Quỷ Tam Quốc (dịch)

Lượt đọc: 15710 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2265
- Cánh tay đẫm máu

❊ ❊ ❊

Chương 2265 - Cánh tay đẫm máu

Nếu một người thời Hán xuyên không đến hậu thế, chưa cần nói đến việc liệu họ có nhận biết được những thứ mới mẻ khác, chỉ riêng về địa danh thôi cũng sẽ khiến họ bối rối. Rất nhiều nơi có thể không còn quen thuộc với họ. Nhưng có một điều chắc chắn: nếu người ấy xuất phát từ Trường An và đi về phía Tây, họ sẽ lập tức nhận ra những cái tên quen thuộc như Thiên Thủy, Lũng Tây. Tiến thêm chút nữa, khi đến Lan Châu, có thể họ sẽ lưỡng lự, nhưng không lâu sau, nhìn vào những bảng hiệu và tên đường, họ sẽ nhận ra đó là Kim Thành.

Rồi đi xa hơn về phía Tây Bắc, vào hành lang Hà Tây, tầm mắt họ sẽ gặp lại những tên đất gợi nhớ về thời kỳ Hán triều hưng thịnh: Vũ Uy, Trương Dịch, Tửu Tuyền, Đôn Hoàng, những thành trì trọng yếu với tầm quan trọng ngang ngửa với Thâm Quyến hay Hùng An của hậu thế. Đó là cửa ngõ giao thương kinh tế, văn hóa giữa Đại Hán và Tây Vực.

Những cái tên này không chỉ biểu trưng cho binh quyền và sự hùng mạnh của Đại Hán, mà còn phản ánh âm vang của những đoàn lạc đà với tiếng chuông ngân giữa mênh mông sa mạc.

Chuỗi cái tên Vũ Uy, Trương Dịch, Tửu Tuyền, Đôn Hoàng dường như tóm gọn một cách sinh động và ngắn gọn lịch sử chinh phạt Hung Nô của Đại Hán.

Hán Vũ Đế quả thật có tài trong việc dùng địa danh để biểu thị uy lực quốc gia. Vậy nên mới có cái tên “Trương quốc bế dịch” của Trương Dịch, hay Tửu Tuyền, nơi được đặt tên để kỷ niệm chiến thắng quân sự. Và không thể không nhắc đến Đôn Hoàng với ý nghĩa là 'sự rực rỡ huy hoàng'. Vũ Uy, thành trì trẻ nhất trong bốn quận Hà Tây, được lập dưới thời Tuyên Đế, để biểu thị sức mạnh quân sự của Đại Hán. Quận lỵ của Vũ Uy, Cô Tàng, được dịch từ tiếng Hồ, gợi liên tưởng đến Cô Tô, một vùng phía Nam của Giang Nam.

Nhưng thật đáng tiếc, dưới thời điểm hiện tại của Đại Hán, tuyến đường lẽ ra phải tràn đầy vinh quang và huy hoàng, thậm chí còn mang sắc màu thi vị ấy lại phơi bày nhiều vấn đề.

Với sự yếu kém trong việc quản trị và những biện pháp ngu xuẩn của chính quyền Đại Hán, những vùng lãnh thổ mà quân đội Đại Hán khó nhọc giành lấy, thay vì được chính quyền chăm lo, lại bị coi như nơi lưu đày. Không chỉ các quan chức tội phạm bị đày đến đây, mà cả những người dân bình thường trong nước cũng bị cưỡng bức di cư đến, làm cho thành phần cư dân của vùng này chủ yếu là những kẻ phạm tội hoặc tiềm ẩn nguy cơ phạm tội.

Kết quả, một cách tự nhiên, những cuộc nổi dậy nổ ra.

Qua nhiều lần mất rồi lại giành lại, tay Đại Hán vươn tới khu vực này đã nhuốm đầy máu, nhiều ý chí to lớn cũng bị mài mòn dần trong quá trình ấy. Đặc biệt khi Đông Hán đã dời đô về Lạc Dương, càng khiến cho khu vực này trở nên xa xôi, ít được chú ý hơn. Có người thậm chí đề nghị cắt bỏ hẳn khu vực này.

Cánh tay bị thương, thay vì cố gắng chữa lành, lại định chặt đứt để tránh mất máu?

Dù hiện tại, Phỉ Tiềm đã đưa Tây Vực trở lại lãnh thổ Đại Hán, nhưng tuyến đường kết nối vẫn còn rất mong manh. Chính vì vậy, hành động quân sự do Giả Hủ và Trương Liêu khởi xướng nhằm vào vấn đề này.

Tham nhũng ở một vùng thường có đặc thù riêng của nó.

Như ở nơi giàu khoáng sản, tham nhũng thường liên quan đến giao dịch quyền sở hữu khoáng sản. Ở nơi kinh tế tài chính phát triển, tham nhũng trong ngành tài chính là điều dễ hiểu. Còn tại khu vực này, hành lang Hà Tây, đa phần quan lại tham nhũng đều liên quan đến thương mại.

Bởi thời Đại Hán không có các phương tiện ghi hình, ghi âm tiện lợi như hậu thế, nhiều vấn đề chỉ có thể được nghe kể lại. Vì vậy, những trạm thu phí, các trạm kiểm soát với các kiểu như 'phải tìm ra lỗi bằng mọi giá', hay 'mười xe nhưng thu phí như hai mươi xe' cứ thế mọc lên, khiến không ít quan lại béo mập lên như phụ nữ mang bầu.

Vấn đề ở Lâm Kính chỉ là một điểm nhỏ, nhưng nó phản ánh cả một chuỗi, cả một bề mặt.

Giải quyết thế nào đây? Đơn giản chỉ là nặn sạch một nốt mụn thôi sao? Hay chỉ cần quét sạch bề ngoài là có thể coi như thanh liêm?

Rõ ràng, Giả Hủ không muốn có một kết quả nông cạn và hời hợt như thế. Ông muốn mổ xẻ, cắt bỏ mọi khối u thối rữa trên hành lang Hà Tây. Con dao phẫu thuật ấy chính là Trương Liêu, còn sợi chỉ khâu lại chính là Hàn Quá.

Còn Giả Hủ thì…

Nhát dao đầu tiên được Trương Liêu thực hiện một cách trơn tru. Với dáng vẻ nhẹ nhàng, Trương Liêu đã hạ gục một ổ trại nằm ở ngoài thành Vũ Uy, đó là trại của gia tộc Tằng. Sau đó, ông tiến sâu vào quận Vũ Uy.

Kiểm soát một thành trì lớn, dù phần nào thể hiện sự kiểm soát vùng đất đó, nhưng trên thực tế không phải như vậy. Khu vực xung quanh thành vẫn có nhiều thế lực ngoan cố. Chỉ khi quét sạch những thế lực này, hành lang Hà Tây mới có thể hoàn toàn yên ổn.

Điều này giải thích tại sao những thủ lĩnh Khương ở đây lại cảm thấy mình có đủ bản lĩnh để thách thức Giả Hủ, Trương Liêu, thậm chí là Phỉ Tiềm. Trong cuộc chiến loạn Tây Khương trước đây, người Khương thường xuất hiện một cách bí ẩn rồi biến mất nhanh chóng, điều này phần nào xuất phát từ việc quân Hán không hiểu hết khu vực Hà Tây, cũng không thể quét sạch hoàn toàn vùng này.

Trước thời Giả Hủ, nhiều người đã đề xuất rằng hành lang Hà Tây cần được chú trọng. Có người cho rằng tuyến đường này rất quan trọng, giúp đảm bảo sự kết nối vững chắc giữa trung ương và biên giới, tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại, thậm chí phát triển Tây Vực.

Vậy nên cần tăng cường quân lực, dọn sạch các băng cướp ở khu vực này, nhưng mọi nỗ lực trước đây đều thất bại.

Những người đề xuất không có quyền quyết định, còn những kẻ có quyền thì lại chẳng thấy lợi ích rõ ràng. Những người có lợi ích chỉ lo giữ lấy phần của mình, không ai muốn bỏ ra một lượng lớn nguồn lực để tổ chức các chiến dịch quân sự mà không mang lại lợi nhuận tương xứng. Và thế là hành lang Hà Tây dần rơi vào quên lãng, ẩn mình trong màn sương mù như nhiều vùng đất khác của Đại Hán.

Ở thời điểm này của Đại Hán, thảo nguyên Hoàng Thổ vẫn còn xuất hiện nhiều loài thực vật thuộc họ dương xỉ. Do đó, vùng sa mạc Hà Tây cũng không hẳn khô cằn như hậu thế. Có thể nói rằng đây vẫn là một khu vực chăn thả gia súc khá tốt. Vì vậy, rất nhiều người Khương sinh sống tại khu vực này.

Dù đã đi suốt một ngày, tinh thần của binh lính vẫn rất phấn chấn. Trước khi trời tối hẳn, họ đã dựng xong trại và chuẩn bị nấu nướng bữa tối. Việc mở rộng lãnh thổ, tuy không phải binh lính nào cũng hiểu rõ ý nghĩa sâu xa, nhưng việc giành được chiến công trong những chiến dịch như thế này, từ đó cải thiện đời sống của bản thân và gia đình, là điều mà mỗi binh sĩ đều cảm nhận được.

Ai nấy đều sẵn sàng, háo hức chờ đợi trận đánh tiếp theo cùng với Trương Liêu. Trong tâm trí nhiều binh lính, đối thủ của họ chỉ đơn thuần là những tên cướp ngựa.

Tại vùng đất biên cương chưa từng được vẽ chi tiết trên bản đồ Đại Hán, cờ tam săc đang phấp phới bay.

Nhiều người cho rằng phía Tây Nam hành lang Hà Tây là núi, còn phía Đông Bắc là sa mạc, vậy thì chỉ có một con đường thẳng mà đi. Nhưng thực tế, sa mạc phía Bắc không hẳn là hoang vu như hậu thế, diện tích vùng phủ cát vàng nhờ có thảm thực vật mà nhỏ hơn rất nhiều so với hậu thế.

Giống như Lâu Lan, một đô thị sầm uất thời cổ đại, nhưng đến hậu thế đã biến thành một đống tàn tích chìm trong cát.

Phía Bắc Vũ Uy, trong vùng sa mạc, có nhiều ốc đảo vô danh. Những ốc đảo này có thể giống như Lâu Lan, một khi gặp động đất, dòng sông ngầm chuyển hướng sẽ làm chúng cạn kiệt nước và cuối cùng biến thành phế tích.

Ốc đảo có loại tốt, loại xấu, loại lớn, loại nhỏ. Trong số đó, có một nơi gọi là Hạ Na, trong tiếng Khương nghĩa là 'thuần khiết', dùng để miêu tả dòng nước ở đây tinh khiết vô cùng.

Những ốc đảo như thế này chỉ dành cho các quý nhân mới được cư ngụ và tận hưởng.

Giống như Bắc Cung.

Bắc Cung là hậu nhân của Bắc Cung Bá Ngọc. Bắc Cung là họ, còn Bá Ngọc là tên tự. Vì vậy, Bắc Cung Bá Ngọc thực chất tên là Bắc Cung Chương.

Hiện tại, vị Bắc Cung này cũng có tên là Bắc Cung Chương.

Trong tập quán của người Khương hay người Hồ, có một phong tục là họ sẽ lấy tên của cha, ông hoặc tên của bộ lạc mình để ghép vào tên cá nhân. Vì vậy, tên đầy đủ của Bắc Cung rất dài, nhưng gọi tắt là Bắc Cung cho tiện.

Khi Hàn Toái còn là Hàn Ước, tổ tiên của Bắc Cung đã tin vào lời hứa của Hàn Ước. Ừ thì, có thể lúc ấy Hàn Ước nói thật, chỉ là sau này Hàn Ước biến thành Hàn Toái, lời người trở thành lời ma, dẫn đến việc Bắc Cung bị Hàn Toái giết hại, sức mạnh bị suy giảm đáng kể, phải rút lui về sa mạc. Nhưng giờ đây, sau một thời gian phục hồi, bộ tộc Bắc Cung lại lấy lại phần nào thực lực.

Cũng chính vì biến cố này, Bắc Cung đã tin chắc rằng, không có người Hán nào đáng tin. Tin lời người Hán không khác gì tin lời ma quỷ…

Bắc Cung cũng không tin tưởng gì vào nhà họ Tằng, chỉ là vì lợi ích mà tạm thời lắng nghe một chút.

Vì thế, sau cuộc họp, Bắc Cung đã cử người đi do thám tình hình thực tế.

Người do thám đã trở về, một thủ lĩnh Khương nhận được tin tức liền bước vào đại trướng của Bắc Cung, trên mặt nở nụ cười nịnh bợ: “Bắc Cung quý nhân…”

Bắc Cung ngước mắt nhìn một cái rồi hỏi: “Có tin tức gì không?”

“Bẩm báo quý nhân…” Thủ lĩnh Khương thưa, “Người của chúng ta đã bí mật theo dấu vết của quân Hán mang cờ tam săc… giờ đã quay về…”

“Ồ? Lần này quân Hán đến bao nhiêu người?” Bắc Cung hỏi.

“Khoảng hai, ba ngàn người thôi…” Thủ lĩnh Khương đáp, rồi do dự một chút, “Vì mấy hôm nay gió lớn, dấu vết trên mặt đất bị thổi đi phần nào, nên không thể tính toán chính xác. Nhưng chắc là không sai biệt nhiều lắm, người của Tằng gia trước đây cũng nói quân số tương tự.”

Bắc Cung khẽ gật đầu, trầm ngâm suy nghĩ.

Hai, ba ngàn người, con số không lớn, cũng không nhỏ, nhưng rất phù hợp.

Người đông thì sức mạnh nhiều, nhưng càng đông thì lại cồng kềnh, đòi hỏi khả năng tổ chức hành quân cao hơn. Còn với hai, ba ngàn người, vừa có đủ sức mạnh chiến đấu tốt, lại có sự linh hoạt.

Chỉ có điều, không lẽ quân Hán mang cờ tam săc này nghĩ rằng, chỉ cần có hai, ba ngàn quân là có thể giải quyết hết mọi vấn đề?

Hành lang Hà Tây giàu có béo bở, không ai muốn dễ dàng từ bỏ, ngay cả khi đích thân Phỉ Tiềm dẫn đại quân tới…

Ừ, khi đó hẵng tính.

Bây giờ chỉ có hai, ba ngàn người, nếu giờ mà sợ hãi không dám động thủ, thì sau này làm sao giữ vững uy thế?

Dù nhà họ Tằng có phần lợi dụng Bắc Cung và đồng bọn, nhưng rõ ràng ở thời điểm này, từ bỏ lãnh thổ của mình là một hành động ngu xuẩn. Ngay cả thời Hán Linh Đế, họ cũng từng phái mười vạn quân đến đây, vậy thì sao?

Giờ chỉ có ba ngàn, dù có thể tấn công vài trại, vài bộ lạc, thì cũng chiếm được bao nhiêu?

Bắc Cung nghĩ rằng, trong giai đoạn này, sự “lo lắng” của nhà họ Tằng rõ ràng là có phần thái quá, thậm chí có phần phản ứng quá đà. Dĩ nhiên, Bắc Cung cũng không vì thế mà chủ quan. Ông vẫn lệnh cho các bộ lạc dưới quyền chuẩn bị sẵn sàng. Với chiều sâu phòng thủ, với các trại kiên cố, cùng với đủ quân số trong bộ lạc, thêm vào đó là sự cảnh giác cao độ, Bắc Cung tin rằng, đừng nói đến việc Trương Liêu tới, ngay cả Phỉ Tiềm đích thân tới…

Ừ thì, dù Phỉ Tiềm có đến, cũng không thể nhanh chóng giải quyết vấn đề.

Khi đại quân đến, không khó gì, chỉ cần rút vào núi, trốn vào sa mạc, rồi chờ đại quân rút đi là có thể trở ra.

Suy đi tính lại, Bắc Cung không thấy có gì sai sót trong kế hoạch. Ông tin rằng cuối cùng phần thắng sẽ thuộc về mình. Biết đâu vài ngày nữa, khi gió thu nổi lên, đông đến, Trương Liêu lại không chịu nổi mà phải rút lui?

Khi cần kiên nhẫn, Bắc Cung có thừa tâm lý vượt trội.

Đây là lãnh thổ của ông.

Ba ngàn người.

Haha.

“Không cần hoảng sợ… cũng không cần vội vàng, dù sao cũng có kẻ còn nóng nảy hơn cả chúng ta, đúng không?” Bắc Cung mỉm cười nói. “Cứ tiếp tục theo dõi, đừng hành động lỗ mãng, xem bọn Hán mang cờ tam săc này sẽ đi đâu… có biến gì, lập tức báo lại!”

Mặc dù không sợ hãi, nhưng không cần thiết phải chắn đường cho nhà họ Tằng. Dù sao trong giai đoạn này, chỉ cần quân cờ tam săc không trực tiếp gây chuyện, Bắc Cung cũng không muốn ra mặt đối đầu.

Nhưng ở bên kia, nhà họ Tằng đang rất lo lắng.

Trại của nhà họ Tằng đã bị phá hủy, vì vậy họ phải chuyển đến nơi khác.

Đó là một trại quân cũ, được xây dựng từ thời Đại Hán khi họ bắt đầu chinh phạt Tây Vực. Khi đó, Đại Hán đã xây dựng nhiều trại như thế này để làm nơi trung chuyển lương thảo và vật tư, đồng thời đề phòng quân Hung Nô đột kích từ sa mạc. Nhưng sau khi quân Hung Nô bị đánh bại, những trại quân này dần dần bị bỏ hoang và trở thành hang ổ của bọn cướp ngựa.

Tằng Đại Hộ, tên thật là Tằng Hiểu.

Cha của Tằng Hiểu, Tằng Phúc, vốn là một quan lại của nhà Hán, và là một quan tốt.

Một vị quan tốt không chê vào đâu được.

Nói chính xác hơn, ông chỉ là một viên lại, chưa thể coi là quan.

Khi Tằng Phúc được phái đến khu vực này, ông đã làm việc rất chăm chỉ, tận tụy, không quản gian khó, để đảm bảo sự ổn định và đoàn kết của hành lang Hà Tây, cũng như sự canh tác của dân thường. Gần như mỗi ngày ông đều chạy đi chạy lại giữa những cơn bão cát, từ một thư sinh da trắng, ông dần biến thành người có vẻ ngoài như dân Khương.

Ngày đó, Tằng Hiểu từng rất tự hào về cha mình, xem ông là tấm gương mẫu mực để noi theo và học hỏi, cho đến một ngày…

Thái thú Kim Thành, Ân Hoa, bị bệnh và qua đời.

Thái thú cũ chết đi, tất nhiên sẽ có một Thái thú mới thay thế.

Người ta vẫn nói “ấn vàng đổi chủ, thái thú lưu chuyển” chẳng phải như thế sao?

Thái thú Kim Thành mới đến, Trần Ý, đương nhiên có một đội ngũ lãnh đạo mới, tất nhiên có những thuộc cấp mới, những chính sách mới, và đặc biệt là phải 'đốt ba đống lửa' để thể hiện quyền lực. Và việc đầu tiên cần làm khi nhậm chức là kiểm soát nhân sự, nắm quyền lực tài chính và lương thực, tìm ai đó để giết gà dọa khỉ.

Thế là, trong một cuộc họp đột xuất, Tằng Phúc đang mệt mỏi vì phải chạy khắp nơi, bị Thái thú mới Trần Ý nắm thóp.

Lý do là Tằng Phúc đến muộn.

Nhưng vấn đề là cuộc họp được tổ chức gấp, thông báo đến Tằng Phúc cũng rất muộn. Tuy nhiên, Trần Ý không quan tâm đến điều đó, ông ta cũng không muốn quan tâm. Ông ta chỉ muốn dùng Tằng Phúc để làm gương răn đe các quan lại khác.

Tằng Phúc là người thật thà, ông nêu rõ sự thật và giải thích lý do muộn của mình một cách nghiêm túc và chi tiết, nhưng ông không biết rằng, càng giải thích, càng khiến Trần Ý cho rằng ông đang ngụy biện, đang thách thức quyền uy của ông ta.

Kết quả thì rất đơn giản.

Uy quyền của Thái thú há có thể bị khiêu khích hay khinh nhờn?

Vậy nên, người làm việc lương thiện, chăm chỉ như Tằng Phúc đã chết.

Ông bị đánh đến chết.

Chết dưới tay những người từng ca ngợi ông là người tốt, chỉ vì họ cần thể hiện lòng trung thành với Thái thú mới.

Trần Ý rất vui, vì ông cho rằng mình đã thống nhất tư tưởng, thanh lọc đội ngũ.

Quan lại dưới quyền ông ở Kim Thành cũng vui mừng không kém, không cần lao lực, vẫn có thể vừa ăn vừa cướp đoạt.

Mọi người đều vui vẻ, trừ gia đình Tằng mất đi trụ cột.

Và thế là, tại vùng đất Tây Khương, lại xuất hiện thêm một thủ lĩnh phỉ cướp ngựa…

Về sau, Trần Ý tiếp tục kế hoạch thu gom tài sản của mình, lợi dụng quyền lực để bóc lột dân chúng và người Khương. Cuối cùng, trong cuộc nổi loạn Tây Khương, ông ta bị quân nổi dậy bắt được và 'đặt' lên ngọn cờ khởi nghĩa, chặt đầu, lấy máu ông ta bôi lên lá cờ khởi nghĩa.

Vì vậy, Tằng Hiểu không còn tin vào Đại Hán, cũng không tin vào quan lại Đại Hán, đặc biệt là quan chức cấp cao. Ông chỉ tin vào bản thân mình và những thuộc hạ mà ông đã dày công gầy dựng trong suốt bao năm.

Bên trên tường thành của quân trại, bầu không khí căng thẳng bao trùm.

Những ngọn đuốc thắp sáng cả bức tường thành, từng người lính cầm vũ khí đứng thẳng trên tường, cảnh giác dõi mắt về vùng hoang dã tối đen xung quanh.

Tằng Đại Hộ quay đầu nhìn lại, trong quân trại những người đàn ông khỏe mạnh vẫn đang nghỉ ngơi, đội trưởng tuần tra nhận thấy ánh mắt của Tằng Đại Hộ, liền giơ đuốc lên chào.

Tằng Đại Hộ cũng khẽ gật đầu đáp lại, rồi ánh mắt lại hướng ra màn đêm đen kịt.

Nhiều người nghĩ rằng, gốc rễ của Tằng Đại Hộ là cái trại kiên cố của ông, nhưng thực ra không phải.

Trại chỉ là bức bình phong.

Sức mạnh thực sự của Tằng Đại Hộ nằm ở đám “phỉ cướp ngựa” dưới quyền ông.

Chính nhờ có bọn phỉ này, Tằng Đại Hộ mới có thể tung hoành cả hai phe hắc bạch. Muốn chơi bạch thì có bạch, muốn chơi hắc thì có hắc, không thì còn có mờ mờ ảo ảo lửng lơ...

Nhưng lần này, đối thủ là Đại Hán Phỉ Tiềm…

Thôi, không phải là Phỉ Tiềm đích thân mà là thuộc hạ của Phỉ Tiềm.

Nhưng dù chỉ là thuộc hạ của Phỉ Tiềm, cũng đã rất khó đối phó.

Danh tiếng của Trương Liêu, Tằng Đại Hộ cũng có nghe qua, và chiến công của Trương Liêu cũng khiến ông lo lắng. Nhưng lo thì lo, việc cần làm vẫn phải làm.

Những năm qua, những kẻ giả tạo, lũ chuột bọ ở Lũng Hữu này, có ít đâu? Ai có thể đảm bảo rằng, Phỉ Tiềm hay thuộc hạ của Phỉ Tiềm không phải là một lũ chuột bọ mới đến, chỉ là chúng giả bộ ban đầu, rồi sau đó lại bộc lộ bộ mặt tham lam?

Giống như Triệu Huyện lệnh ở Lâm Kính.

Ít nhất thì Triệu Huyện lệnh cũng còn giữ được chút nguyên tắc, không giống một số kẻ khác, chẳng có nguyên tắc gì.

“Ngày mai…” Tằng Đại Hộ nhìn về phía màn đêm, thấp giọng ra lệnh: “Ngày mai hãy dẫn bọn chúng vào đường chết! Nếu đã muốn chết… thì đừng trách chúng ta…”

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Mã Nguyệt Hầu Niên

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.