Những giáo điều triết học bàn về sự ngắn ngủi và vô thường của đời người vốn dĩ đã là đồ cổ từ thời Herodotos. Chúng đã hằn sâu dấu ấn vào ngôn ngữ của chúng ta qua nhiều câu tục ngữ, nhưng không câu nào thể hiện điều đó rõ mồn một bằng câu “bộ xương trong bữa yến tiệc”. Tại chương 78 trong tác phẩm Euterpe, chúng ta bắt gặp một dẫn chứng tuyệt vời. Khi nhắc đến người Ai Cập, ông thuật lại rằng: “Tại các bữa tiệc tùng linh đình của tầng lớp giàu có, khi họ đã dùng xong bữa tối, một người sẽ khiêng đi quanh bàn một chiếc quan tài đựng hình nak một cỗ thi hài bằng gỗ được chạm trổ, có màu sắc và đường nét tinh xảo giống như thật, kích thước thường dài khoảng một hoặc hai cubit; và khi đưa cho từng vị khách xem, người đó nói: ‘Hãy nhìn vật này, rồi uống và vui chơi đi; bởi vì khi chết đi, ngươi cũng sẽ giống như thế này.’ Đó là thông lệ của họ trong các buổi tiệc rượu.” Theo Plutarch (trong tác phẩm Isis and Osiris, chương 17), người Hy Lạp đã tiếp thu phong tục Ai Cập này, và dĩ nhiên, người La Mã gần như chắc chắn đã học lại từ người Hy Lạp. Mục đích của tập tục ấy, theo Scaliger, là để thúc đẩy những thực khách tận hưởng vị ngọt của cuộc đời khi họ hãy còn khả năng cảm nhận niềm vui, từ đó đắm mình vào lạc thú trước khi cái chết tước đoạt đi tất cả của họ. Những câu thơ tiếp theo diễn tả điều này một cách vô cùng tuyệt mỹ. Trong bài thơ Copa của Virgil, ta bắt gặp những dòng sau:
Rượu đâu! Rượu và súc sắc! Lo âu ngày mai chỉ làm kẻ khờ đờ đẫn!
Bằng vành tai, Tử thần kéo tôi lại. ‘Hãy sống!’ hắn thì thầm khẽ khàng, ‘Hãy sống! Ta đến đây.’
Triết lý thực tế của đám ăn chơi bất tận đúc kết lại trong câu nói này do Trimalchio thốt lên. Động từ “vivere” đã mang một ý nghĩa rộng lớn và ít chuyên biệt hơn nhiều so với thời điểm nó chỉ biểu thị thực tế vật chất của sự tồn tại. Những kẻ sa đọa ở thành Rome thuở trước hoàn toàn không tin rằng một cuộc sống thiếu đi sự phóng túng thì được coi là cuộc sống. Những người phụ nữ lẳng lơ, quần tụ trong vòng tròn bè bạn theo cách thức phù hợp nhất với ham muốn của họ, chỉ hiểu động từ ấy theo cách lý giải riêng của mình, và các nhà ngữ học chẳng mấy chốc cũng xuôi theo sự thay đổi ấy. Chính theo nghĩa này mà Varro đã dùng từ “vivere”, khi ông nói: “Hỡi những thiếu nữ, hãy mau chóng mà sống, những ai mà tuổi trẻ cho phép tận hưởng, ăn uống, yêu đương, và ngự trị cỗ xe của nữ thần Venus (Veneris tenere bigas).”
Thế nhưng, một ví dụ thậm chí còn xuất sắc hơn về sự mở rộng ý nghĩa của từ này lại được tìm thấy trên văn bia của một người phụ nữ lầu xanh. Đoạn văn bia này do một kẻ ăn chơi thuộc trường phái Petronius soạn thảo.
ALIAE. RESTITVTAE. ANIMAE. DVLCISSIMAE.
BELLATOR. AVG. LIB. CONIVGI. CARISSIMAE.
AMICI. DVM. VIVIMVS. VIVAMUS.
Trong bản khắc này, thật gần như bất khả thi để dịch ba từ cuối cùng. Cụm từ “Khi chúng ta sống, hãy sống,” xét cho cùng là quá ư thiếu thốn biểu cảm. Triết lý này đã đi xa đến mức về sau người ta cho rằng cần phải có một nữ thần hộ mệnh riêng biệt. Vị nữ thần ấy, nếu chúng ta có thể tin vào thẩm quyền của Festus, đã lấy tên gọi “Vitula” từ từ “Vita” hoặc từ chính cuộc sống tràn trề hoan hỉ mà nàng sẽ cai quản.