
Ông Reuben Huckaback—người mà nhiều bậc thiện nhân ở Dulverton hẳn sẽ còn nhắc nhớ rất lâu sau thời của tôi—là ông cậu của tôi, tức chính là anh ruột của bà ngoại. Ông sở hữu cửa tiệm bề thế nhất thị trấn, buôn bán vải vóc tơ lụa phát đạt vô cùng, nhất là vào dịp Giáng sinh khi những đoàn ngựa thồ hàng cập bến bình an vô sự. Thêm nữa, giờ đây gia đình tôi lại là những người thân thích duy nhất của ông (ngoại trừ đứa cháu gái là bé Ruth Huckaback, vốn chẳng được ai đoái hoài), nên mẹ tôi coi việc giữ gìn mối giao hảo tốt đẹp nhất có thể với ông là một bổn phận Cơ Đốc, vừa bởi lòng quý mến một cụ già phúc hậu, lại vừa vì tương lai của đàn con. Mà thực tình, dân Dulverton vẫn bảo ông là người giàu nứt đố đổ vách nhất thị trấn, tiền của đủ sức mua đứt phân nửa giới quý tộc mang huy hiệu trong hạt; ừ thì, nếu tính đến chuyện ấy, đố ai tìm nổi một người ở Bampton, hay Wivelscombe, và họa chăng là cả Taunton, dám đem những đồng tiền vàng Jacobus và Carolus ra đọ độ dày túi tiền với ông.
Thế rồi bậc thân sĩ cao niên này—thiên hạ gọi ông như thế cốt cũng vì tiền; dẫu tôi từng thấy khối kẻ tệ hại hơn, hung bạo hơn mà lại ít của nả hơn nhiều—đã chẳng đặng đừng phải lặn lội đến ăn Tết cùng chúng tôi dạo ấy. Không phải vì ông thích thú gì (bởi ông ghét cay ghét đắng đời sống thôn quê), mà là vì mẹ tôi nài nỉ—cái cách mà các bà mẹ hay làm trước một túi vàng nặng trĩu—khiến ông phải nhận lời; mà điều duy nhất ông tự hào cả đời là chưa từng nuốt lời bao giờ, ít nhất là kể từ ngày ông mở tiệm buôn bán đến nay.
Kỳ Giáng sinh ấy, tạ ơn Chúa (bất chấp sương mù giăng kín lối), một đàn ngựa thồ tráng kiện đã về tới Dulverton an toàn, và đáng mừng hơn cả là hàng họ trên lưng chẳng suy suyển mảy may. Gần phân nửa số hàng đó là của Cậu Reuben, và ông thì thừa biết cách sinh lời tối đa từ chỗ ấy. Sau khi đã cân đối xong các khoản nợ nần sổ sách, và cho phát trát đòi nợ lũ con nợ chây ì—đúng mực một con chiên ngoan đạo vào mùa Giáng sinh—ông bèn thắng yên ngựa, khoác chiếc áo choàng dầy cộp rồi phi thẳng về hướng Oare, để lại cho Ruth cùng viên quản lý đống việc ngập đầu mà bụng thì rỗng tuếch cho tới ngày ông trở về.
Hai bên đã hẹn nhau là sẽ đón ông vào quá trưa ngày cuối cùng của tháng Chạp. Bởi lẽ lũ người Doone vốn lười biếng lại ham ngủ nướng, như thói thường của phường bất lương, nên cách chắc ăn nhất để thoát khỏi móng vuốt của chúng là lên đường trước khi chúng kịp trở dậy đi tuần, tức là vào khoảng nửa đầu buổi sáng. Nhưng ở đời tính chẳng bằng trời: lũ cướp nhân dịp lễ lạt tưng bừng đúng phận những kẻ theo Giáo hội La Mã sùng đạo, dường như lại lười đến mức chẳng thèm buồn đi ngủ; thế là sáng ngày cuối năm, chúng rủ nhau cưỡi ngựa ra ngoài, chẳng phải để làm ăn gì mà thuần túy chỉ cốt tìm trò quậy phá cho bõ ghét.
Nhà tôi đã dời bữa trưa lại đến một giờ chiều (đối với tôi đó quả là một sự nhịn nhục đáng buồn), và dự định sẽ có một bữa tối thịnh soạn vào lúc sáu giờ đêm giao thừa; các ca nhi sẽ mang lồng đèn tới hát xướng ngoài cửa sổ phòng khách, rồi sau khi chén đẫy thức ăn sẽ được uống những chén rượu nóng hổi cho tới khi say lảo đảo. Bởi lẽ dẫu nhà tôi giờ chẳng còn ai làm chức quản giáo xứ Oare, người ta vẫn mặc nhiên công nhận rằng chỉ dòng họ chúng tôi mới xứng đáng với phẩm trật ấy; và tuy Nicholas Snowe đang đứng tên chân quản xứ, ông ta làm gì cũng phải hỏi ý kiến mẹ tôi; ông ta làm ăn lóng ngóng vụng về đến mức ai nấy đều mong ngóng ngày một người họ Ridd lại đứng ra cáng đáng, ngay khi tôi đủ tuổi trưởng thành. Bác Nicholas Snowe này dự tính sẽ đến vào buổi tối cùng ba cô con gái cao ráo, xinh tươi, những cô nàng nở nang vạm vỡ và thạo việc làm bơ sữa; trong xứ còn đồn ầm lên chuyện tiếu lâm do John Fry dệt ra, rằng nếu ba cô gộp lại làm một thì chắc chắn tôi đã phải lòng cô ấy rồi. Mấy cha con nhà Snowe định đến, và quả thực đã đến, phần vì ông Huckaback thích ngắm các cô gái trẻ phơi phới, phần lại vì khắp vùng này chẳng ai biết hút tẩu ngoại trừ Nicholas Snowe, trừ phi là tầng lớp quyền quý thượng lưu mà chúng tôi chẳng bao giờ dám với tới mời mọc. Còn Cậu Ben, như cả nhà tôi đều rõ, là một tay sành hút tẩu, có thể ngồi hàng giờ bên góc lò sưởi ấm cúng mà rít thuốc, chẳng buồn hé răng nửa lời trừ phi là tự nói trong bụng; có điều ông chỉ thích có ai đó ngồi đối diện phì phèo cùng mình.

Thế nên khi tôi từ ngoài chuồng gia súc trở vào trước một giờ trưa—bởi ngày hôm ấy sương mù dày đặc hơn bao giờ hết, và chúng tôi buộc phải nhốt chặt bầy gia súc ở nhà nếu còn muốn nhìn thấy chúng lần nữa—tôi đinh ninh sẽ thấy Cậu Ben đang ngồi chễm chệ bên lò sưởi, hết mở vung nồi này lại nhấc nắp niêu nọ như thói quen khoái khẩu của ông, vừa hít hà vừa chép miệng thèm thuồng; vì ông mê món thịt xông khói của nhà tôi đến lạ, mà ở Dulverton thì chẳng bới đâu ra hành boa-rô ngon; vả lại ông cũng là người luôn muốn tự tay kiểm tra mọi sự. Ngờ đâu, thay vì thấy gương mặt xương xẩu kỳ quặc của ông thoạt tiên dãn ra nhìn tôi rồi thoắt cái thu lại đầy cảnh giác để khỏi bị lừa, thì người chạy xộc ra lại là Betty Muxworthy, bà ta còn chọc thẳng cái nắp chảo vào người tôi.
“Tránh ra nào, Betty,” tôi nói bằng giọng lịch sự nhất, bởi thật tình dạo này Betty đã trở thành một nỗi phiền toái lớn trong nhà. Bà ta ngang ngạnh quá đỗi, mà khổ sở nhất trần đời là việc một gã đàn ông cố đi lý lẽ với bà ta.
“Cái cối ép táo kia,” Betty lại gào lên, mụ cho rằng gọi tôi như thế là một trò đùa hóm hỉnh chỉ vì thân hình hộ pháp của tôi và việc tôi ghét cay ghét đắng cái tên ấy; “đằng nào thì cũng có một mâm cỗ linh đình đấy nhé.”
“Ý bà là một bữa trưa ngon tuyệt chứ gì, Betty. Ừ, mà tôi thì đang đói cồn cào đây.” Nói đoạn tôi toan bước vào hít hà mùi thức ăn, chẳng buồn đôi co với mụ nữa.
“Tin mày khoản đó đấy, Jan Ridd. Nhưng tao cuộc là mày phải nhịn thêm lúc nữa rồi. Lão chưa tới đâu, cậu Cối ép táo ạ. Mày tính sao đây?”
“Ý bà là Cậu Ben vẫn chưa tới sao, Betty?”
“Tới với lui! Tao chẳng biết ất giáp gì sất, tới hay chưa cũng thế thôi. Tao chỉ bảo mày là lão chưa thèm vác mặt đến. Chắc bị lũ Doone tóm gáy rồi cũng nên.”
Và Betty, kẻ ghét cay ghét đắng Cậu Ben vì ông chẳng bao giờ cho mụ lấy một đồng bốn xu, lại thêm mụ không được phép ngồi cùng bàn ăn với ông—tôi lấy làm tiếc phải nói rằng mụ Betty Muxworthy toét miệng cười hết cỡ, rồi lại lấy cái vung chảo nhẫy mỡ chọc vào người tôi. Nhưng tôi bực mình vì bị đối xử như thế nên hậm hực sải bước qua gian bếp, bởi đến tận bây giờ Betty vẫn cư xử với tôi như thể tôi chỉ là con bé Eliza không bằng.
“Ôi, Johnny, Johnny,” tiếng mẹ tôi kêu lên thất thanh khi bà chạy ra từ phòng khách trang trọng—nơi bày tủ chim nhồi bông, lông chim công và con thỏ trắng do ông ngoại bắn được; “mẹ mừng quá vì cuối cùng con cũng vào. Có chuyện chẳng lành rồi, Johnny ơi.”
Trên cổ tay mẹ có đeo mấy thứ đăng-ten xếp nếp rất lạ mắt, thứ mà chúng tôi hay gọi là đồ điệu đà, vốn là sở thích bẩm sinh của bà vì xuất thân từ một gia đình buôn vải có máu mặt, cốt cách thanh nhã hơn hẳn giới tiểu nông. Dẫu vậy, tôi chẳng bao giờ ưa nổi những thứ ấy, phần vì cảm thấy chúng lạc lõng trong ngôi nhà nông trại của chúng tôi, phần vì tôi ghét thói phù phiếm, phần vì thấy nó chẳng liên quan gì đến cha, và phần nữa là tôi chẳng tài nào giải thích nổi vì sao mình lại ghét nó đến thế. Thế nhưng người đàn bà tội nghiệp ấy đeo chúng vào nào phải để khoe đôi bàn tay nõn nà (vốn vượt quá thân phận của bà), mà chỉ đơn thuần vì thương con, bởi đó là quà Cậu Ben tặng. Lại thêm một nỗi nữa, tôi không tài nào chịu nổi việc có người cứ gọi mình là “Johnny”, “Jack” hay “John” gì cũng được; tôi thấy như thế là đứng đắn đàng hoàng, chứ chẳng phải vì tôi hẹp hòi chấp nhặt gì đâu.
“Kìa mẹ, có chuyện gì thế ạ?”
“Mẹ tin là con không việc gì phải gắt gỏng thế đâu, Johnny. Mẹ chỉ mong đây không phải chuyện đáng đau lòng để con phải bực bội. Mẹ biết tính con hiền lành lắm, John Ridd ạ, đôi khi còn quá đỗi dễ dãi nữa kia”—ở đây mẹ có ý ám chỉ mấy cô con gái nhà Snowe, làm tôi phải cúi gằm mặt xuống—“nhưng con sẽ nói sao nếu những người ở đằng ấy”—mẹ chẳng bao giờ chịu gọi thẳng tên “lũ Doone”—“đã bắt mất Cậu Reuben tội nghiệp của con, cả người lẫn ngựa lẫn bộ áo đi lễ Chủ nhật rồi?”
“Kìa mẹ, nếu thế thì con thấy tội nghiệp cho lũ cướp ấy chứ. Cậu ấy sẽ mở ngay một sạp hàng bên bờ suối, rồi bòn rút sạch bách tiền của chúng cho mà xem.”
“Con chỉ nói được thế thôi ư, John! Trong khi bữa trưa của mẹ thì vừa chín tới độ ngon nhất, bữa tối cũng đã chuẩn bị tươm tất, chẳng phải lo nghĩ gì chỉ việc ngồi vào ăn cho xong! Rồi bao nhiêu đĩa mới mang từ Watchett về, đĩa tráng men xanh Watchett hẳn hoi, phải liều mạng bao người mới chở về được, lại còn mảnh giấy ghi công thức dì Jane tốt bụng cho để nhồi hành tây vào bụng chim choắt trước khi thịt nguội ngắt rồi biến nó thành chim dẽ giun, cả cách lật vạt mỡ bên trong con lợn sữa quay nữa chứ—”
“Thôi nào mẹ ơi, con xin lỗi mẹ nhiều. Nhưng ta cứ ăn trưa đi đã. Mẹ biết là chúng ta đã hẹn nhau không đợi cậu quá một giờ trưa rồi mà; mẹ cứ kể lể thế chỉ làm bụng đói thêm thôi. Mọi thứ sẽ nguội ngắt hỏng hết cả, nghĩ mà tiếc đứt ruột mẹ ơi! Ăn xong rồi con sẽ đi tìm cậu trong màn sương dày đặc này, dù chẳng khác nào mò kim đáy bể. Ý con là, trừ phi mẹ nghĩ”—thấy nét mặt mẹ bỗng nghiêm lại—“trừ phi mẹ thực sự nghĩ rằng con nên nhịn bữa trưa để đi tìm ngay bây giờ.”
“Ồ không, John, tạ ơn Chúa là mẹ chưa từng nghĩ thế! Đội ơn Người đã ban cho các con mẹ dạ dày khỏe khoắn; Cậu Ben phỏng có là gì so với chúng nó chứ?”
Thế là chúng tôi đánh chén một bữa trưa thật no nê, dẫu vẫn thầm ước giá như ông cũng được nếm một chút, và phân vân không biết nên chừa lại cho ông bao nhiêu; đoạn, vì tịnh không nghe thấy tiếng vó ngựa của ông đâu, tôi bèn vác súng lên đường đi tìm.
Tôi lần theo lối mòn bên sườn đồi, dẫn từ sân nông trại ra chỗ còn in vệt xe trượt tuyết—bởi trên vùng Exmoor này chúng tôi chưa từng có xe bánh tròn, và tôi đồ rằng cũng chẳng bao giờ có; dẫu mùa đông năm ngoái có một gã ngốc đã thử dùng, kết quả là gãy trục xe thảm hại và suýt nữa thì gãy cả cổ—sau đó tôi đi dọc theo sống đồi đầy hang thỏ, bên dưới có dòng suối nhỏ lững lờ trôi; rồi tôi lội xuống con suối Lynn, nhảy qua bờ bên kia, cứ thế leo lên đồi và tiến vào vùng đồng hoang phía trước. Màn sương bấy giờ bao trùm quánh đặc lấy tôi khi tôi vượt qua đỉnh đồi, những bụi cây kim tước mọc trước mặt sau lưng trông chẳng khác nào những bóng người đang khom lưng mai phục. Nhưng trời vẫn còn khá sáng, vì lúc này chưa tới ba giờ chiều, và khi một đàn hươu đỏ chạy vụt qua, tôi vẫn phân biệt được chúng với loài cừu. Tôi đã nửa muốn giương súng bắn, vì lũ trẻ ở nhà rất mê thịt hươu; nhưng chúng gục đầu xuống trông hiền lành, trung hậu quá đỗi, khiến tôi thấy ra tay thì thật tàn nhẫn. Giá như có con nào hoảng hốt bỏ chạy thục mạng, chắc chắn tôi đã bóp cò rồi.
Sau đó tôi cứ cắm cúi bước tiếp trên đường mòn, rảo bước thật khỏe khoắn ngót nghét ba dặm đường; chòm râu của tôi (nay đã bắt đầu mọc dài ra đôi chút) đọng đầy những giọt sương to tướng và ram ráp ngứa, điều khiến tôi lấy làm hãnh diện lắm. Tôi chẳng mang theo lấy một con chó, khung cảnh thì hoang vu lạnh lẽo, những đám mây cuồn cuộn trôi trông thật ảm đạm; thỉnh thoảng một con cừu hoang chạy ngang qua nhìn tôi chằm chằm đầy vẻ sợ sệt như đối mặt với kẻ thù; còn tôi thì chịu, chẳng hiểu nổi những vết đánh dấu trên mình nó có nghĩa là gì. Chúng tôi gọi cả vùng này là Đồng Giá Treo Cổ, vì nó không thuộc giáo xứ của chúng tôi; tuy trên đồng có đầy những giá treo cổ, nhưng hầu hết xác tử tội đã bị lấy mất, người ta bảo là để lấy xích sắt bán lấy tiền và làm tiêu bản cho các y sinh tập sự mổ xẻ. Nhưng tôi chẳng mấy bận tâm đến những chuyện ấy, vì tôi đâu còn là đứa con nít đi học nữa, mà đã là một chàng trai am tường Exmoor và thông thạo nghệ thuật nhìn cột chỉ đường—thứ mà kẻ từng chặn đường cướp bóc nay phải dùng xương ngón tay mình để chỉ lối hai chiều, chừng nào lũ bất lương còn chừa lại. Khẩu súng carbin của tôi đã nạp đạn và châm thuốc mới tinh, tôi biết sức mình lúc này thừa sức chấp hai gã đàn ông vạm vỡ nhất vùng quanh đây, ngoại trừ lũ người ở hẻm núi Doone. Người ta đã bắt đầu gọi tôi là “Gã Jan Ridd khổng lồ”, và thiên hạ đâm sợ phải đấu vật với tôi; dẫu tôi phát ngấy khi phải nghe mãi chuyện ấy, và thâm tâm vẫn thường ước mình nhỏ con hơn. Nhất là vào những ngày Chủ nhật, khi tôi phải lách người bước lên giáo đường nhỏ hẹp của xứ, còn các cô thiếu nữ thì khúc khích cười trêu tôi.
Màn sương trắng mờ ảo càng lúc càng dày đặc khi hoàng hôn buông xuống; những đống than bùn rải rác đây đó cùng những bụi kim tước khô từ mùa hè đều méo mó dị hình trong làn sương xoáy lốc. Chẳng mấy chốc, tôi bắt đầu hoang mang không biết mình đang ở đâu, hay làm sao lại lạc tới chốn này, vì nãy giờ chẳng thấy bóng dáng cái giá treo cổ nào nữa; rồi tôi nghe thấy tiếng gió rít qua một hốc đá lởm chởm; và lần đầu tiên nỗi sợ hãi toát ra (như mồ hôi lạnh) khắp người tôi. Dẫu vậy tôi vẫn tự mắng mình ngu xuẩn làm sao, lại đi sợ hãi một âm thanh vu vơ! Nhưng khi tôi đứng sững lại lắng tai nghe, thì chẳng còn tiếng động nào nữa ngoài tiếng đập thình thình, mà đó lại là nhịp tim trong chính lồng ngực tôi. Thế là tôi lại bước tiếp, tự làm bạn đồng hành với chính mình, tay lăm lăm khẩu súng sẵn sàng khai hỏa.
Thế rồi khi tới một nơi xa lạ, nơi có một tảng đá dựng đứng khắc hình chữ thập đỏ mờ mờ, bề mặt nhẵn bóng như dấu vết của một trận giao tranh nào đó, tôi mới lấy hết can đảm dừng chân ngẫm nghĩ, nhận ra mình đã cắm đầu đi quá nhanh. Tôi dựng khẩu súng vào tảng đá, thử thách lòng can đảm bằng cách rời tay ra, nhưng nửa bàn tay vẫn lăm lăm chực chộp lấy; và nỗi băn khoăn lúc này là phải làm gì tiếp theo. Còn việc tìm Cậu Ben thì đó là việc của riêng ông, hay ít nhất là của người thừa kế tài sản của ông; trước hết tôi phải tìm thấy chính mình đã, và tôi sẽ đội ơn Chúa khôn xiết nếu tìm được đường về nhà bình an vô sự, vì sự yên ấm của cả gia đình.
Từng cuộn sương mù khổng lồ ập tới tấp vào tôi (như những khúc gỗ lớn bọc đệm êm ru ủ rũ), và giữa những đợt sương ấy chẳng có gì khác ngoài việc chờ đợi đợt tiếp theo tràn tới. Rồi vạn vật biến mất khỏi tầm mắt, tôi thấy mừng vì còn có tảng đá sau lưng và còn nhìn thấy mũi giày của mình. Bỗng một âm thanh xa xăm vọng tới, tựa như tiếng đàn ngựa phi nước đại, trong cơn hoảng loạn tôi liền giương súng lên tự nhủ: “Xin Chúa rủ lòng cho có cái gì đó để con bắn.” Thế nhưng chẳng có gì xuất hiện, và tay tôi buông lỏng súng xuống, dù lòng chẳng hề muốn hạ vũ khí.
Thế nhưng ngay lúc tôi đang tự nhủ “Mình thật là một thằng ngốc!”, thì từ sâu dưới chân tôi vang lên, khiến tảng đá lớn cũng phải rung chuyển, một âm thanh ai oán, dài dằng dặc và cô quạnh, tựa như một linh hồn quỷ dữ đang bế tắc chẳng biết đi đâu về đâu. Trong khoảnh khắc ấy, tôi đứng chết trân như chôn chân xuống đất, tay chân rụng rời chẳng buồn nhấc nổi, chân tóc dựng ngược cả lên đẩy chiếc mũ nhích dần như ốc sên đội vỏ; còn tim tôi thì đập liên hồi như con thoi đưa. Nhưng thấy chẳng có tai họa nào giáng xuống, cũng không có hình bóng ma quỷ nào hiện ra, tôi quệt mồ hôi trán, tự trấn an và quyết định sẽ chạy thục mạng một mạch không ngừng cho đến khi chạm tay vào then cửa nhà mình mới thôi.
Ngờ đâu tôi lại một phen vỡ mộng, bởi vừa chạy tới ngã tư đường bên cạnh cái hố nước đen ngòm, tôi bỗng nghe thấy át cả tiếng bước chân dồn dập của mình một âm thanh khàn đặc, trầm đục rất gần trong màn sương, nghe như tiếng một con cừu bị trói chân đang ho sù sụ. Tôi dừng bước, sợ hãi, nhưng rồi lại dỏng tai nghe, dẫu bụng chẳng muốn nghe chút nào. Vì đang vội vã trên đường về nhà, lòng dạ như chắp thêm cánh, tôi chẳng đời nào muốn nán lại trong bóng nhá nhem tối chỉ vì một con cừu đực già nua. Nhưng phần vì lòng yêu thương loài vật, phần vì sợ mang tiếng xấu cho một nông dân, tôi đành bước lại cứu giúp, và tiếng động ấy mỗi lúc một gần hơn. Đó là một âm thanh khò khè, ngắn ngủn, ngắt quãng bởi những cơn ho sặc sụa và tiếng thở dốc hụt hơi; nhưng tôi vẫn lõm bõm luận ra được những lời này:
“Lạy Chúa xin thương xót con! Ôi lạy Chúa, xin thương xót linh hồn con! Con có lừa lão Sam Hicks tuần trước thì Chúa cũng biết là lão đáng đời lắm mà, con có gian dối khâu mõm từng chiếc tất len—ôi lạy Chúa tôi, thân già này đang trôi dạt về đâu thế này?”
Những lời ấy, chen lẫn giữa những cú xóc nảy nảy lửa, truyền qua bóng tối đến tai tôi, rồi tiếp theo là một tiếng rên dài và một cơn nghẹn ứ. Tôi lần theo tiếng động, bước nhanh hết mức có thể phán đoán, và ngay lập tức đụng đầu một con ngựa thồ miền núi. Trên lưng nó là một người đàn ông bị trói chặt gập người lại, chân quặp lên cổ ngựa còn đầu chúc về phía đuôi, hai cánh tay thõng thượt đung đưa như bàn đạp yên cương. Con ngựa hoang nhỏ thó sợ chết khiếp vì cái gánh nặng khác thường này, nãy giờ nó cứ lồng lộn và lăn lộn dữ dội cốt hất cái của nợ ấy xuống cho rảnh thân.
Trước khi con ngựa nhỏ kịp quay đầu tẩu thoát, tôi đã túm chặt lấy chòm lông bờm ướt đẫm và hoa râm của nó, dù nó đã mệt lử; con vật nhận ra vùng vẫy cũng vô ích, nhưng vẫn cố ngoạm tôi một cái cho bằng được, mãi tới khi tôi giáng cho nó một quả vào sống mũi mới chịu thôi.
“Thưa ngài đáng kính,” tôi nói với người đàn ông đang chịu cảnh cưỡi ngựa khốn khổ kia; “đừng sợ; chẳng ai làm hại ngài đâu.”
“Cứu tôi với, người anh em tốt bụng, dù anh là ai chăng nữa,” ông hổn hển van vỉ, nhưng chẳng thể ngước nhìn tôi vì cổ bị giằng giật dữ dội; “Chúa phái anh đến, và xin đừng cướp bóc tôi, vì lũ kia đã lột sạch bách rồi.”
“Ô kìa, Cậu Ben!” Tôi buông con ngựa ra vì kinh ngạc tột độ, không ngờ người đàn ông giàu có nhất vùng Dulverton—“Cậu Ben lại ra nông nỗi này ư! Trời đất, ông Reuben Huckaback!”
“Một người buôn tất và vải vóc lương thiện, chủ kho hàng vải thô và vải khổ rộng”—ông rên rỉ đau đớn như gãy từng khúc xương sườn—“ở tiệm Mèo Con Thắt Vớ tại thị trấn Dulverton trung kiên. Vì lòng nhân từ của Chúa, hãy gỡ tôi xuống khỏi cái đống xương tàn chết tiệt này đi, anh bạn tốt bụng; về tới nhà tôi ở Dulverton an toàn, tôi sẽ thưởng cho anh một đồng bốn xu tiền thật; nhưng xin nhớ cho là con ngựa này cũng là của tôi, chẳng kém gì con ngựa cưỡi mà lũ cướp đã đoạt mất.”
“Trời ơi Cậu Ben, cậu không nhận ra cháu sao, John Ridd, đứa cháu ngoan ngoãn của cậu đây mà?”
Chẳng cần dông dài làm gì, tôi cắt phăng những sợi dây da trói chặt ông, đỡ ông ngồi cưỡi lên lưng con ngựa nhỏ; nhưng ông đã kiệt sức, không thể ngồi vững nổi. Do đó tôi cõng luôn ông lên lưng mình, dùng lưng ngựa làm bệ bước, rồi dắt con thú bằng sợi dây thừng buộc quanh mõm nó, cứ thế nhắm thẳng hướng trang trại Plover's Barrows mà tiến bước.
Cậu Ben ngủ thiếp đi ngay trên lưng tôi, vì ông đã mệt lử và bị chấn động quá sức chịu đựng của một cụ già sáu mươi lăm tuổi; vừa cảm thấy an toàn là ông chẳng buồn mở miệng nói thêm lời nào nữa. Mà nói thực lòng, ông ngáy to đến mức tôi suýt nữa thì tin rằng thứ âm thanh rùng rợn trong sương mù hằng đêm bấy lâu nay hóa ra là vọng từ mãi tận Dulverton sang.
Ngay khi tôi cõng ông vào nhà, chúng tôi liền đỡ ông ngồi vào góc lò sưởi, thật êm ái và đàng hoàng; trút được ông khỏi lưng, tôi thấy nhẹ nhõm không sao tả xiết; bởi cũng như khối gia sản của mình, Cậu Ben sở hữu một thân hình béo tròn phốp pháp. Ông giũ giũ chiếc áo choàng dài vài cái, rồi dậm dậm chân quanh gian bếp cho đến khi biết chắc mình đang ở đâu, đoạn lại lăn ra ngủ tiếp cho tới lúc bữa tối sẵn sàng.
“Nó sẽ cưới con Ruth,” một lát sau ông lẩm bẩm một mình chứ chẳng phải nói với tôi; “vì chuyện này, nó sẽ cưới con Ruth, rồi sẽ được hưởng chút của chìm của nổi của ta, ngay khi đống tiền ấy đáng để lấy. Giờ thì còn ít ỏi lắm, ít ỏi lắm; mà hôm nay lại mất đứt bao nhiêu vào tay lũ giặc cướp khốn kiếp ấy rồi.”
Mẹ tôi tất nhiên là cuống cuồng hết cả lên khi thấy Cậu Ben lâm vào tình cảnh khốn đốn dường này; thế nên tôi để ông lại cho mẹ và Annie chăm sóc, chẳng mấy chốc hai người đã bón cho ông ăn uống phủ phê, trong lúc tôi ra ngoài thu xếp chỗ ở tươm tất cho con ngựa hoang vừa bắt được. Thực tình nó rất bõ công bắt, về sau phục vụ nhà tôi đắc lực vô cùng, dẫu Cậu Ben có ý muốn đòi nó về để phục vụ tiệm buôn ở Dulverton, nơi người ta hay dùng xe kéo và những thứ tương tự. “Nhưng thưa cậu,” tôi bảo, “cậu cứ việc lấy nó về nếu cậu chịu cưỡi nó về nhà đúng theo cái điệu bộ lúc cháu mới tìm thấy cậu.” Thế là ông đành câm bặt, không nhắc tới chuyện đó nữa.
Ông là một ông già kỳ quặc hết sức, tính tình cộc lốc dẫu thân hình dài ngoằng, luôn thích làm những điều trái ngược với sự mong đợi của người khác, và lúc nào cũng nhìn người ta bằng ánh mắt soi mói như thể sợ bị lừa gạt. Thoạt đầu điều này làm tôi ngạc nhiên lắm, vì nó cho thấy ông chẳng hiểu tí gì về giới nông dân chúng tôi—một phường người ngay thẳng hiếm thấy, hầu như chẳng bao giờ lừa lọc ai ngoại trừ vào những ngày phiên chợ, mà ngay cả lúc ấy cũng chỉ dám làm tới mức chẳng đặng đừng vì người mua cứ khăng khăng chờ đợi điều đó. Lối sống mộc mạc của chúng tôi quả là một câu đố hóc búa đối với ông, như tôi vẫn thường bảo với ông; nhưng ông chỉ cười trừ, lấy mu bàn tay khô khốc bóng nhẫy quệt miệng, và tôi nghĩ chẳng bao lâu sau ông bắt đầu thấy bứt rứt, héo hon vì thiếu người để mặc cả, cò kè bớt một thêm hai. Tôi đã toan bụng biếu không con ngựa cho ông, bởi ông cứ ngỡ mình bị lừa trong vụ đó; hiềm một nỗi nếu tôi làm thế, ông lại đinh ninh là tôi làm vậy cốt để nhắm vào phần gia tài của ông mà thôi.
Dĩ nhiên, chẳng có ai khác ngoài lũ người Doone đã cướp bóc Cậu Reuben tốt bụng; đoạn chúng nổi hứng trêu ngươi, cướp lấy con ngựa của ông—vốn là một con vật thuần tính hiếm có—rồi trói nghiến người chủ lên lưng con ngựa hoang, để “đổi gió chút chơi” như lời chúng bảo. Suốt hai ba tiếng đồng hồ liền, chúng thỏa thuê khoái chí rượt đuổi ông chạy thục mạng qua làn sương mù, lấy tiếng kêu la rên xiết của ông làm trò tiêu khiển; rồi khi bụng đói cồn cào, chúng mới bỏ đi, phó mặc ông cho số phận. Sau vài ngày, khi đã đi lại được, ông Huckaback đâm ra cáu kỉnh bực bội, và không tài nào hiểu nổi vì lẽ gì mà mình lại bị cướp bóc cơ chứ.
“Ta có làm gì nên tội đâu,” ông tự lẩm bẩm một mình, vốn chẳng biết nhiều về Chúa Quan Phòng, họa chăng chỉ viết hoa chữ cái đầu cho có lệ; “ta có làm gì nên tội đâu, và nhân danh đức Vua vĩ đại của chúng ta, ta quyết không chịu nhịn nhục thế này đâu, quyết không!” Những lúc khác ông lại gắt gỏng thốt lên: “Sáu mươi lăm năm trời ta sống một đời lương thiện và chăm chỉ làm lụng, thế mà chưa từng bị cướp bao giờ. Vậy mà đến tuổi xế bóng này lại bị cướp, bị cướp lần đầu tiên trong đời vào lúc này đây!”
Nghe vậy, chúng tôi đương nhiên phải ra sức khuyên giải rằng ông nên thấy đội ơn Chúa biết bao vì chưa từng bị cướp bao giờ dẫu đã sống ngần ấy năm trên cõi đời, và rằng ông đang nhìn nhận sự việc một cách quá đỗi vô ơn, nếu không muốn nói là khiếm nhã, khi cứ cằn nhằn và ấm ức mãi như thế; trong khi bất kỳ ai khác ắt đã quỳ gối tạ ơn Thượng đế vì đã ban cho họ sự bình an lâu dài đến vậy. Nhưng dẫu chúng tôi có nói ngả nói nghiêng thế nào thì cũng bằng thừa. Cậu Ben vẫn khăng khăng một mực rằng ông chẳng có điều gì phải cảm tạ ơn Chúa cả.