Exmoor này người ta cũng sẽ xới tung từng tảng đá lên mà tìm cho bằng được. Nghe tới đó, mặt mẹ tôi tái mét. Mẹ viện ra đủ năm mươi lý do để ngăn không cho tôi đi, mà lý do nào nghe qua cũng có vẻ nặng ký hơn nguyên cớ thực sự, đúng như lời Eliza (vốn hay ghen tị với tôi) thì thào vào tai Annie. Về phần mình, ngay khi việc vừa được nhắc tới, tôi đã hạ quyết tâm sẽ đi theo bảo vệ bác Reuben cho trọn vẹn; được làm vệ sĩ cho một người giàu có bậc ấy cũng khiến lòng tự tôn của tôi nở hoa không ít. Thế nên, chẳng mấy chốc tôi đã dỗ dành được mẹ, để mẹ gục đầu vào ngực tôi mà ưng thuận cho tôi đi, phó thác mọi sự cho Chúa. Nhưng rồi sau đó, tôi bực mình biết bao khi vỡ lẽ ra rằng cái chuyến đi hiểm nguy kia chẳng qua chỉ là tới thăm Nam tước de Whichehalse, đệ đơn tố giác hòng xin một trát bắt giữ lũ Doone, kèm theo một đội dân binh để thi hành trát lệnh.

Xưa nay tôi vốn khờ khạo, và ắt hẳn sau này cũng chẳng khôn hơn được, nhưng tôi thừa sức bảo cho bác Reuben biết chuyến đi này cũng dại dột chẳng kém gì trò ngớ ngẩn của mấy kẻ xứ Gotham; rằng bác đừng hòng xin được Hugh de Whichehalse trát bắt nhà Doone; hơn nữa, dẫu có xin được mảnh giấy ấy đi chăng nữa, thì khéo mớ tóc giả trên đầu bác cũng bị thiêu cháy rụi theo. Song vì nhiều lẽ, tôi vẫn nín thinh: phần vì tuổi trẻ còn e dè, phần vì háo hức muốn mở mắt trông thấy bất cứ điều gì Chúa sắp đặt cho thấy, và cũng phần vì những nguyên do khác nữa.

Chúng tôi men theo đường qua thị trấn Brendon, cầu Illford và Babbrook để tránh ngọn đồi dốc đứng phía trên Lynmouth; tiết trời lại trở nên quang đãng, khiến tôi phải phì cười thầm trước bao nỗi phòng ngừa cẩn thận quá mức của bác Reuben. Tới Trang viên Ley, chúng tôi được tiếp đón rất đỗi lịch thiệp tại đại sảnh, được thết đãi bia ngon cùng thịt thủ lợn cuốn và một phần bánh pudding Giáng sinh còn lại. Chưa bao giờ tôi được đặt chân dưới một mái nhà lộng lẫy nhường ấy (trừ phi đó là nhà thờ), nên việc được giới quý tộc quyền quý đối đãi tử tế làm tôi mát lòng mát dạ vô cùng. Có điều, bác Reuben lại hơi phật ý vì bị xếp ngồi chung bàn với một gã tiểu thương nghèo hèn cũng tới đó vì việc riêng, kẻ đã bạo gan nâng cốc chúc sức khỏe bác sau khi cả hai cạn xong sừng bia.

“Này ông bạn,” bác Ben nhìn gã, nói, “sức khỏe của ta sẽ khá hơn nhiều đấy, nếu ông chịu trả ta ba bảng mười hai shilling mà ông nợ suốt năm năm qua; nay tình cờ gặp nhau tại dinh quan tòa thế này, âu cũng là dịp tiện lắm thay.”

Sau đó, chúng tôi được gọi vào phòng xét xử, nơi chính quan Nam tước đang ngồi cùng Đại tá Harding, một vị quan bảo an khác của Nhà vua có mặt để phụ tá. Tôi từng giáp mặt Nam tước de Whichehalse trước đây nên chẳng mảy may sợ sệt; ngài biết tôi từng học chung trường với con trai ngài, nên đối đãi với tôi hết sức hòa nhã. Mà thực ra ngài vốn nhân hậu với tất thảy mọi người, dân chúng trong vùng ai nấy đều ngợi khen ngài; người ta lại càng thương kính hơn khi biết gia tộc ngài đang trên đà sa sút. Bởi lẽ vị tổ tiên De Whichehalse đầu tiên vốn là một đại quý tộc đến từ Hà Lan từ chừng một trăm năm mươi năm trước. Bị bức hại vì tôn giáo vào thời quyền lực Tây Ban Nha bao trùm tất cả, ông đã trốn sang Anh với tất cả của nả vớt vát được, rồi mua những điền trang rộng lớn ở Devonshire. Kể từ dạo đó, hậu duệ của ông đã kết thông gia với các dòng dõi lâu đời trong hạt, như nhà Cottwell, Marwood, Walrond, Welse xứ Pylton, và Chichester xứ Hall; không ít vị phu nhân đã mang về cho họ những khối tài sản kếch xù. Nhờ vậy, vào khoảng năm mươi năm trước thời điểm tôi viết những dòng này, khắp miền Tây nước Anh hiếm có cái tên nào được trọng vọng hơn De Whichehalse. Thế nhưng giờ đây, họ đã đánh mất phần lớn đất đai, và theo đó là thứ luôn gắn liền với đất đai tựa hồ danh tiếng gắn liền với cõi đời—tôi muốn nói đến uy danh lẫy lừng một thuở. Chẳng ai hiểu vì sao họ lại khánh kiệt, chỉ biết rằng nếu các thế hệ đầu tiên có tài tích cóp bao nhiêu, thì những kẻ sinh sau đẻ muộn lại thừa mứa cái tài vung tay quá trán bấy nhiêu. Liệu điều này có phải do dòng máu thuần phác xứ Devonshire đã khơi thông van xả của huyết quản vùng Hạ Đất hay không, điều đó vượt quá tầm hiểu biết lẫn khả năng tra cứu của tôi. Dù sao chăng nữa, người đời vẫn yêu mến thế hệ De Whichehalse sau cùng này hơn hẳn cái danh xưng của một thế kỷ trước.

Hugh de Whichehalse, một người đàn ông tóc bạc phơ với phong thái vô cùng cao quý, đôi mắt xanh đượm vẻ thân tình, vầng trán phẳng phiu hiền từ, chiếc mũi khoằm tuyệt đẹp (như thể nét thanh tú trên gương mặt một lệnh bà quý phái) cùng đôi môi mỏng uốn cong duyên dáng, đã đứng dậy khi chúng tôi bước vào phòng; trong khi đó, Đại tá Harding chỉ xoay người trên ghế, gõ lách cách hai chiếc đinh thúc ngựa vào nhau. Tôi dám chắc rằng, dẫu chẳng biết tí gì về hai người, ta cũng sẽ kính trọng kẻ biết tôn trọng mình hơn. Vậy mà cứ mười bậc quý thân thì có đến chín người phạm phải cái sai lầm thiển cận ấy khi đối đãi với tầng lớp dưới!

Bác Reuben cúi mình chào theo kiểu cung kính nhất có thể, rồi bước lại gần bàn, cố làm ra vẻ như không hề biết mình giàu hơn cả hai vị kia gộp lại. Dĩ nhiên bác chẳng lạ lẫm gì họ, và tôi cũng vậy; về sau tôi mới hay Đại tá Harding còn nợ bác một món tiền lớn, có thế chấp đàng hoàng. Bác Reuben chẳng thèm đếm xỉa đến viên đại tá, mà chỉ hướng về phía De Whichehalse.

Vừa nghe rõ mục đích của chuyến viếng thăm, quan Nam tước liền mỉm cười hết sức hòa nhã, rồi ôn tồn đáp lại.

“Trát bắt nhà Doone ư, bác Huckaback? Phiền bác nói rõ là bắt người nào nhà Doone; và tên thánh của họ là chi?”

“Bẩm quan lớn, tôi đâu phải cha đỡ đầu của chúng; vả lại lũ chúng nó chắc gì đã có tên thánh. Nhưng ai nấy đều biết danh lão Ensor, thiết nghĩ điều đó chẳng thể làm trở ngại.”

“Lão Ensor Doone và các con trai—cứ cho là vậy đi. Thế có bao nhiêu mụn con trai hả bác Huckaback, và tên từng đứa là gì?”

“Làm sao tôi biết được, bẩm quan lớn, dẫu tôi có quen mặt chúng như mấy đứa nhỏ phụ việc trong tiệm mình đi chăng nữa? Cơ mà bọn chúng có bảy đứa cả thảy, điều ấy ắt chẳng thể làm trở ngại.”

“Trát bắt Ngài Ensor Doone cùng bảy người con trai của Ngài Ensor Doone, tên thánh không rõ, mà cũng hồ nghi không biết có hay không. Tạm thời cứ ghi nhận thế đã, bác Huckaback. Ta đã ghi chép đầy đủ vào đây rồi. Đích thân Ngài Ensor cũng có mặt ở đó, hẳn nhiên là vậy, theo như lời khai của bác—”

“Không, không, bẩm quan lớn, tôi đâu có nói thế: tôi chưa từng nói—”

“Nếu ông ta chứng minh được mình không có mặt tại hiện trường, bác có thể bị truy tố về tội khai man đấy. Còn về bảy người con trai kia, lẽ dĩ nhiên bác có thể thề độc rằng chúng là con trai chứ không phải cháu gọi bằng chú, cháu nội ngoại, hay thậm chí chẳng mang họ Doone chứ?”

“Bẩm quan lớn, tôi xin thề chúng đích thị là người nhà Doone. Hơn nữa, tôi thừa sức bồi thường cho bất cứ sai sót nào của mình. Chuyện đó chẳng thể làm trở ngại.”

“Ồ phải, lão ấy bồi thường được; lão thừa tiền mà,” Đại tá Harding buông một câu cộc lốc.

“Ta hết sức mừng khi nghe điều đó,” quan Nam tước nhã nhặn đáp; “bởi rốt cuộc nó chứng minh vụ cướp này (nếu quả thực có một vụ cướp) chưa đến mức khiến bác khuynh gia bại sản. Đôi khi người ta cứ ngỡ mình bị cướp, rồi sau đó lại thấy thật ngọt ngào khi nhận ra chẳng mất mát gì; bởi điều đó càng làm tăng thêm niềm vui giữ được của cải. Nào, bác có hoàn toàn tin chắc rằng những kẻ đó (nếu thực sự có những kẻ như thế) đã trộm, cướp, hay thậm chí chỉ là mượn của bác bất cứ thứ gì không?”

“Bẩm quan lớn, ngài nghĩ tôi say rượu chắc?”

“Ta không hề có ý đó, bác Huckaback. Dẫu vào độ này trong năm thì có quá chén cũng là chuyện dễ lượng thứ. Nhưng làm sao bác biết đích xác những vị khách kia thuộc về gia tộc này?”

“Vì chẳng thể là ai khác được. Vì dẫu sương mù có dày đặc—”

“Sương mù!” Đại tá Harding giật thốt lên.

“Sương mù!” Quan Nam tước nhấn mạnh từng chữ. “À, thế thì rõ mười mươi rồi. Phải rồi, giờ ta mới nhớ ra, dạo này trời mù mịt đến mức người ta còn chẳng nhìn thấy nổi đầu ngựa của chính mình. Lũ Doone (nếu trên đời còn sót lại đứa nào họ Doone) đời nào lại đi ra ngoài vào tiết trời ấy; điều đó chắc như cua gãy càng. Bác Huckaback à, vì lợi ích của bác, ta thật lòng mừng vì lời cáo buộc này đã không thành. Giờ thì ta hoàn toàn thấu hiểu rồi. Mọi chuyện đều do sương mù mà ra cả thôi.”

“Về đi, bác bạn già,” Đại tá Harding nói; “đợi hôm nào trời quang mây tạnh, bác sẽ thấy mọi đồ đạc vẫn nằm nguyên chỗ cũ mà thôi. Ta đây quá hiểu cái cảnh mắc kẹt trong sương mù Exmoor nó ra làm sao rồi.”

Đến nước này thì bác Reuben điên tiết đến mức chẳng còn biết mình đang nói gì nữa.

“Bẩm quan lớn, thưa quan Đại tá, công lý của các ngài là thế này đây sao! Dẫu có phải lặn lội lên tận London, tôi cũng phải cho Đức Vua hay chức phận được ngài ủy thác đang ra sao—rằng một người bị cướp bóc trắng trợn, để rồi các vị thẩm phán lại chứng minh ông ta mới là kẻ đáng bị treo cổ; rằng ngay trên mảnh đất Somerset trù phú của Ngài—”

“Xin thứ lỗi cho ta ngắt lời một chút, bác bạn hiền,” De Whichehalse can thiệp; “nhưng sau khi nghe tường trình vụ việc, ta định nêu ra một điểm chắc chắn sẽ là trở ngại, và e rằng là trở ngại chí mạng, ngay cả khi bác đưa ra được bằng chứng xác thực về một trọng tội. Vụ phạm pháp ấy (nếu có) xảy ra trên đất hạt Somerset; trong khi hai kẻ tôi tớ mọn mằn này của Đức Vua chỉ được giao quyền giữ gìn an ninh trật tự cho hạt Devon mà thôi, bởi vậy chúng tôi tuyệt đối không có thẩm quyền thụ lý.”

“Thế thì vì cớ làm sao, nhân danh Chúa,” bác Reuben thét lên, lần này thì thực sự mất hết kiên nhẫn, “sao các ngài không nói toẹt ra ngay từ đầu, để đỡ làm tốn thời gian và làm tổn thọ tôi? Các quý ngài đều cùng một giuộc cả; các người bao che cho nhau hết. Các người coi việc một thương nhân lương thiện, không hề giả dối như các người, bị cướp bóc suýt mất mạng chỉ là trò tiêu khiển vui vẻ, miễn sao lũ thủ phạm có được cái quyền quý tộc để làm điều xằng bậy! Nếu một kẻ trộm cừu khốn khổ, vì muốn cứu đàn con thơ khỏi chết đói, mà dám bén mảng ngó tới một con cừu hai tháng tuổi, thì hắn đã bị treo cổ lơ lửng trên giá treo của Trang viên, và các người sẽ đồng thanh reo hò: ‘Tống khứ được một mối họa!’ Thế nhưng giờ đây, chỉ vì cái gốc gác danh giá cùng thói mất dạy—” Đến đây, tội nghiệp bác Ben, do thể lực chưa hồi phục sau đợt bị lũ Doone vần vò, mép bác bắt đầu sùi bọt mép, và lưỡi bác thụt cả vào hõm má nơi có chòm râu xám ngắn ngủn.

Tôi chẳng nhớ nổi chúng tôi đã rời khỏi đó bằng cách nào, chỉ biết tôi đã bàng hoàng khôn xiết khi thấy bác dám vuốt râu hùm như vậy, còn mẹ tôi thì bối rối đến mất phương hướng khi nghe tôi kể lại đầu đuôi câu chuyện. “Chắc chắn là con sai rồi, John à,” mẹ tôi chỉ thốt ra được ngần ấy lời; mặc dù tôi nào có làm gì ngoài việc đứng nghe và ngả mũ chào mỗi khi được gọi tới. “John này, con cứ nghe mẹ, con làm thế là không phải phép đâu. Cha con mà còn sống hẳn sẽ bàng hoàng lắm khi nghĩ đến chuyện tới dinh Nam tước de Whichehalse mà lại buông lời xúc phạm ngài ngay dưới mái nhà của ngài! Thế nhưng con cũng gan dạ lắm, John ạ. Đúng là tính nết của con, chẳng lẫn vào đâu được. Và (vì ở đây chẳng có cánh đàn ông nào, John yêu quý của mẹ) mẹ thấy tự hào về con vì điều đó.”

Suốt dọc đường về, bác Ben im lặng như thóc, lòng đầy bực bội với chính mình và càng cay cú người khác hơn. Nhưng trước khi đi ngủ đêm đó, bác chỉ bảo tôi: “Cháu Jack này, cháu đối xử với bác không đến nỗi tệ như những kẻ khác. Và vì cháu không có cái tật ba hoa chích chòe, bác nghĩ mình có thể tin cháu được. Nào, hãy nhớ lấy lời bác, cái vụ đốn mạt này chưa kết thúc ở đây đâu. Bác vẫn còn một quân bài khác để lật.”

“Ý bác là, thưa bác, cháu đoán bác sẽ tìm đến các vị quan tòa của hạt ta, như Điền chủ Maunder, hay Ngài Richard Blewitt, hoặc—”

“Đồ ngốc, bác đâu có thèm làm cái trò đó; bọn họ cũng sẽ chỉ biến bác thành trò cười như mấy gã xứ Devonshire kia mà thôi. Không, bác sẽ tìm đến đích thân Đức Vua, hoặc một nhân vật còn quyền thế hơn cả Vua, người mà bác có thể dễ dàng diện kiến. Bác chưa nói tên ông ta cho cháu biết vội, nhưng nếu có ngày cháu bị giải đến trước mặt ông ta, cả đời cháu sẽ không bao giờ quên được.” Nhân tiện cũng xin nói thêm, điều đó hoàn toàn là sự thật, như sau này tôi mới vỡ lẽ, bởi người bác muốn ám chỉ chính là Quan tòa Jeffreys.

“Thế bao giờ bác mới gặp được ngài ấy ạ?”

“Có thể là mùa xuân, hoặc giả phải đợi đến mùa hè, vì bác không thể cất công lên London chỉ vì việc này, mà phải đợi khi nào có mối làm ăn đưa đường. Chỉ cần nhớ kỹ lời bác, Jack à, khi nào gặp người đó, hãy nhìn thẳng vào mắt ông ta và tuyệt đối chớ có nói dối nửa lời. Bác đồ rằng ông ta sẽ khiến mấy gã điền chủ ngớ ngẩn của xứ các người phải run như cầy sấy cho mà xem. Giờ thì, vì cái vụ bạo hành này mà bác đã phải chôn chân ở cái xó hẻo lánh này lâu hơn dự tính; song bác sẽ ở lại đây thêm một ngày nữa với một điều kiện.”

“Điều kiện gì hở bác Ben? Cháu rất buồn vì bác thấy ở đây buồn tẻ. Chúng cháu sẽ lại mời Bác nông dân Nicholas tới, rồi cả phường hát xướng, và—”

“Cả mấy cô ả vắt sữa làm bộ làm tịch nữa chứ gì. Xin kiếu, để ta yên. Lũ con gái ấy ỏn ẻn ầm ĩ quá, ta chịu không thấu. Có con Nanny nhà cháu là đủ rồi. Nanny là đứa ngoan, rồi nó sẽ lên chơi với bác.” Bác Reuben bao giờ cũng gọi con bé là “Nanny”; bác bảo cái tên “Annie” nghe đài các và sặc mùi quý tộc Pháp quá, không hợp với nhà chúng tôi. “Nhưng điều kiện của bác là thế này, Jack—ngày mai, cháu phải dẫn bác đi, tuyệt đối không được hé răng với bất kỳ ai, đến một nơi nào mà bác có thể nhìn bao quát được sào huyệt của lũ Doone khốn nạn, và tìm ra con đường tốt nhất để đột kích chúng khi thời cơ đến. Cháu làm được việc này cho bác chứ? Bác sẽ trả công cháu hậu hĩnh, hỡi chàng trai.”

Tôi sốt sắng nhận lời sẽ dốc sức giúp bác, nhưng dĩ nhiên là dứt khoát không lấy tiền, vì nhà tôi đâu đã đến nỗi túng bấn đến mức ấy. Thế là sang ngày hôm sau, tôi tìm cách cắt đặt đám người làm sang làm việc ở phía bên kia nông trại, nhất là cái gã John Fry tọc mạch và bắng nhắng, kẻ luôn sẵn sàng xoi mói đủ thứ chuyện chỉ để thỏa cái thú về kể lại cho mụ vợ; đoạn, để bác Reuben cưỡi lên lưng con ngựa già Peggy của tôi, tôi rảo bước hướng về phía tây ngay sau bữa điểm tâm. Bác Ben khăng khăng không chịu đi trừ phi tôi mang theo một khẩu súng đã nạp đạn, và quả thực trong thời buổi tao loạn ấy, làm vậy luôn là điều khôn ngoan; nhất là dạo gần đây cừu nhà tôi bị lột da mất tích nhiều hơn hẳn lệ thường. Lẽ dĩ nhiên điều này chẳng thể đổ lên đầu thói phàm ăn của nhà Doone, bởi chúng luôn rêu rao rằng mình không phải quân đồ tể (dẫu về chuyện này người ta còn lắm lời dị nghị); thói quen của chúng là bắt cánh chăn cừu phải giết mổ, lột da, xẻ thịt sẵn cho chúng, và đôi khi còn phải mang những con cừu béo tốt nhất tới tận Cổng Doone, cốt để tránh bị dập nát làm mất mỹ quan khi dọn lên bàn ăn. Song tệ hại nhất là những kẻ ngu muội, chẳng hay biết thói kén cá chọn canh của chúng, cứ hễ mất cừu vào tay bọn thảo khấu hạ đẳng là lại quy hết cho nhà Doone, rồi đâm sợ chẳng dám ho he nửa lời: và hậu quả của sự nhầm lẫn ấy là một người nông dân dù có năm sáu trăm con cừu trong tay, thì ngay trong ngày cưới của mình cũng chẳng thể kiếm đâu ra một tảng thịt cừu hảo hạng cho bữa tiệc.

Trở lại chuyện bác Ben của tôi—thực tình bác chẳng để tôi rời xa quá ba sải tay—dọc theo con ngõ nhỏ và băng qua ngọn đồi, hai bác cháu chẳng mấy khi mở miệng, dẫu rằng tiết trời rất đỗi thanh bình. Tôi có thể nhận thấy lòng bác đang bồn chồn bất an về chuyến đi này, chẳng còn giữ được vẻ điềm tĩnh vững vàng như một bậc cao niên từng trải nên có. Vì thế, tôi bèn lên tiếng trấn an:

“Bác Reuben ơi, bác đừng sợ. Cháu thuộc từng tấc đất ở đây mà bác; quanh đây chẳng có mối nguy nào đâu.”

“Sợ à, thằng ranh! Ai thèm nghĩ đến sợ chứ? Đó là thứ cuối cùng có thể bén mảng đến đầu óc ta đấy. Mấy khóm hoa anh thảo đằng kia nom khéo đẹp nhỉ.”

Bất giác tôi lại nghĩ đến Lorna Doone, cô bé con của sáu năm về trước, và tâm trí tôi đã quấn quýt bên nàng biết bao. Liệu Lorna có bao giờ nghĩ đến tôi chăng? Tôi há chẳng phải một gã cục mịch quê mùa, chỉ xứng đi xiên cá chạch thôi sao? Đã bao giờ tôi trông thấy một gương mặt nào xứng đáng để đặt cạnh nàng chưa? Cái ánh nhìn chợt lóe, sự tinh anh, niềm khao khát cháy bỏng muốn thấu tỏ lòng người mà chẳng hề giấu giếm cõi lòng mình, cái cụp mắt dịu dàng của đôi mắt biếc sâu thẳm, nỗi khắc khoải muốn yêu một ai đó, bất kỳ ai, bất cứ điều gì, miễn là không nhuốm màu tội ác—

Bác tôi cắt ngang dòng suy tưởng, vì bác bắt đầu thấy rợn người trước sự tĩnh lặng đến thế này khi những cánh rừng trơ trụi đang đổ bóng trùm lên chúng tôi. Bởi lẽ chúng tôi đã tới rừng Bagworthy, chốn đen tối và cô quạnh nhất trong số những nơi ngăn ánh mặt trời rọi xuống. Ngay cả lúc này, vào tiết đông hàn, khi phần lớn cành cây đã rụng trơ trụi và số còn lại thì quắt queo ngả màu nâu xám, cánh rừng vẫn rủ xuống quanh chúng tôi tựa một tấm áo choàng lạnh lẽo chẳng chút hơi ấm. Tôi đi sát sạt bên đầu con Peggy, còn con Peggy cũng bám chặt lấy tôi, hai tai nó dựng đứng nghe ngóng từng động tĩnh. Tuy nhiên, chúng tôi chẳng thấy bóng dáng sinh vật nào ngoài vài con cú già và chim ưng, cùng một con chim ác là đậu lẻ loi một mình, cho đến khi chúng tôi tới chân ngọn đồi nơi con ngựa còi không tài nào leo lên nổi nữa. Bác Ben ngại xuống ngựa vô cùng, bởi có con ngựa dường như cũng đỡ cô quạnh, lại nữa bác nghĩ nếu vạn nhất có biến thì còn phi ngựa mà tháo thân, nhưng tôi đã thuyết phục được bác rằng lúc này đành phải đi bộ cho trọn chặng đường. Thế là bác buộc con Peggy lại ở một nơi chúng tôi dễ tìm thấy, rồi nói cười sang sảng như thể chẳng có chi phải sợ, đoạn bác chống gậy, còn tôi vác súng, bắt đầu trèo lên con dốc rậm rạp.

Ở đây tuyệt nhiên không có dấu vết của bất kỳ lối mòn nào; điều đó vừa làm giảm bớt sự thoải mái lại vừa tiếp thêm lòng can đảm cho chúng tôi, bởi nó chứng tỏ lũ cướp không có thói quen qua lại ngả này. Chúng tôi cũng biết mình chẳng thể lạc lối chừng nào còn thẳng hướng trèo lên sườn đồi trước mặt; vì ngọn đồi này chính là thành lũy, hay nói cách khác là bờ giậu che chắn cho Hẻm Doone. Mà thực ra tôi dùng chữ “trèo” ở đây là hoàn toàn xác đáng cho chuyến leo núi này, bởi mặt đất dựng đứng sừng sững trước mặt chúng tôi, lại thêm cây cối rậm rạp đến nỗi muốn nhích lên được bước nào, chúng tôi phải nhoài cả người về phía trước, dốc sức như thể đang tì ngực đẩy một chiếc cày đất. Những mấu rễ sồi gồ ghề dính đầy đất sét nhô ra thụt vào ngay trên đầu chúng tôi; gai góc cứ chực đón tiếp chúng tôi bằng hàm răng nhọn hoắt thay vì bằng lời chào; và thỉnh thoảng những khối đá xù xì, to lớn như những con cừu khổng lồ, lại chắn ngang lối đi. Sau cùng, dẫu tiếc đứt ruột, tôi buộc phải bỏ lại khẩu súng phía sau, vì tôi cần một tay để bấu víu trèo qua những đoạn hiểm trở, và tay kia để đỡ bác Reuben. Cứ thế, cuối cùng chúng tôi cũng lên tới đỉnh, phóng tầm mắt qua rìa rừng, nơi mặt đất lởm chởm đá tựa hồ đỉnh một mỏ đá; không còn cây cối nào chắn giữa chúng tôi và bờ vực thẳm phía dưới nữa, vực sâu chừng ba trăm thước, toàn là triền dốc đứng trơn tuột. Và giờ đây, lần đầu tiên tôi phải sững sờ kinh ngạc trước diện mạo của sào huyệt nhà Doone, và thấu hiểu được địa thế hiểm trở của nó. Bởi lẽ khi tôi từng lọt vào thung lũng rồi leo lên vách đá để trốn thoát chừng bảy năm trước, tôi hãy còn là một cậu bé ranh con, chẳng để tâm mấy đến điều gì, như bao đứa trẻ khác chỉ chăm chăm vào mục đích trước mắt, mà mục đích ấy cũng xong xuôi nhanh chóng. Nhưng giờ đây, cùng với danh tiếng của nhà Doone, những ký ức của riêng tôi, và sự hối thúc của bác Ben, toàn bộ sự chú ý của tôi đều được khơi dậy, và cái kết lại là một nỗi kinh ngạc tột cùng.

Sống núi của vùng cao nguyên nơi chúng tôi đang đứng uốn cong về cả hai phía tả hữu, giữ nguyên một cao độ như nhau, trên đỉnh điểm xuyết những rặng cây và bụi rậm. Cách chừng nửa dặm phía trước mặt chúng tôi, nhưng trông gần đến mức ngỡ như ném một hòn đá cũng trúng bất kỳ ai đứng bên đó, một đỉnh núi khác giống hệt đỉnh của chúng tôi cũng uốn cong lại để khép vòng; nhưng nó không thể giáp mối do bị ngắt quãng bởi hai khe nứt hẹp mà chúng tôi chỉ có thể nhìn thấy mép vực. Một trong hai khe nứt ấy chính là Cổng Doone, với một tấm cổng chắn bằng đá treo lơ lửng phía trên, còn khe nứt kia chính là hẻm vực mà tôi từng men theo để mò vào thuở trước. Nằm giữa hai khe nứt, nơi các dãy đồi lùi dần lại tạo thành một hình bầu dục hoàn hảo được dòng nước uốn lượn chảy qua, là một thung lũng xanh tươi rực rỡ, được viền quanh bởi những vách đá đen dựng đứng, trông tựa hồ đã lún hẳn xuống từ những cao điểm trơ trọi, gồ ghề phía trên. Nơi ấy trông như thể chẳng ngọn gió lạnh nào có thể lọt vào, cũng chẳng có cơn dông nào khuấy đảo; chỉ có mùa xuân, niềm hy vọng và sự êm ấm cùng nhau thở nhịp êm đềm. Ngay cả lúc này, những vạt nắng vàng vẫn đọng lại và gối lên nhau mỗi khi mây mù tan bớt; và sắc trời xanh nhạt của một ngày đang dần bừng sáng dường như cũng tìm thấy ở nơi đây một niềm khích lệ non tơ.

Thế nhưng mặc cho tất cả những điều đó, bác Reuben chẳng hề mảy may xúc động. Thoạt tiên bác nhìn xuống Hẻm Doone, rồi hít hà như thể đang ngửi một món hàng mẫu từ một đại lý bán buôn; đoạn bác nhìn sang những ngọn đồi phía đằng kia, rồi trừng trừng nhìn tôi.

“Cháu thấy một lũ ngốc nghếch chưa?”

“Dĩ nhiên là cháu thấy rồi, bác Ben. ‘Mọi kẻ gian tà đều là phường ngu xuẩn,’ đó là bài tập viết đầu tiên của cháu hồi mới học vỡ lòng bảng chữ cái đấy ạ.”

“Toàn chuyện nhảm nhí, thằng ranh ạ. Dẫu rằng cũng đúng, và rất tốt cho lũ trẻ con. Nhưng cháu không thấy cái thung lũng Doone rộng lớn này có thể bị đánh chiếm chỉ trong nửa giờ đồng hồ thôi sao?”

“Vâng, chắc chắn rồi bác; ý cháu là nếu chúng chịu đầu hàng.”

“Chỉ cần đặt ba khẩu đại bác trên ngọn đồi đằng kia, và ba khẩu trên đỉnh đồi này, là chúng ta sẽ giã nát chúng như giã gạo trong cối. Ái chà, bác đây từng kinh qua trận mạc rồi, chú bé ạ, từ Keinton cho tới tận Naseby; đáng lẽ giờ này bác đã là một viên tướng soái, nếu hồi đó người ta chịu nghe theo lời khuyên của bác—”

Nhưng tôi đâu còn để tai nghe lời bác nữa, tâm trí tôi thình lình bị hút vào một cảnh tượng mà đôi mắt sắc sảo của vị Tướng quân nhà chúng tôi chẳng đời nào nhận ra. Bởi từ lâu tôi đã phát hiện ra cái lỗ thông nhỏ trên vách đá mà tôi từng thoát ra ngoài, như đã kể trước đây, ở phía bên kia thung lũng. Từ chỗ chúng tôi đứng nhìn sang, nó trông chẳng lớn hơn một cái hang thỏ; vậy mà trong tất cả cảnh trí trước mắt, chính cái lỗ ấy (có lẽ do ký ức của tôi chăng) lại có sức cám dỗ mãnh liệt nhất. Giờ đây, khi đang đăm đăm nhìn vào đó với bao ý nghĩ về những gì nó từng khiến tôi phải trả giá, tôi bỗng thấy một bóng hình nhỏ nhắn xuất hiện, dừng lại giây lát, rồi lướt vào trong đó. Một cái bóng thật thanh thoát và trắng muốt, uyển chuyển, nhẹ nhàng và đài các, biến mất gần như trước khi tôi kịp nhận ra từng có người ở đó. Vậy mà lồng ngực tôi bỗng đập thình thịch vào xương sườn, toàn bộ máu huyết dồn hết lên mặt, niềm kiêu hãnh giằng xé với nỗi ngượng ngùng, thói tự phụ tranh đấu với sự tự ti; bởi dẫu bảy năm đã trôi qua, và tôi từ một thằng bé con đã trở thành một đấng nam nhi, dẫu mọi người hẳn đã quên tôi và chính tôi cũng đã nửa phần quên lãng; nhưng ngay vào khoảnh khắc ấy, dứt khoát và mãi mãi, tôi cảm nhận sâu sắc rằng mình đang đối mặt với số phận của chính đời mình (dẫu số phận ấy có hèn mọn đến đâu), dù phúc hay họa, đều nằm trọn trong Lorna Doone.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.