Ngày 16 tháng Tư.— Một chuyến thăm ngắn ngủi nhưng đầy thú vị đến gặp Longfellow. Tôi vốn không phải là người hay lui tới thăm nom ai, nhưng vì tác giả của "Evangeline" đã tử tế cất công đến thăm tôi ba năm trước tại Camden khi tôi còn đang ốm yếu, nên tôi cảm thấy không chỉ là niềm vui của bản thân trong dịp ấy, mà còn là một nghĩa vụ phải đáp lễ. Ông là nhân vật lỗi lạc duy nhất mà tôi ghé thăm ở Boston, và tôi sẽ không thể nào quên được gương mặt rạng rỡ, sự nồng ấm cùng cung cách lịch thiệp, đúng chuẩn mực của cái gọi là trường phái cũ nơi ông.
Và ngay tại đây, tôi cảm thấy cần phải chêm vào đôi dòng về bốn bậc vĩ nhân đã đóng dấu ấn khai sinh lên nền văn chương thi ca của thế kỷ đầu tiên trên đất Mỹ này. Trên một tạp chí gần đây, một người phê bình tôi—đáng lẽ ra họ nên hiểu biết hơn—đã nói về "thái độ khinh miệt, coi thường và không khoan dung" của tôi đối với các nhà thơ hàng đầu, rằng tôi "chế giễu" họ và rao giảng về "sự vô dụng" của họ. Nếu có ai muốn biết tôi nghĩ gì—điều mà tôi đã nghĩ và công khai từ lâu—về họ, tôi hoàn toàn sẵn lòng bày tỏ. Tôi không thể hình dung ra vận may nào tốt đẹp hơn cho các Bang này trong buổi đầu khởi thủy và khai mở thi ca so với những gì đã nhận được từ Emerson, Longfellow, Bryant và Whittier. Đối với tôi, Emerson chắc chắn đứng đầu, nhưng với những người còn lại, tôi thật khó lòng mà xếp hạng ai hơn ai. Mỗi người đều lừng lẫy, mỗi người đều trọn vẹn, mỗi người đều mang nét đặc trưng riêng. Emerson với những giai điệu ngọt ngào, thấm đượm sức sống, triết lý đầy vần điệu, và những bài thơ trong trẻo như hổ phách, như thứ mật ong từ loài ong dại mà ông yêu thích ngợi ca. Longfellow với sắc màu phong phú, những hình thức và tình tiết duyên dáng—tất cả những gì làm cho cuộc đời thêm tươi đẹp và tình yêu thêm tinh tế—ông cạnh tranh với các thi sĩ châu Âu trên chính sân nhà của họ, và ngoại trừ một trường hợp, thì tác phẩm của ông còn hay hơn và tinh tế hơn bất kỳ ai trong số họ. Bryant, người truyền nhịp đập cho những vần thơ nội tại đầu tiên của một thế giới hùng vĩ—thi sĩ của sông ngòi và rừng thẳm, luôn mang đến dư vị của không gian khoáng đạt, với hương thơm từ những cánh đồng cỏ khô, những chùm nho, những bờ cây bu-lô—luôn phảng phất niềm yêu thích những khúc ca bi ai—bắt đầu và kết thúc sự nghiệp dài lâu của mình bằng những khúc ca về cái chết, với đây đó khắp cả thảy, những bài thơ hoặc những đoạn thơ chạm đến những chân lý, lòng nhiệt huyết, những nghĩa vụ phổ quát cao cả nhất—những giá trị đạo đức khắc nghiệt và vĩnh cửu, nếu không muốn nói là dữ dội và định mệnh như bất cứ tác phẩm nào của Aeschylus. Còn với Whittier, cùng những chủ đề đặc biệt của ông—(niềm yêu thích chủ nghĩa anh hùng và chiến tranh lộ rõ, bất chấp tinh thần Quaker của ông, những vần thơ đôi khi tựa như bước chân đều đặn của những cựu binh thời Cromwell)—trong Whittier sống dậy sự nhiệt thành, nguồn năng lượng đạo đức đã khai sinh ra vùng New England—sự chính trực và lòng nhiệt thành huy hoàng của Luther, Milton, George Fox—tôi không được phép, cũng không dám nói là sự bướng bỉnh và hẹp hòi—mặc dù thế giới này hiện nay, và có lẽ mãi mãi, cần nhất chính là sự hẹp hòi và bướng bỉnh như thế.