Người ban ơn thường dành nhiều tình cảm Tương Giao cho người được giúp hơn là chiều ngược lại: và thực tế này là một chủ đề thảo luận và nghiên cứu, bởi nó đi ngược lại dự đoán hợp lý thông thường.
Lời lý giải vừa ý hầu hết mọi người là: một bên là con nợ, còn bên kia là chủ nợ: và do đó, như trong trường hợp một vụ nợ nần thực tế, con nợ muốn chủ nợ ra khỏi đời mình, còn chủ nợ thì lo lắng giữ gìn cho con nợ, cũng như vậy, người ban ơn muốn người mình đã giúp tiếp tục tồn tại, dưới ý niệm sẽ được trả lại ơn huệ qua bổn phận của họ, trong khi người thụ hưởng thì không đặc biệt lo lắng về việc hoàn trả.
Tôi ngờ rằng Epicharmus[1] có lẽ sẽ nói họ đi đến giải pháp này từ góc nhìn của bản thân họ; song đó chắc chắn giống bản chất con người, nhìn chung con người bình thường có trí nhớ giới hạn về những điều như vậy, và họ muốn nhận về lợi ích nhiều hơn là cho đi.
Nhưng nguyên nhân thật sự dường như dựa trên bản chất tự nhiên, và tình huống ấy không tương tự như hoàn cảnh chủ nợ; bởi chủ nợ không có tình cảm với con nợ, mà chỉ có mong muốn con nợ an toàn để trả nợ: trong khi đó, trên thực tế, những người đã làm điều tốt đẹp cảm nhận thấy tình bạn và tình yêu thương dành cho những người được thụ hưởng, ngay cả khi người nhận từ nay về sau không hề, hoặc không thể có khả năng ở vào một vị trí để có thể báo đáp lại ân nhân của mình.
[1168a] Tình huống này cũng xảy ra với các nghệ nhân; tôi muốn nói rằng tình yêu mỗi người dành cho tác phẩm của mình luôn lớn hơn tình cảm tác phẩm có thể dành lại cho tác giả, nếu chúng có thể sống dậy. Dường như trường hợp đặc biệt là các nhà thơ: bởi họ nuôi dưỡng tình yêu lớn lao dành cho thơ ca của mình, họ yêu chúng như yêu chính con mình. Tôi thiên về so sánh loại tình cảm như vậy với trường hợp của những người giúp đỡ người khác: bởi hướng đến điều tốt chính là việc làm của họ, vậy nên họ yêu nó hơn là nó yêu lại họ.
Lý giải điều đó như sau, sự tồn tại là một thứ đáng yêu và đáng chọn; giờ đây chúng ta tồn tại thông qua hành động, việc làm, bằng việc sống và hành động; anh tồn tại qua việc tạo ra công việc, hay có thể nói, tồn tại qua hành động làm việc: vậy nên anh yêu việc làm của mình, bởi anh yêu sự tồn tại. Và điều đó là tự nhiên, bởi hành động phô bày ra thực tế những gì trước kia chỉ là tiềm tàng.
Ngoài ra, người ban ơn còn ý thức được về sự cao quý trong hành động của mình, vậy nên anh ta cũng có niềm vui với người đã mang đến sự cao quý ấy; nhưng với người thừa hưởng thì không có gì cao quý ở đối phương cả, chỉ chút ích lợi, vừa kém vui vừa khó trở thành đối tượng của Tương Giao. Ngoài ra, niềm vui xuất phát từ hành động trong thực tại, từ trông đợi vào tương lai, và từ hồi ức trong quá khứ: nhưng niềm vui cao nhất và đối tượng đặc biệt của sự yêu mến là thứ xuất hiện trong công việc thực tế. Giờ đây, việc làm của người ban ơn vẫn còn đó (bởi sự cao quý luôn là thứ vững bền), nhưng lợi ích của người thừa hưởng thì nhanh chóng qua đi.
Ngoài ra, có thứ niềm vui xuất phát từ việc hồi tưởng lại những hành động cao quý, nhưng trong việc hồi tưởng lại những lợi ích mình được nhận thì chẳng hề vui vẻ, hoặc ít vui hơn rất nhiều (Cũng như vậy, sự tương phản này cũng đúng với những mong đợi về lợi ích).
Thêm nữa, nuôi dưỡng cảm xúc Tương Giao giống như đang tác động lên người khác; còn trở thành đối tượng của cảm xúc đó thì như là đang chịu tác động.
Vậy nên, nuôi dưỡng tình cảm Tương Giao và mọi thứ cảm xúc liên quan đến Tương Giao là điều xuất hiện ở người có vị thế cao hơn, xét trong trường hợp của sự ban ơn.
Một điều nữa: tất cả mọi người đều coi trọng nhất những gì đã khiến họ nhọc công lao động cho ra sản phẩm; chẳng hạn, những người tự lực kiếm ra đồng tiền thì quý đồng tiền đó hơn những người được thừa hưởng lại: mà nhận được giúp đỡ từ lòng tốt của người khác, dường như không hề tốn công sức gì, trong khi để giúp đỡ thì lại vất vả. Và đó là lý do tại sao những bà mẹ lại yêu con cái mình hơn hết; bởi phần việc sinh đẻ ra chúng quá đỗi nặng nhọc, và họ biết một cách chắc chắn hơn rằng chúng là của họ. Cảm giác này dường như cũng thuộc về những người mở lòng giúp đỡ.
❀ ❀ ❀
[1] Epicharmus (sinh khoảng năm 550 TCN - mất khoảng năm 460 TCN) là triết gia, kịch gia Hy Lạp cổ đại. Ông được biết đến như kịch gia hài kịch đầu tiên.