Khu phố Nassau, đoạn kéo dài đến trung tâm giao dịch sầm uất của giới môi giới và đầu cơ chứng khoán New York, từ lâu đã là nơi tập trung hành nghề của nhiều luật sư. Cách đây ít năm, trong số những người hành nghề tại đây, khá nhiều người biết đến Adam Covert, một người đàn ông trung niên có gia cảnh khá khiêm tốn. Thú thật, ông ta kiếm tiền từ những thủ đoạn mánh khóe nhiều hơn là từ việc hành nghề chân chính và đáng kính của mình. Ông ta góa vợ, cao gầy, có khuôn mặt mang nét bệnh gan đặc trưng và là cha của hai đứa con; thời gian gần đây, ông ta đang tìm cách đổi đời thông qua một cuộc hôn nhân giàu sang. Nhưng chẳng hiểu vì sao việc theo đuổi tình duyên của ông ta lại chẳng mấy thuận lợi, và trừ ra có lẽ là một trường hợp ngoại lệ, triển vọng đường vợ con của vị luật sư này u ám đến tuyệt vọng.
Thuở mới vào nghề, một trong những khách hàng đầu tiên của ông Covert là một họ hàng xa tên là Marsh. Người này qua đời hơi đột ngột, để lại cậu con trai cùng cô con gái nhỏ cùng một ít tài sản dưới sự bảo trợ của Covert, chiếu theo một bản di chúc do chính tay vị luật sư soạn thảo. Vốn là kẻ chưa từng để hở sơ hở nào, lại được hậu thuẫn bởi sự rối ren tang gia trong hoàn cảnh cấp bách đòi hỏi sự can thiệp của mình, vị luật sư gian xảo đã ngụy trang mục đích dưới lớp ngôn từ pháp lý rườm rà để lồng vào di chúc những điều khoản trao cho chính ông ta quyền kiểm soát gần như tuyệt đối đối với khối tài sản cũng như đối với những đứa trẻ mà nó được để dành cho. Thậm chí, quyền kiểm soát này còn được kéo dài vượt qua cả thời điểm những đứa trẻ bước vào tuổi trưởng thành. Người con trai tên Philip, một thanh niên tính tình cương trực và nóng nảy, đã qua tuổi đó từ lâu. Esther, cô em gái, là một thiếu nữ có dung mạo bình thường và mang tâm tính sùng đạo, lúc ấy đang ở độ tuổi mười chín.
Nắm trong tay thứ quyền lực to lớn như vậy đối với các Ward của mình, Covert không ngần ngại công khai lợi dụng thế mạnh để thúc đẩy tham vọng cưới Esther làm vợ. Kể từ khi Marsh qua đời, phần tài sản ông để lại vốn là bất động sản và được định sẵn sẽ chia đều cho hai anh em đã tăng giá trị lên rất nhiều; và phần của Esther, đối với một kẻ ở hoàn cảnh như Covert, là một món hời vô cùng đáng để dòm ngó. Trong suốt thời gian ấy, dẫu thực tế đang sở hữu một nguồn thu nhập đáng kể, hai anh em trẻ mồ côi thường xuyên phải chịu cảnh túng thiếu, thậm chí không có nổi một khoản tiền nhỏ nhất — và vì tương lai của Philip, Esther đã nhiều lần phải xoay sở đủ mọi cách: từ tiệm cầm đồ, bán đi những món đồ xa xỉ nho nhỏ của bản thân, cho đến những việc tương tự để chu cấp tiền bạc cho anh.
Dù đã nhiều lần thể hiện rõ ràng thái độ ghê tởm trước mặt người giám hộ, Esther vẫn phải tiếp tục chịu đựng sự quấy rầy của hắn, cho đến một ngày hắn tiến xa hơn và ép uổng cô dữ dội hơn thường lệ. Thừa hưởng một phần tính khí cương cường của người anh trai, cô đã đưa ra lời từ chối thẳng thừng và dứt khoát nhất. Với một phẩm giá cao quý, cô vạch trần bản chất đê hèn trong hành vi của hắn, đồng thời cấm hắn không bao giờ được nhắc đến chuyện hôn nhân với cô thêm một lần nào nữa. Hắn ta đáp lại bằng sự cay đắng, khoe khoang về việc đang nắm thóp cả cô lẫn Philip, đồng thời thề độc rằng nếu cô không chịu làm vợ hắn, cả hai chị em từ nay sẽ trắng tay. Vì quá tức giận mà mất đi sự điềm tĩnh vốn có, hắn thậm chí còn thốt ra những lời lăng mạ mà không một người phụ nữ nào đáng mặt con người phải nhận, rồi hậm hực bỏ đi khi thấy thuận tiện. Ngày hôm đó, Philip đã trở lại New York sau vài tuần vắng nhà để lo công việc cho một hãng buôn mà cậu mới gia nhập.
Vào buổi chiều muộn hôm ấy, ông Covert đang ngồi trong văn phòng ở phố Nassau, cặm cụi làm việc thì tiếng gõ cửa báo hiệu có khách, và ngay sau đó, cậu thanh niên nhà Marsh bước vào phòng. Khuôn mặt cậu ta mang một vẻ tái nhợt kỳ lạ khiến Covert chẳng mấy dễ chịu, thế nên ông ta liền gọi nhân viên từ căn phòng bên cạnh ra và giao cho anh ta làm việc gì đó tại chiếc bàn gần đấy.
"Tôi muốn gặp riêng ông, thưa ông Covert, nếu tiện," người mới đến cất lời.
"Chúng ta hoàn toàn có thể nói chuyện ngay tại đây," vị luật sư đáp; "hơn nữa, tôi chẳng biết mình có chút thì gian rảnh rỗi nào để mà nói chuyện không, vì lúc này tôi đang bận tối tăm mặt mũi với công việc."
"Nhưng tôi buộc phải nói chuyện với ông," Philip kiên quyết đáp lời, "ít ra tôi phải nói một điều, đó là, thưa ông Covert, ông đích thực là một tên để tiện!"
"Hỗn xược!" vị luật sư quát lên, đứng phắt dậy sau chiếc bàn làm việc và chỉ tay ra cửa. "Cậu có thấy cái đó không hả? Đúng một phút nữa mà cậu vẫn còn đứng ở bên này, đừng trách nếu chân cậu phải bước xuống chiếu nghỉ bằng một cách nhanh hơn thế. Cút đi, đồ hỗn xược!"
Lời đe dọa ấy càng thêm phần cay nghiệt đối với Philip, bởi cậu vốn là người có lòng tự trọng cao. Cậu giận đến mức mặt tái mét đi vì sự xúc động đang bị nén chặt.
"Tôi sẽ gặp lại ông sớm thôi," cậu nói bằng một giọng trầm nhưng rõ ràng, đôi môi run rẩy khi thốt lên từng chữ, rồi quay lưng bước khỏi văn phòng.
Những diễn biến trong phần còn lại của ngày hè dễ chịu ấy hầu như chẳng để lại mấy ấn tượng trong tâm trí chàng thanh niên. Cậu cứ lang thang không mục đích và chẳng biết đi về đâu. Dọc theo phố South và khu Whitehall, cậu ngẩn ngơ ngắm nhìn chuyển động của những con tàu, cảnh người ta bốc dỡ hàng hóa lên xuống, và lắng nghe tiếng lôi kéo nhịp nhàng đầy hào hứng của các thủy thủ cùng phu khuân vác. Ở một số người, sự kích động tột độ thường tạo ra một hiệu ứng kỳ lạ là dung hòa hai năng lực hoàn toàn mâu thuẫn với nhau — một thứ sự dửng dưng lạnh lùng và một độ nhạy bén sắc sảo đối với mọi thứ đang diễn ra xung quanh cùng một lúc. Tâm trạng của Philip lúc ấy chính là như thế; cậu để ý đến từng khác biệt nhỏ trong trang phục của một nhóm lao động bến tàu — tự hỏi liệu họ có kiếm đủ tiền lương để trang trải cuộc sống thoải mái cho bản thân và gia đình hay không — rồi đoán xem họ đã có gia đình chưa thông qua vẻ bề ngoài. Cứ thế, ngày tàn dần trong những suy nghĩ vẩn vơ nhỏ nhặt ấy. Và trong suốt khoảng thời gian đó, nỗi khao khát lớn nhất ngự trị trong tâm trí Philip chính là mong muốn được gặp lại tên luật sư Covert. Còn với mục đích gì thì chính cậu cũng chẳng thể rạch ròi.
Cuối cùng thì màn đêm cũng buông xuống. Mặc dù vậy, chàng thanh niên vẫn không chịu quay gót trở về nhà. Cậu cảm thấy bình tĩnh hơn đôi chút, bèn bước vào một quán ăn, gọi chút đồ qua loa cho bữa tối, nhưng khi thức ăn được dọn lên, cậu chỉ nếm thử một chút rồi lại thảng thốt bước ra ngoài. Trong lòng cậu vẫn âm ỉ một cảm giác cồn cào tựa như cơn khát, và khi đi ngang qua một khách sạn, cậu chợt nghĩ rằng một ly rượu nhỏ có lẽ là thứ tuyệt vời lúc này. Cậu uống, và rồi từng giờ trôi qua lúc nào không hay; cậu không chỉ uống một ly, mà là ba bốn ly, và đối với một người có lối sống điều độ như cậu, đó quả là những ly rượu nặng.
Hôm ấy là một ngày và đêm oi bức, và khi Philip bước ra khỏi quán rượu để hòa mình vào đường phố lúc đêm đã về khuya, cậu nhận ra một cơn giông bão vừa mới kéo đến. Dù vậy, cậu vẫn kiên quyết bước tiếp, dẫu cho mỗi bước chân đi qua lại càng thêm phần lồng lộn gió sương.
Cơn mưa giờ đây chút xuống xối xả như thác lũ; các cửa hàng đều đã đóng cửa; đèn đường chỉ còn lác đác vài ngọn được thắp sáng; và chẳng có gì ngoài những tia chớp lóe lên liên hồi để chỉ đường cho cậu. Khi đi được khoảng nửa chiều dài phố Chatham — con đường nằm đúng hướng cậu phải về, sức mạnh cuồng nộ bất chợt của cơn bão đã buộc cậu phải rẽ vào một góc khuất để tránh mưa, nơi là lối vào sâu thẳm của một tiệm cầm đồ do người Do Thái làm chủ. Cậu vừa kịp nép người vào thật sát trong góc thì ánh chớp bất ngờ lóe lên, soi rõ cho cậu thấy góc bên kia của hốc tường cũng đang có người trú ẩn.
"Cơn mưa lớn thật đấy," vị khách cùng cảnh ngộ cất tiếng, người vừa trông thấy Philip cùng lúc ấy.
Giọng nói ấy vang lên bên tai chàng thanh niên như một âm thanh đánh thức cậu trở lại với sự tỉnh táo. Đó chính là giọng nói của Adam Covert. Cậu đưa ra một câu trả lời bâng quơ rồi đứng chờ tia chớp tiếp theo để nhìn cho rõ mặt kẻ lạ mặt. Ánh chớp lại lóe lên, và cậu nhận ra người đồng hành ấy đích thực là người giám hộ của mình.
Philip Marsh đã uống rất say — (xin hãy dung thứ cho cậu hết mức có thể, hỡi những nhà đạo đức học nghiêm khắc). Trợt dồn dập trong tâm trí cậu, dẫu có muốn xua đuổi thế nào đi chăng nữa cũng không sao gạt đi được, là ký ức về tất cả những lời lăng mạ mà em gái cậu từng kể, cùng những lời lẽ cay độc mà Covert đã trút lên đầu cô; cậu lại ngẫm nghĩ về những tổn thương mà cả Esther lẫn bản thân cậu từng gánh chịu, và vẫn có nguy cơ tiếp tục phải gánh chịu dưới bàn tay của kẻ bạo tàn và đồi bại ấy; nghĩ về việc nhân cách hắn mới đê tiện, ích kỷ và vô đạo đức làm sao — những lợi thế đồi bại và tàn nhẫn cỡ nào mà hắn từng chớp lấy từ biết bao con người khốn khổ sa chân vào tròng quyền lực của hắn, và biết bao lầm than đau khổ mà hắn từng gây ra, hay thậm chí có thể tiếp tục gây ra trong những năm tháng tương lai. Chính sự hỗn loạn của đất trời, tiếng sấm gầm giận dữ, những giọt mưa quất roi đầy căm hận và thứ ánh sáng chói lọi hung túng của luồng điện tự nhiên như đang hoan hỉ trong sự tàn bạo của cơn bão quanh cậu, đã nhen nhóm lên một thứ cuồng nộ đồng điệu kỳ lạ trong tâm trí chàng thanh niên. Bản thân bầu trời (trí tưởng tượng của cậu lúc này đã hoàn toàn hỗn loạn) dường như đang dọn sẵn một bối cảnh và thời điểm thích hợp cho một hành động trừng phạt, mà trong cơn say tình cảm đầy lệch lạc của cậu, nó mang một nửa dáng dấp của công lý thần linh. Cậu đã quên mất lời giải thích rành rành rằng sự bận rộn công việc của Covert chắc chắn đã giữ hắn lại muộn hơn thường lệ; trái lại, cậu mường tượng ra một ý đồ thần bí nào đó đằng sau việc định đoạt rằng hắn phải có mặt ở đó, và rằng hai người bọn họ phải gặp nhau vào cái giờ khắc trái khoáy này. Cả cuồng phong cảm xúc ấy ập đến với Philip với tốc độ đáng sợ trong khoảnh khắc kinh hoàng đó. Cậu bước đến bên cạnh người giám hộ của mình.
"Ái chà!" cậu cất lời, "chúng ta lại gặp nhau sớm thế sao, thưa ông Covert? Hỡi kẻ phản bội người cha quá cố của ta — tên cướp đoạt tài sản của những đứa con ông ấy! Ta sợ phải suy nghĩ về những gì ta đang nghĩ lúc này lắm đấy!"
Sự trơ trẽn bản năng của vị luật sư vẫn không hề lung lay.
"Trừ phi cậu muốn dành cả đêm trong đồn cảnh sát, hỡi chàng trai trẻ," hắn nói sau một khoảng lặng ngắn, "còn không thì đi đi. Cha cậu ngày trước vốn là một kẻ yếu đuối, tôi còn nhớ rõ; còn về phần đứa con trai của ông ta, chính cái tâm địa độc ác của hắn mới là kẻ thù tệ hại nhất của hắn. Tôi chưa từng làm điều gì sai trái với bất kỳ ai trong hai người — tôi có thể nói điều đó, và xin thề danh dự!"
"Đồ lợt lạt trơ trẽn!" Philip quát lên, đôi mắt lóe lên những tia lửa giận trong bóng đêm.
Covert chẳng đáp lại gì ngoài một tiếng cười lạnh lùng, đầy khinh miệt, thứ đã đẩy chàng thanh niên đang bị kích động chìm sâu vào cơn thịnh nộ nhân đôi. Cậu lao bổ vào vị luật sư và túm chặt lấy cổ áo hắn.
"Nhận lấy đi vậy!" cậu gầm lên khàn đặc, bởi cổ họng cậu đang bị bóp nghẹt bởi cơn thịnh nộ quỷ quái đang chiếm hữu lấy bản thân trong giờ phút đen tối ấy. "Mày không xứng đáng được sống!"
Cậu quật ngã người giám hộ xuống đất và ngã đè lên hắn với sức nặng nghiền nát, bóp nghẹt tiếng thét mà nạn nhân tội nghiệp vừa hé miệng định buông ra. Rồi, kèm theo những lời nguyền rủa gớm ghiếc, cậu siết chặt một nút thắt quanh chiếc cổ đang ngáp ngáp của hắn, rút một con dao bấm trong túi ra và chạm vào nút lò xo — lưỡi dao dài và sắc nhọn, như thể quá nóng lòng cho công việc đẫm máu của mình, liền phập mở ra.
Giữa lúc cơn bão tạm lắng dịu, chút sức lực cuối cùng của người đàn ông đang quằn quại dưới đất bật thốt thành một tiếng kêu cứu ngắn ngủi và đầy đau đớn. Cùng khoảnh khắc ấy, cánh tay của kẻ sát nhân đâm thẳng lưỡi dao — một, hai, ba nhát — ngập sâu vào lồng ngực kẻ thù! Chưa đầy một phút trôi qua kể từ nụ cười khiêu khích chết người ấy — nhưng hành động đã rồi, và ý nghĩ bản năng đầu tiên xuất hiện trong đầu kẻ có tội chính là nỗi sợ hãi và ý định tẩu thoát.
Trong khoảng lặng siêu thực theo sau đó, đôi mắt Philip đảo một vòng thật dài và dò xét khắp mọi hướng, phía trên và xung quanh cậu. Phía trên! Ôi Chúa tể của con mắt thấu suốt vạn vật! Kìa, hình bóng nào đang đứng ở nơi đó?
"Dừng lại! Nhân danh Chúa Giê-hô-va, hãy dừng lại!" một giọng nói lanh lảnh nhưng trong trẻo và du dương vang lên.
Cứ như thể có một linh hồn tội trạng nào đó vừa hạ phàm để làm chứng cho hành động đẫm máu vừa rồi. Nhô hẳn người ra khỏi khung cửa sổ đang mở, xuất hiện một bóng hình khoác áo choàng trắng, với khuôn mặt mang vẻ đẹp trẻ trung kỳ diệu. Những tia chớp lóe sáng dài và rực rỡ tạo cho Philip cơ hội nhìn rõ mồn một chẳng khác nào giữa ban ngày khi mặt trời đang chiếu rọi. Một bàn tay của hình bóng ấy giơ lên cao với vẻ can ngăn, và đôi mắt đen to tròn, sáng rực nhìn đắm đuối xuống khung cảnh bên dưới với biểu cảm kinh hoàng cùng nỗi đau đớn co rút. Những nét mặt tựa thiên thần ấy, cùng hoàn cảnh kỳ lạ của thời điểm đó, đã lấp đầy trái tim Philip bằng sự kinh hãi.
"Ồ, nếu vẫn chưa quá muộn," chàng trai trẻ lại cất lời, "hãy tha cho ông ta. Theo tiếng nói của Chúa, ta truyền lệnh cho ngươi: 'Ngươi không được giết người!'"
Những lời ấy vang lên như một hồi chuông tử thi bên tai Philip — kẻ đang bị sự kinh hoàng và nỗi cắn rứt tội lỗi bủa vây. Vực mình đứng dậy khỏi cái xác lạnh ngát, cậu liếc nhìn thêm lần nữa dọc theo lối đi vốn hoàn toàn vắng vẻ và hiu quạnh; rồi băng qua phố Reade, cậu tìm đường bước đi trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh, nửa ngơ ngác theo những con đường gần nhất để trở về nhà.
Khi thi thể của vị luật sư bị sát hại được tìm thấy vào sáng hôm sau và các quan chức công lý bắt đầu tiến hành điều tra, sự nghi ngờ lập tức đổ dồn lên Philip, và cậu bị bắt giữ. Tuy nhiên, cuộc lục soát gắt gao nhất cũng chẳng thể đưa ra ánh sáng bất cứ thứ gì có thể liên quan đến chàng thanh niên, ngoại trừ chuyến ghé thăm văn phòng của Covert vào tối hôm trước cùng những lời lẽ giận dữ của cậu ở đó. Chừng đó là chưa đủ để khép lại một tội danh nặng nề như vậy lên người cậu.
Hai ngày sau đó, toàn bộ vụ việc được đưa ra trước tòa án tư pháp thông thường, nhằm quyết định xem Philip sẽ bị giam giữ vì tội ác hay được phóng thích. Lời khai của viên thư ký ông Covert là bằng chứng duy nhất. Một trong những chủ lao động của cậu, người vẫn tin tưởng vào sự vô tội của cậu và không hề rời bỏ cậu trong cơn khủng hoảng này, đã thuê cho cậu luật sư bào chữa hình sự cừ khôi nhất ở New York. Bằng chứng được tuyên bố là hoàn toàn không đủ thuyết phục, và Philip được trả tự do.
Phòng xử án đông đúc tự động dạt ra để nhường đường cho cậu bước đi; hàng trăm ánh mắt tò mò đổ dồn lên gương mặt cậu, và vô số lời chế giễu vang lên nhắm vào cậu. Nhưng giữa cả biển gương mặt người ấy, cậu chỉ nhìn thấy duy nhất một người — một khuôn mặt buồn bã, tái nhợt với đôi mắt đen, đang co ro giữa đám đông. Cậu đã từng nhìn thấy gương mặt ấy hai lần trước đó — lần đầu tiên như một bóng ma cảnh báo — lần thứ hai trong ngục tối, ngay sau khi cậu bị bắt — và giờ là lần cuối cùng. Chàng trai trẻ xa lạ ấy — hậu duệ của một giống dân bị khinh miệt — đến phòng xử án để thực hiện một nghĩa vụ bất đắc dĩ với ý định làm chứng cho những gì mình từng chứng kiến, bỗng chùng lòng khi nhìn thấy gò má không còn một giọt máu của Philip cùng tiếng nấc nghẹn ngào co giật của người em gái, nên đã thôi không đứng lên làm chứng chống lại kẻ sát nhân. Liệu chúng ta nên vỗ tay ca tụng hay lên án cậu ta? Hãy để mỗi độc giả tự trả lời câu hỏi ấy cho chính mình.
Chiều hôm ấy, Philip rời khỏi New York. Người chủ lao động tốt bụng của cậu có một trang trại nhỏ nằm cách xa vài dặm ngược dòng sông Hudson, và ông khuyên chàng thanh niên nên đến đó lánh nạn cho đến khi sự ồn ào của vụ án qua đi. Philip biết ơn chấp nhận đề nghị, chuẩn bị qua quýt dăm ba thứ, vội vã từ biệt Esther rồi đến chốn ở mới khi màn đêm vừa buông xuống.
Và thử đoán xem, đêm hôm đó Philip Marsh đã nghỉ ngơi ra sao? Nghỉ ngơi thật đấy chứ! Ồ, giá như những kẻ đang gào thét đòi gông cùm và giá treo cổ để trừng phạt tội ác được tận mắt chứng kiến cảnh tượng ấy, chắc hẳn lúc đó chúng sẽ học được một bài học! Đã bốn ngày trôi qua kể từ khi kẻ đang oằn mình trằn trọc trên chiếc giường kia được chợp mắt. Không hề có lấy dù chỉ một khoảnh khắc gián đoạn nào đến với các giác quan đã bừng tỉnh và căng như dây đàn của cậu trong suốt những ngày kinh hoàng ấy. Những giấc mơ màng đầy mộng mị xuất hiện khi cậu nghĩ đến những việc mình có thể làm để tìm lại sự bình yên đã mất. Cậu sẽ đi, đi thật xa đến những chân trời khác! Ánh mắt đờ đẫn lạnh ngùng của người đàn ông bị sát hại khi ngước lên nhìn thẳng vào mặt cậu lần cuối — tiếng thét đau đớn lanh lảnh — toàn bộ sự sống động kỳ quái của tư thế, cử động và ánh nhìn của người chết — cùng lời cảnh báo vang vọng từ trên cao — cứ bám đuổi theo cậu như những mụ phù thủy báo thù đầy cay nghiệt, và không một phút giây nào rời khỏi tâm trí cậu, dẫu ngủ hay thức, trong suốt đêm dài mệt mỏi ấy. Bất cứ thứ gì, bất cứ nơi đâu, miễn là thoát khỏi sự đồng hành gớm ghiếc ấy! Cậu sẽ đi sâu vào nội địa — thuê người ta làm những công việc nặng nhọc tại một trang trại nào đó — làm việc không ngừng nghỉ suốt những ngày hè rộng dài, và qua đó ép thể xác phải ban ơn cho các giác quan của mình một khoảng quên lãng, dẫu chỉ là đôi chút ngắt quãng thỉnh thoảng. Cậu sẽ chạy trốn, trốn mãi, trốn mãi, cho đến khi giữa những khung cảnh khác biệt và một cuộc đời mới, những ký ức xưa cũ bị bào mòn đến tận gốc rễ. Cậu sẽ dũng cảm đấu tranh trong tâm hồn để giành lại sự bình yên trong tâm trí. Vì sự bình yên, cậu sẽ lao động và đấu tranh — vì sự bình yên, cậu sẽ cầu nguyện!
Cuối cùng, sau giấc ngủ chập chờn chừng ba mươi hay bốn mươi phút, chàng thanh niên bất hạnh giật mình tỉnh giấc, ngồi chồm hổm trên giường và nhìn thấy ánh sáng ban mai diễm phúc đang bắt đầu ló dạng. Cậu cảm thấy mồ hôi đang rịn ra chảy ròng ròng trên lồng ngực trần; tấm ga trải giường nơi cậu nằm đã ướt đẫm mồ hôi. Lê lết cơ thể mệt mỏi, cậu mở tung cửa sổ. A! Luồng không khí buổi sáng lành lạnh ấy — nó làm dịu mát cậu làm sao — cách cậu nhoài người ra ngoài, hít hà hương thơm ngào ngạt của những đóa hoa phía dưới, và hầu như lần đầu tiên trong đời, cậu cảm thấy Thượng đế đã tạo ra trái đất tươi đẹp nhường nào, và việc được tồn tại thôi cũng đã ẩn chứa một sự ngọt ngào kỳ diệu biết bao. Và giữa vô vàn cái miệng câm lặng cùng những đôi mắt biết nói dường như đang ngước lên và cất tiếng ở mọi hướng, cậu tưởng chừng như nhận được vô vàn lời mời gọi hãy đến hòa mình vào cùng chúng.
Dù phải rất cố gắng bởi cơ thể đang vô cùng suy nhược, cậu vẫn tự mặc quần áo rồi bước ra ngoài khoảng không gian rộng mở.
Những đám mây màu vàng nhạt và đỏ thẫm trong suốt giăng đầy bầu trời phía đông, nhưng mặt trời — nguồn sáng làm rực rỡ chúng trong vinh quang ấy — vẫn chưa nhô lên khỏi đường chân trời. Đó là một thời điểm và không gian mang vẻ đẹp hiếm hoi, tựa chốn vườn địa đàng! Philip dừng chân trên đỉnh một sườn dốc thoai thoải và đưa mắt nhìn quanh. Cách đó vài dặm, cậu có thể thoáng thấy ánh lấp lánh của dòng sông Hudson và phía trên nó là mỏm của những vách đá gập ghềnh trải dài dọc theo bờ tây sông. Gần hơn là những cánh đồng đang canh tác. Cỏ ba lá mọc xanh mướt tốt tươi, những bông lúa non oằn mình trong làn gió sớm, và bầu không khí ngập tràn thứ hương thơm say đắm lòng người. Ngay bên cạnh cậu là khu vườn rộng rãi được chăm sóc cẩn thận của chủ nhà, nơi có rất nhiều loài hoa xinh xắn, những thảm cỏ xanh mướt và một lối đi rộng lớn ngợp bóng những tán cây cao quý. Khi Philip đắm nhìn, sức mạnh xoa dịu thánh thiện của Thiên nhiên — linh hồn vô hình của biết bao vẻ đẹp và sự ngây thơ — đã tan chảy vào tâm hồn cậu. Những cảm xúc bấn loạn và cuộc giằng xé nóng giận dần lắng xuống. Cậu thậm chí còn cảm nhận được thứ gì đó tựa như sự bình yên trong tâm trí hằng ao ước — một niềm hân hoan ngay cả giữa sự hiện diện của tất cả những điều thiện lành nguyên vẹn ấy. Nơi đây đối với cậu, dẫu cho bản thân từng phạm tội lỗi, cũng vẫn dịu dàng và công bằng như đối với những kẻ trong sạch nhất. Chẳng có lấy một nụ mày cáo buộc nào hiện lên trên cánh hoa, trên những bụi cây xanh ngắt, hay trên cành lá. Chúng, có lẽ khoan dung hơn con người và chẳng hề phân biệt giữa những đứa con của bóng tối và con cái của ánh sáng — ít nhất thì chúng cũng đối xử với cậu bằng sự dịu dàng. Vậy mà cậu lại là một sinh vật bị nguyền rủa đến thế sao? Theo bản năng, cậu cúi người sát vào một nhánh hồng đỏ, nhẹ nhàng nâng chúng trong đôi bàn tay — đôi bàn tay đẫm máu tội lỗi ấy! Nhưng những bông hồng đỏ chẳng hề héo úa hay bớt đi chút hương thơm nào. Và khi chàng thanh niên cúi xuống hôn chúng, rồi thả một giọt nước mắt rơi trên những cánh hoa, cậu có cảm giác như mình vừa tìm thấy sự xót thương và cảm thông từ chính nơi Thiên đường.
Dù đi ngược lại với mọi quy tắc viết truyện, chúng tôi xin khép lại câu chuyện về những tình tiết chủ yếu có thật này (bởi chúng thực sự là thế) tại đây, không kể thêm gì nữa. Chỉ xin nói rằng tên sát nhân chẳng mấy chốc đã rời đi để đến một vùng đất hoạt động mới — rằng hắn vẫn đang sống — và rằng đây chỉ là một trong hàng ngàn vụ án chưa được hé lộ, chưa bị trừng phạt — bị bỏ lại, không phải cho các tòa án của loài người, mà cho một quyền năng và phán quyết rộng lớn hơn.