Lorna Doone: Bản Tình Ca Exmoor

Lượt đọc: 232 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 69
Không Thể Dung Thứ

❊ ❊ ❊

Huy hiệu gia tộc do các vị quan quản huy hiệu Hoàng gia thiết kế cho tôi có kích thước rất lớn, màu sắc rực rỡ và chứa đựng bao nét tưởng tượng bay bổng. Họ đã dành cho tôi vinh dự được tham khảo ý kiến trước, để rồi sau đó chẳng thèm xái đến một lời khuyên nào của tôi. Bởi lẽ tôi có xin họ vẽ một con bò sữa to to một chút trên huy hiệu, để chúng tôi tiện in dấu lên các bánh bơ trước khi đem ra chợ bán; rồi thêm một con ngựa ở phía bên kia, cùng một đàn cừu bị tuyết phủ kín ở phía dưới cùng. Nhưng các vị quý ông ấy nhất quyết không chịu nghe; và để tìm điều gì đó thích hợp hơn, họ quay sang điều tra kỹ lưỡng gia sử nhà chúng tôi. Dĩ nhiên, tôi đã kể cho họ nghe tất cả về Vua Alfred; thế là họ quyết định một phần tư huy hiệu sẽ là ba chiếc bánh nướng trên một thanh ngang, cùng một con sư tử ngoảnh đầu lại trên nền vàng. Tôi cũng kể với họ rằng rất có thể đã có một người nhà Ridd tham gia trận đánh do Bá tước vùng Devon chiến đấu chống lại quân Đan Mạch không xa Plover's Barrows là mấy, nơi Hubba - thủ lĩnh của chúng - bị tiêu diệt và lá cờ thiêng bị chiếm mất. Vì người ta nói có một số người Đan Mạch được chôn cất ngay trên mảnh đất của nhà chúng tôi, và đến tận ngày nay chúng tôi vẫn gọi những ngôi mộ đó (nếu quả thực là vậy) là "mô đất", nên các vị quan quản huy hiệu hoàn toàn đồng ý rằng rất có thể từng có một người dòng họ Ridd ở đó, hoặc loanh quanh đâu đấy; mà nếu đã ở đó, thì trước cảnh nhà cửa xóm giềng ngay trước mắt, chắc chắn người ấy đã chiến đấu hết mình; lại rõ ràng người ấy phải có đôi chân rất khỏe mới có thể cùng lúc vừa ở đó vừa ở Athelney; mà đôi chân khỏe chính là lập luận cho đôi tay giỏi; và giả định một người như thế đã dốc hết sức mình (theo đúng phong cách của người nhà Ridd), thì gần như chắc chắn chính ông đã cướp được lá đại kỳ. Hơn nữa, cái tên trang trại của chúng tôi chính là bằng chứng thuần túy; chim tước chim sẻ hay chim tạ cũng đều là chim rừng, chẳng khác nào chim quạ. Dựa trên chuỗi lý luận đó, và chẳng chút hoài nghi, họ đã chạm khắc lên chiếc khiên huy hiệu đang hình thành của tôi một con quạ đen trên nền đỏ. Và điều tiếp theo tôi nhắc đến với sự chắc chắn tuyệt đối—đó là một con lợn hai đầu đã ra đời tại trang trại chúng tôi cách đây không quá hai trăm năm (dù nó chết chỉ trong vòng một tuần)—thế là phần tư thứ ba lập tức được dựng nên bằng một con lợn rừng hai đầu với đôi nanh uy nghi, màu đen trên nền bạc. Tất cả những thứ đó trông thật hung tợn và lộng lẫy; thế nên tôi đành xin một góc yên bình ở phía dưới bên phải, và được ban cho một bó lúa mì dựng đứng màu vàng trên nền đồng cỏ xanh.

Đến đây, tôi đã muốn dừng lại để ngắm nghía thành quả; vì ngay cả nhà De Whichehalse cũng chẳng thể có được một huy hiệu nguy nga đến thế. Nhưng các vị quan quản huy hiệu lại bảo trông nó giống một tấm biển hiệu thuần túy nếu thiếu đi một khẩu hiệu hay bên dưới; và khẩu hiệu thì phải có tên tôi trong đó. Đầu tiên họ đề nghị câu: "Ridd non ridendus" [Ridd không phải để chế giễu]; nhưng tôi bảo: "Vì Chúa, thưa các ông, hãy để tôi quên đi cái vốn tiếng Latinh của mình." Sau đó họ xuất câu: "Ridd giải được câu đố"; nhưng tôi xin họ đừng ghi vào một lời dối trá như thế, vì từ khi vùng Exmoor này tồn tại đến nay, chưa từng có ai nhà Ridd làm ra hay giải nổi một câu đố nào. Thứ ba, họ đưa ra câu: "Ridd chẳng bao giờ chịu khuất phục", và vì sợ phải phản đối thêm nữa, tôi đành để họ khắc câu đó bằng đồng trên nền xanh lam. Các vị quan quản huy hiệu tưởng rằng Quốc vương sẽ trả tiền cho kiệt tác cao quý này; nhưng Đức Vua, dẫu rất hài lòng với sự sáng tạo của họ, lại nhất quyết từ chối chi dù chỉ một xu; và vì tôi lúc này đã cạn sạch tiền, mặt các vị quan quản huy hiệu tái xám như màu xanh da trời rồi lại đỏ gay như màu cờ thắm; cho đến khi Hoàng hậu tốt bụng bước ra và nói rằng nếu Đức Vua đã ban cho tôi huy hiệu, thì tôi không phải trả tiền; do đó chính Bà đã đứng ra thanh toán vô cùng hậu hĩnh và từ đó dành nhiều cảm tình cho tôi.

Giờ đây, vì đang vội—ít nhất là trong khả năng vội vã vốn có của bản tính tôi—để đi đến hồi kết của câu chuyện này, lẽ nào tôi lại dừng lại quá lâu ở câu chuyện huy hiệu nếu không có một lý do chính đáng? Và lý do chính đáng đó là Lorna vô cùng tự hào về nó, cô ấy nghĩ (hoặc ít ra là nói) rằng nó đã che mờ và làm lu mờ hoàn toàn mọi vinh quang cổ xưa của chính dòng họ cô. Rồi nửa đùa nửa thật, cô cứ gọi tôi là "Sir John" liên tục, đến mức cuối cùng tôi suýt nữa thì nổi giận với cô; cho đến khi đôi mắt cô rớm lệ, và rồi tôi lại tự trách bản thân mình.

Bắt đầu túng thiếu tiền bạc, lại thêm lo lắng cho công việc ở trang trại, và cũng mong mỏi được trở về cho mẹ xem bản thân mình cùng chiếc huy hiệu cao quý, tôi đã nhờ đến sự can thiệp của Tiểu thư Lorna với Hoàng hậu để xin giấy miễn giải và giải phóng hoàn toàn khỏi danh nghĩa bị giam giữ. Người ta vốn định bắt tôi phải chờ đợi cho đến khi Lãnh chúa Jeffreys trở về từ chuyến đi kinh hoàng qua những pháp trường—nơi mà cái tên của ông ta đến nay vẫn được các bà mẹ dùng để dọa trẻ con ngoan ngoãn đi ngủ. Và tôi thật sự vui mừng—vì ngay cả Luân Đôn cũng phải rùng mình kinh hãi trước những tin tức về ông ta—khi trốn thoát khỏi một kẻ khát máu, tàn bạo, và ngay cả với bè bạn (mà tôi cũng được tính vào số đó) vẫn luôn nham hiểm.

Bá tước Brandir rất hài lòng về tôi, không chỉ vì tôi đã cứu sống ông, mà còn vì đã bảo vệ được thứ mà ông coi trọng hơn cả tính mạng: gia tài tích trữ cho Lãnh chúa Alan. Ông đã giới thiệu tôi với nhiều nhân vật hiển hách, những người rất ân cần động viên và hứa sẽ giúp đỡ tôi về mọi mặt khi nghe kể về những lời Đức Vua đã phán với tôi. Về phần ông thợ lông thú, ông ta chẳng bao giờ thấy chán khi ở bên tôi; người đàn ông đáng kính ấy, xin tôi một lời tiến cử, chỉ yêu cầu tôi đúng một điều—hãy nói về ông ta đúng như những gì tôi thấy. Vì tôi đã từng thấy ông ta vào nhiều ngày Chủ nhật tỉ mẩn tân trang lại những bộ lông thú cũ thành mới, dùng lớp keo bóng để che đi vết mối mọt gặm nhấm, nên tôi đã khuyên ông ta nên suy nghĩ lại điểm này và đừng đòi hỏi sự chính xác đến thế. Ông ta bèn nói: "Ồ thôi nào; nghề nào chẳng có ngón nghề, nhất là chuyện làm ăn; chú em phải coi tôi—nếu chú em là người bạn chân chính của tôi—đúng như lời tôi tự mô tả." Tôi rất sẵn lòng làm điều đó; vì nó tiết kiệm được bao nhiêu rắc rối, mà tôi lại chẳng có tiền để tiêu xài ở chỗ ông ta. Dù vậy, ông ta vẫn xin được dùng tên tuổi của tôi; và tôi dặn ông ta cứ việc dùng làm sao cho tốt nhất, vì tôi chưa từng gửi tiền ở ngân hàng bao giờ. Và những món đồ như "cổ tay áo John Ridd", "áo khoác Sir John", cùng "áo cape Holly-staff" được ông ta trưng ra ngoài cửa kính khi mùa đông cận kề, ồ vâng, và bán sạch (vì ai ai cũng sôi nổi bàn tán về tôi), chắc hẳn đã làm nên cơ nghiệp cho người đàn ông tốt bụng này; bởi lẽ cái phần giá bán vượt xa giá trị thực chính là thước đo thực sự cho sự thành công ở đời.

Rời xa tất cả những thứ rườm rà làm người ta ngột ngạt ở Luân Đôn—khi làn gió thu trong lành mở lối đến đồi Ludgate, và những gã thợ học việc nhanh nhạy chạy ra hít hà, lấy đó làm nguồn sống (vì chẳng có mấy thứ khác để ăn); và khi những con ngựa từ miền quê trở thành một hình ảnh đẹp đẽ đáng ngắm nhìn, với lớp lông tơ mùa đông lởm chởm mọc lên giữa lớp lông mềm mại mùa hè; và khi rơm mới bắt đầu được chở vào, óng ả sắc vàng thu hoạch và tỏa hương thơm tuyệt diệu tại những chuồng ngựa cho thuê lạ lẫm, nơi những con ngựa cắm đuôi vào nhau; và khi toàn bộ dân Luân Đôn bắt đầu hỏi nhau về sương muối (từ những ký ức tuổi thơ); thì khi ấy, tôi phải nói rằng, một nỗi khao khát cồn cào hướng về những rặng đá mây mù, về những ngọn cỏ đẫm sương, và cả tiếng ủn ỉn của đàn cừu nhà chúng tôi (khi mặt trời lặn) đã xâm chiếm lấy tôi, đến mức chẳng thứ gì ngoài những bó dây như của Samson mới có thể giữ tôi lại ở thị trấn Luân Đôn này.

Lorna cũng trào dâng một nỗi niềm khao khát tương tự hướng về miền quê và nếp sống thôn quê; cô ấy nói về những giọt sương lấp lánh nhiều chẳng kém gì khi nhắc đến mùi thơm từ lò nướng nhà chúng tôi. Và ở đây tôi xin phép được đề cập—dù hai thứ này hoàn toàn khác biệt—rằng cả sương đêm lẫn bánh mì ở Exmoor, dù tìm ở chốn cao sang hay thấp hẹp, cũng chẳng thể nào tìm thấy ở nơi nào khác. Hạt sương ở đó mới trong trẻo, tinh khôi, óng ánh như ngọc và dồi dào làm sao; còn bánh mì thì ngọt ngào, đậm đà và thân thương đến mức bạn có thể ăn hết một ổ rồi lại ăn thêm ổ nữa.

Trong những ngày chen chúc giữa dòng người đông đúc (mấy ai trong số họ thoát khỏi những lo toan tiền bạc, và nhiều người thậm chí còn phát bệnh vì thứ dịch bệnh tồi tệ hơn mang tên "chính trị"), tôi không thể ngừng suy ngẫm về cái cách chúng ta chen xô lẫn nhau. Chúa đã tạo ra mặt đất bao la, với khoảng không gian rộng lớn đủ cho tất cả cùng sống mà không cần phải tranh giành. Người cũng tạo ra dải nước bao la, ôm lấy cát trắng và vách đá với giọng nói trang nghiêm mỗi khi dông bão; và khi thời tiết ôn hòa lại xui khiến lòng người hướng về những điều công bằng. Nơi đó cũng đầy ắp thức ăn; chiếm tới hai phần ba thế giới và được lưu giữ để nuốt trọn tri thức; cho đến khi con cháu loài người ăn kiệt cả đất liền. Thế mà, trước khi chính mặt đất nhận ra dấu chân người trên một phần trăm diện tích; và trước khi một dặm trong mười ngàn dặm đại dương vô tận từng cảm nhận được lưỡi câu thả xuống hay tấm lưới kéo qua; thì kìa, chúng ta lại bò nhúc nhích thành từng đàn trên mặt đất nóng rát đang thiêu đốt chúng ta, chẳng khác nào đám sâu đen lúc nhúc trên khóm tầm gai bị tàn phá! Quả thực chúng ta quá đỗi quen dập khuôn theo lối mòn của nhau.

Tuy nhiên, tôi chưa từng và sẽ không bao giờ dám nhận mình là một nhà đạo đức học, chừng nào lý trí lành mạnh vẫn còn ở lại với tôi. Một người như thế hẳn phải rất khổ sở trong sự thiếu hụt đạo đức trầm trọng này; chẳng khác nào gã đi câu ở nơi không có cá; và hầu hết chúng ta đều đã quá đủ việc khi phải trông nom đạo đức của chính mình. Chỉ cần biết rằng tôi đã quyết định ra đi; và vì Lorna không thể đi cùng tôi, nên việc ra đi còn tồi tệ hơn cả việc ở lại. Hầu như mọi người đều quả quyết rằng tôi quả là một kẻ đại ngốc khi lại coi thường—mà theo từ đúng ngữ cảnh của họ là như thế—việc mưu cầu công danh sự nghiệp. Nhưng tôi đáp lại rằng chen xô mưu cầu là thô lỗ, và tôi nhường việc đó cho những ai thiếu chỗ đứng; tôi nghĩ rằng vận may của mình hẳn phải rất nặng nề nếu nó không thể tự chuyển động mà cần phải có người xô đẩy.

Lorna đã khóc khi tôi chia tay (điều đó làm tôi vô cùng mãn nguyện), và cô ấy gửi cả một thùng đồ lớn về cho mẹ, Annie, và cả Lizzie nữa. Và cô ấy dường như nghĩ, dù không nói ra, rằng tôi đã tự viện lý do để đi, và lẽ ra có thể ở lại cho đến mùa đông. Trong khi tôi biết thừa mẹ tôi (và mọi người ở trang trại) sẽ nghĩ rằng tôi ở Luân Đôn la la la đà, ăn chơi nhảy múa, ngắm nghía các cửa hàng dưới cớ làm việc cho Đức Vua, bỏ mặc mùa màng tự gặt hái, chưa kể đến chuyện tiêu tốn tiền bạc; trong khi suốt thời gian qua chẳng có lý do gì, ngoại trừ lòng ham thích phiêu lưu và săn bắn của chính tôi, giữ chân tôi không về nhà. Nhưng tôi biết rằng huy hiệu và tước vị của tôi sẽ biến từng chút một những lời cằn nhằn đó thành sự thán phục tuyệt vời.

Và mọi chuyện diễn ra đúng như vậy, thậm chí còn vượt xa cả mong đợi của tôi; bởi lẽ toàn bộ các giáo khu quanh vùng đã hợp sức tổ chức một bữa tiệc chiêu đãi sang trọng tại quán trọ Mother Melldrum—vì lúc này người phụ nữ tốt bụng đó đã qua đời, tên tuổi và gương mặt bà được treo trên tấm biển hiệu—nơi tôi được mời đến, chẳng khác nào một lệnh triệu tập. Và nếu ngày hôm sau sức khỏe của tôi không được tốt cho lắm, thì đó không phải vì thiếu những lời chúc tốt đẹp, cũng chẳng phải vì sự keo kiệt về rượu.

Chẳng cần phải nói thì ai cũng biết giới quý tộc thực sự trong một thời gian dài đã đối xử với danh dự mới của tôi bằng sự khinh bỉ và giễu cợt; nhưng dần dần, khi họ nhận ra tôi không phải là kẻ ngốc đến mức đòi hỏi sự bình đẳng với họ, mà vẫn đi làm việc đồng ruộng, vẫn quật ngã kẻ khác khi đấu vật, và vẫn ngả mũ chào các quan tòa giống như trước đây; một số vị quý tộc mang dòng máu cao quý nhất—thứ mà quanh vùng chúng tôi coi trọng hơn vàng bạc rất nhiều—đã thực sự bày tỏ mong muốn được làm quen với tôi. Và khi tôi bộc bạch lời cảm ơn một cách hoàn toàn thẳng thắn và không chút cay đắng (điều mà đối với tôi là vinh dự lớn nhất từng được trao), nhưng từ chối gia nhập hội nhóm của họ vì điều đó sẽ làm tôi không thoải mái, và chính họ cũng vậy theo một cách khác, họ đã làm điều mà hầu hết người Anh đều làm khi một việc là đúng đắn và hợp lý. Họ bắt tay tôi; và nói rằng họ không thể phủ nhận rằng có lý lẽ trong góc nhìn của tôi về vấn đề này. Và mặc dù chính họ phải chịu thiệt thòi—đó là một lời nói rất lịch thiệp—họ sẽ chờ cho đến khi tôi lớn hơn một chút và ý thức rõ hơn về giá trị của bản thân.

Chuyện này nhắc tôi nhớ tại sao một quý tộc người Anh lại vượt xa các quý tộc và hoàng thân nước ngoài đến vậy. Đôi khi tôi cũng từng tiếp xúc một chút với cả hai bên, và dù đã tính đến những khó khăn về ngôn ngữ cùng sự khác biệt trong giáo dục, nhìn chung, sự cân bằng vẫn nghiêng về phía người dân nước ta. Sở dĩ như vậy là vì chúng ta có hai quả cân vững chắc và (ngay cả trên cán cân lễ nghi) vượt trội hơn mọi sự xã giao hời hợt; đó là tinh thần yêu chuộng công lý bẩm sinh và khả năng kiên trì nhẫn nại.

Tuy nhiên, một số người có thể ngạc nhiên rằng những người có lòng yêu công lý, dù là bẩm sinh hay do rèn luyện, lại có thể tiếp tục chịu đựng sự ngạo mạn, tham lam và bạo ngược của gia tộc Doone.

Vì giờ đây khi mùa đông trôi qua, nhà Doone không chịu an phận ở nhà như nghĩa vụ danh dự mà họ phải làm. Hai mươi con cừu một tuần, một con bò mộng béo tốt, và hai con hươu đỏ vạm vỡ (để đổi món cho lành mạnh), cùng với ba mươi bushel bột mì, hai thùng rưỡi rượu táo, và một trăm cân nến, chưa kể những thứ khác đủ mọi chủng loại mà họ có được bằng cách hạch sách—chắc chắn những thứ đó đã đủ để giữ chân đám người ấy ở yên trong thung lũng mà không bùng phát những trò càn quấy. Thế nhưng mọi chuyện lại không như vậy; họ đã phàn nàn về điều gì đó—tôi nghĩ là do quá nhiều thịt cừu mái—và bất chấp mọi lời thề thốt đã đưa ra, họ lại cưỡi ngựa ra ngoài và bắt đi hai cô gái trong vùng chúng tôi.

Hai cô gái này vốn được nhiều người biết đến vì họ từng phục vụ bia tại một quán rượu; và nhiều người đàn ông từng ngắm nhìn họ qua ly bia (nhất là vì họ là những cô gái xinh xắn) đều cho rằng thật vô cùng cay đắng cho họ khi phải ra đi như thế, và có lẽ bản thân họ cũng chẳng hề tự nguyện. Mẹ của họ (dù bà đã nhận một số tiền mà nhà Doone lúc nào cũng dư dả) tuyên bố rằng đó là một vụ cướp bóc; và dù nó có làm tăng khách khứa trong một thời gian, thì điều đó cũng sẽ sớm lụi tàn. Và ai sẽ chịu cưới hai đứa con gái của bà bây giờ, dù chúng vừa tháo vát lại vừa nết na?

Trước khi chúng tôi kịp suy ngẫm xong về hành vi tàn bạo này—ít nhất tôi gọi nó là như vậy, dù những người quen với luật pháp có thể có góc nhìn khác—chúng tôi đã nhận được tin về một vụ việc còn tồi tệ hơn nhiều, làm cho trái tim của những người phụ nữ vùng này phải rụng rời. Tôi sẽ kể lại chuyện này bằng những lời lẽ cẩn trọng nhất, để không làm mất lòng ai, nếu như sự khéo léo của ngôn từ có thể giúp ích.*

Cô Margery Badcock, một phụ nữ trẻ khỏe mạnh, đàng hoàng, với nước da hồng hào tốt tươi, sở hữu một trong những chuồng gà tốt nhất vùng chúng tôi, vào khoảng sáu giờ tối đang cho con bú và ngóng đợi chồng về. Đứa trẻ này đã quá tuổi bế bồng, như mọi người vẫn nói với cô; vì nó đã có thể tự chạy chừng hai thước, và thậm chí bốn hoặc năm thước nếu bấu vào tay cầm. Nó có cái dáng dấp quay nhìn xung quanh, xoạc rộng hai chân và cười nhe răng, cái thân hình nhỏ bé dũng cảm vươn lên sau một chuyến hành trình gian khổ đến tận đầu bàn, mà mẹ nó bảo chẳng có gì sánh bằng. Dù vậy, nó vẫn đòi bú mẹ gần như đều đặn như một chiếc đồng hồ; và vì đó là đứa con đầu lòng, cả cha lẫn mẹ đều rất cưng chiều; vì chỉ có Chúa mới biết liệu họ có thể có thêm một đứa con nào như thế nữa hay không.

Christopher Badcock là một nông dân thuê đất ở giáo khu Martinhoe, thuê khoảng năm mươi mẫu đất cùng quyền sử dụng đất công đi kèm; và vào thời điểm này, đang là tháng Hai, thời tiết đẹp và khô ráo, anh đang tích cực cày bừa chuẩn bị cho mùa gieo hạt xuân. Vì thế, vợ anh không lấy làm kinh ngạc dẫu trời đã chạng vạng tối mà bác nông dân Christopher vẫn còn làm việc trong cái giờ "trở trời chạng vạng" như cách chúng tôi vẫn gọi.

Nhưng cô đã bàng hoàng, thậm chí kinh ngạc, khi dưới ánh lửa bếp (được nhóm lên xua tan giá lạnh cho chồng), cô nhìn thấy sáu hoặc bảy gã đàn ông vũ trang tận răng xông tợn vào phòng; cô gào lên khiến cô con gái ở bếp sau nghe thấy, nhưng sợ hãi không dám ra giúp. Hai gã đàn ông khỏe mạnh và dữ tợn nhất lập tức tóm lấy cô Margery tội nghiệp; và dẫu cô đã chiến đấu vì con và vì nhà cửa, cô chỉ như một đứa trẻ trong tay chúng. Bất chấp nước mắt, tiếng gào khóc và sự vùng vẫy, chúng giật phắt đứa bé khỏi tay người mẹ rồi quăng nó xuống nền nhà đầm vôi; sau đó chúng tha cô ra ngựa (vì lúc này cô đã ngất đi), dặn những gã còn lại lục soát ngôi nhà, rồi cưỡi ngựa phóng về thung lũng cùng chiến lợi phẩm. Và qua lời mô tả về một trong hai gã đã tha người phụ nữ tội nghiệp đi, tôi biết chắc chắn không còn nghi ngờ gì nữa, đó chính là Carver Doone.

Những gã Doone còn lại ở lại, có lẽ cũng thấy hụt hẫng phần nào, liền hăng hái bắt tay vào sục sạo khắp nhà để tha về tất cả những gì ăn được. Và vì hơi bực mình (vì vợ chồng Badcock không phải là cặp đôi giàu có) khi chẳng tìm thấy gì ngoài thịt muối, trứng, phô mai và vài thứ lặt vặt, lại chẳng có gì uống ngoài nước lọc; tóm lại là khẩu vị của chúng bị xúc phạm, chúng quay lại căn bếp và dậm chân thình thịch; và đứa bé vẫn đang nằm ở đó.

Rủi thay, đứa trẻ này bắt đầu khóc ỉ ôi đòi mẹ, vì vốn được nuông chiều từ nhỏ, chỉ cần cất tiếng khóc một chút là được đáp ứng mọi thứ. Trên đầu nó lúc này đã dính vết bẩn của nền nhà, như cô người làm (khi lén ra nhìn đứa bé trong lúc đám gã thô bạo đang chửi rủa trên tầng) đã khai chứng. Cô đã đặt một chiếc khăn lau bát đĩa dưới đầu nó, hôn nó rồi lại chạy biến đi. Cô tên là Honour Jose, cô hoàn toàn có ý tốt với chủ nhà; nhưng không thể cưỡng lại sự sợ hãi. Và nhiều người phụ nữ đã trách móc cô, mà tôi nghĩ là không đúng lắm, vì hành động bỏ rơi đứa trẻ như vậy. Nếu đó là con đẻ của cô, bản năng thay vì lý trí có thể đã làm chủ tình hình; nhưng vì đứa trẻ là con của bà chủ, cô chúc nó may mắn rồi bỏ đi khi thấy đám đàn ông hung dữ bước xuống cầu thang. Và vì hoảng sợ trước những lời lẽ tục tĩu của chúng (vì chúng không tìm thấy bạc), cô cắp đít chạy trốn trong sự vội vã đứt hơi, sợ rằng mình sẽ không thể thở lại được. Vì cô rất hay bị nấc cục.

Trong khi cô người làm tốt bụng này đang trốn trong lò nướng, cạnh bếp lửa nhà sau, với một bó củi kéo phủ lên người, nằm đó với trái tim đập liên hồi còn tồi tệ hơn cả khi đang nướng bánh; thì đám đàn ông (như tôi đã nói ở trên) đi xuống cầu thang và dậm chân xung quanh đứa bé.

“Rowland, thịt muối có ngon không?” một gã hỏi kèm vài câu chửi thề; “Thật là tồi tệ khi Carver cuỗm mất món hời duy nhất và bỏ mặc chúng ta trong một cái túp lều chết đói; chẳng đủ ăn cho hai người. Lấy mấy thanh củi gạt xuống đi, cậu em. Lão nông dân định ăn gì cho bữa tối?”

“Chẳng có gì ngoài một hai củ hành, một ổ bánh mì và một lát thịt muối hoen gỉ. Đám người tồi tàn này sống tằn tiện quá, chẳng đáng để cướp.”

“Không có trò gì chơi à? Thế thì hãy chơi trò tung hứng loriot với đứa bé này đi! Đó sẽ là điều tốt đẹp nhất xảy ra cho một đứa trẻ dị giáo phổng phao. Cưỡi ngựa gỗ đến ngã tư Banbury. Ngoan nào bé Bunting; tung nó lên xem cổ tay tao có vững không nào.”

Sự tàn bạo của gã đàn ông này là điều khiến tôi buồn nôn khi phải nhắc đến; chỉ biết rằng khi đứa trẻ tội nghiệp rơi xuống (mà không hề cố gào khóc hay la gào, vì tưởng đó là trò chơi thường ngày của nó khi được tung lên rồi rơi xuống lại), cô người làm trong lò nướng ở bếp sau, vì không có cửa ngăn cách, đã nghe thấy chúng nói như sau—

Giờ đây tôi nghĩ rằng khi chúng tôi nghe câu chuyện này, và Kit Badcock tội nghiệp đi khắp nơi trong trạng thái nửa ngây nửa dại, không ngước nhìn ai mà gục mắt xuống, hỏi xem liệu chúng tôi có nghĩ anh ấy đã bị đối xử bất công hay không, và dường như chẳng còn thiết gì đến cuộc sống nếu mọi chuyện lại ra nông nỗi này; khi ấy, từng biết anh là một người đàn ông vạm vỡ, một ca sĩ hay ở quán rượu, lại rất thích áp đặt luật lệ và ra dáng uy quyền với phụ nữ, tôi thực sự nghĩ rằng điều đó làm chúng tôi xúc động hơn nhiều so với việc anh ấy đi khắp nơi gào thét, phát điên và thề thốt trả thù tất cả mọi người.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 23 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.