Bây giờ chúng ta phải xem xét liệu những người Thiếu Tự Chủ có hành động khi biết rằng điều gì là đúng hay sai không; tiếp theo, nếu họ biết, thì họ biết ở nghĩa nào; và tiếp theo chúng ta phải giả thiết cái gì là nội hàm của người Thiếu Tự Chủ và của người Tự Chủ; ý tôi là liệu có phải tất cả các hình thái của vui thú và khổ đau, hay chỉ một số dạng nhất định mà thôi; và khi xét tới Tự Chủ và Kiên Cường, chúng là những trạng thái khác biệt hay cùng là một. Và theo cách tương tự, chúng ta phải xét đến tất cả các câu hỏi có liên quan đến các vấn đề hiện tại.
Nhưng điểm khởi đầu thực sự của cuộc truy vấn này là, liệu có thể phân biệt được Tự Chủ và Thiếu Tự Chủ chỉ qua nội hàm của chúng, hoặc qua các tương quan lần lượt với nội hàm của chúng hay không. Tôi muốn nói rằng, liệu một người trở nên Thiếu Tự Chủ là do bản thân việc mang trạng thái này, hay là do cách thức anh ta mang những trạng thái ấy, hay cả hai; tiếp theo, liệu sự phân loại Tự Chủ và Thiếu Tự Chủ có áp dụng với tất cả mọi nội hàm hay không: bởi vì một người được gán cho cái mác Thiếu Tự Chủ mà không có bổ sung cụ thể nào luôn bị giới hạn về nội hàm nào đó, tương tự một người đã mất hết Tự Chủ: anh ta cũng không bị gọi như vậy chỉ vì tương quan của anh ta với nội hàm này một cách đơn thuần (vì lúc đó nhân cách của anh ta sẽ giống hệt với dạng ta vừa nói đến, mất hết Tự Chủ), mà bởi vì tương quan của anh ta đối với nội hàm này là thế nọ và thế kia. Bởi vì người mất hết Tự Chủ được dẫn dắt bằng những lựa chọn đạo đức có suy tính cẩn thận, cho rằng con đường của anh ta là theo đuổi sự vui thú ngay khi nó xuất hiện; trong khi người Thiếu Tự Chủ không nghĩ rằng anh ta nên truy cầu sự vui thú, mà vẫn cứ truy cầu.
Bây giờ, xét đến quan điểm cho rằng một người mất Tự Chủ hành động trái với Quan Điểm Đúng chứ không trái với Tri Kiến, điều đó cũng không ảnh hưởng gì đến vấn đề chúng ta đang tranh luận, bởi vì một số người khi có Quan Điểm, họ không có xu hướng nghi ngờ gì về bản thân mình mà luôn cho rằng tự họ có Tri Kiến chính xác; nếu như vậy thì có lẽ rằng những người có Quan Điểm thường có khả năng cao hơn so với những người có Tri Kiến trong việc hành động trái ngược với hiểu biết của họ, bởi vì họ chỉ có một niềm tin vừa phải đối với nó; chúng ta trả lời rằng Tri Kiến trong trường hợp này không khác biệt so với Quan Điểm, bởi vì một số người tin vào Quan Điểm của họ không kém phần vững chắc so với những người khác tin vào Tri Kiến tuyệt đối của họ: Heraclitus là một trường hợp điển hình.
Thay vào đó, một mô tả về nó có thể như sau: khái niệm biết có hai nghĩa; cả người không sử dụng Tri Kiến của mình và người có sử dụng đều được cho là người biết: sẽ có một sự khác biệt giữa một người hành động sai trái, mặc dù sở hữu Tri Kiến nhưng lại không áp dụng chúng khi hành động, và một người vừa có Tri Kiến và thực sự áp dụng nó; trường hợp sau quả thật kỳ lạ, nhưng việc chỉ sở hữu, mà không thực hành, lại không có vẻ gì bất thường.
[1147a] Một lần nữa, vì có hai dạng mệnh đề[1] ảnh hưởng đến hành động, phổ quát[2] và cụ thể[3], không có lý do gì mà một người không thể hành động chống lại Tri Kiến của mình, dù có cả hai mệnh đề trong tâm trí của anh ta, nhưng sử dụng cái phổ quát mà không sử dụng cái cụ thể, vì cái cụ thể là các đối tượng của hành động đạo đức.
Có một sự khác biệt trong các mệnh đề phổ quát; một mệnh đề phổ quát có thể liên quan một phần đến bản thân con người và một phần đến vấn đề được đề cập; lấy ví dụ sau đây: “thực phẩm khô là tốt cho mọi người”, điều này có thể có hai tiền đề nhỏ, “đây là một người” và “loại thực phẩm này khô”, nhưng cho dù một vật gì đó là như vậy đi chăng nữa thì một người vẫn không có Tri Kiến hoặc không thực hành nó. Theo những ý nghĩa khác nhau này, sẽ có một sự khác biệt to lớn, sao cho việc một người biết theo một nghĩa nhưng lại hành động sai lầm sẽ không có gì lạ, nhưng trong bất kỳ ý nghĩa nào khác, đó sẽ là một vấn đề đáng ngạc nhiên.
Một lần nữa, con người có thể có Tri Kiến theo cách khác với bất kỳ cách nào đã được mô tả: vì chúng ta liên tục thấy trạng thái của một người rất khác nhau khi có và không sử dụng Tri Kiến, rằng anh ta có thể vừa sở hữu vừa không sở hữu nó theo một ý nghĩa nào đó; khi anh ta đang ngủ, hoặc điên, hoặc say rượu chẳng hạn; vậy, những người chịu sự điều khiển của cảm xúc nằm trong những điều kiện hoàn toàn tương tự; vì sự tức giận, ham muốn và một số thứ tương tự khác, rõ ràng tạo ra những thay đổi cả ở trong cơ thể, và ở một số người, chúng thậm chí khiến họ phát điên; hiển nhiên là, chúng ta phải nói rằng những người Thiếu Tự Chủ đang ở trong một trạng thái tương tự như vậy.
Và việc họ nói những điều tượng trưng cho Tri Kiến không phải là minh chứng cho việc họ áp dụng nó, bởi vì những ai chịu sự điều khiển của cảm xúc đều có thể lặp lại những luận chứng[4] hoặc câu thơ của Empedocles[5], giống như những đứa trẻ, khi mới học, xâu chuỗi các từ lại với nhau, nhưng chưa biết nghĩa của chúng, vì chúng cần phải ngấm dần những lớp nghĩa đó, và quá trình này đòi hỏi nhiều thời gian: vì vậy chúng ta cần phải cho rằng những người không có Tự Chủ nói ra những câu châm ngôn luân lý này như thể những diễn viên vậy.
Hơn nữa, người ta có thể xem xét giải thích của hiện tượng này theo cách như sau, từ một cuộc kiểm tra hoạt động thực tế của tâm trí: Tất cả hành động có thể được phân tích thành một tam đoạn luận, trong đó một tiền đề là một câu châm ngôn phổ quát và tiền đề còn lại chú trọng vào các chi tiết mà Cảm Quan (đạo đức hoặc thân thể, tùy trường hợp) nhận thức được. Bây giờ, khi một một hành động là kết quả của hai tiền đề này, cần phải suy ra rằng, khi vẫn dừng lại ở dạng lý thuyết, tâm trí phải khẳng định kết luận đó, và đối với một số mệnh đề thực tiễn, người ta phải hành động dựa theo chúng. Ví dụ, mệnh đề phổ quát là “Tất cả những gì ngọt ngào nên được nếm thử”, mệnh đề cụ thể là, “Cái này ngọt ngào”. Có thể suy ra rằng nếu một người có thể và không chịu bất cứ một cản trở nào, anh ta không những nên rút ra, mà còn nên áp dụng kết luận: “Cái này nên được nếm thử.” Khi đó, trong tâm trí có một mệnh đề phổ quát cấm việc nếm thử, và một mệnh đề khác: “Tất cả những gì ngọt ngào đều dễ chịu” với mệnh đề nhỏ “Cái này ngọt ngào” (và đây là mệnh đề thực sự hoạt động), và chẳng may ham muốn tồn tại trong một người, mệnh đề phổ quát khuyên anh ta nên tránh nhưng ham muốn lại mách bảo anh ta nếm thử; vì nó có khả năng kích thích nhiều bộ phận trên cơ thể con người: và kết quả là, anh ta đã mất đi Tự Chủ, [1147b] theo một nghĩa nào đó dưới ảnh hưởng của Lý Trí và Quan Điểm không trái với Lý Trí về bản chất, chúng chỉ tình cờ trái ngược nhau; bởi vì ham muốn là cái trái với Lý Trí Đúng, chứ không phải Quan Điểm; và vì lý do này, những kẻ Thú Tính không được đặt vào nhóm Thiếu Tự Chủ, bởi vì họ không có khả năng tư duy về những mệnh đề phổ quát mà chỉ có thể tiếp nhận và giữ lại những ấn tượng cụ thể.
Xét đến cách thức sự vô minh bị loại bỏ và người Thiếu Tự Chủ phục hồi Tri Kiến của mình, câu chuyện cũng giống như đối với một anh chàng say rượu hoặc đang ngủ, và dù bị ảnh hưởng bởi cách nào thì cũng không khác nhau, người mà chúng ta nên trao đổi đó là các nhà sinh lý học. Nhưng trong khi tiền đề nhỏ của mọi tam đoạn luận thực tiễn là một ý kiến về vấn đề nhận thức được bằng Cảm Quan và quyết định các hành động; người chịu ảnh hưởng của cảm xúc không có điều này, hoặc anh ta nói trong khi không biết gì, như một người khi say rượu vẫn có thể lặp lại những câu thơ của Empedocles; và bởi vì thành tố nhỏ[6] không phải là phổ quát, cũng không được cho là có năng lực tạo ra Tri Kiến theo cách tương tự như thành tố phổ quát[7]; và do đó, kết quả mà Socrates đang tìm kiếm xuất hiện, nghĩa là, giao tình không diễn ra trong sự hiện diện của cái được gọi là Tri Kiến một cách riêng biệt và đúng đắn, và Tri Kiến cũng không phải thứ bị kéo theo bởi giao tình, mà trong sự hiện diện của Tri Kiến được truyền đạt bởi Cảm Quan.
Tóm lại, hãy chấp nhận mô tả này cho câu hỏi liên quan đến sự thất bại trong Tự Chủ, cho dù Tự Chủ có đi kèm với Tri Kiến hay không; và, nếu có Tri Kiến, thì loại Tri Kiến nào có thể khiến người ta thất bại như vậy.
❀ ❀ ❀
[1] Proposition: đây là một khái niệm trong logic học của Aristotle. Mệnh đề thường là một câu và nó chỉ có thể đúng hoặc sai. Lấy lại ví dụ ở Tr. 195, d. 5 thì câu “Mọi người đều chết” là một mệnh đề đúng.
[2] Ví dụ: “Mọi người đều chết” là một mệnh đề phổ quát vì chủ thể (mọi người) ở đây là phổ quát.
[3] Ví dụ: “Câu Socrates là người” là một mệnh đề cụ thể vì chủ thể (Socrates) là một đối tượng cụ thể.
[4] Demonstration: một khái niệm trong logic học của Aristotle. Luận chứng là một dạng tam đoạn luận dùng riêng để tạo ra tri kiến khoa học.
[5] Empedocles (494 - 434 TCN ) là một triết gia tiền Socrates của Hy Lạp và là công dân của Akragas, Sicily. Triết lý nổi tiếng nhất của Empedocles là quan niệm vũ trụ khởi nguồn từ 4 yếu tố cổ điển.
[6] Minor term: khái niệm trong tam đoạn luận. Lấy lại ví dụ Tr. 195, d. 5 thì Socrates là thành tốt nhỏ.
[7] Universal term: khái niệm trong tam đoạn luận. Lấy lại ví dụ Tr. 195, d. 5, Người chính là thành tố phổ quát (hay trung gian).