Nguồn.—Lấy từ tác phẩm Illustrations of Northern Antiquities của Jamieson, xuất bản năm 1814, trang 397 trở đi, do ông ghi lại theo lời kể của một người thợ may thời niên thiếu của ông, khoảng năm 1770. Tôi đã Việt hóa các từ ngữ mang thổ ngữ Scotland, lược bỏ một người chăn bò và một người chăn lợn không cần thiết vốn bị chặt đầu vì chỉ đường cho Childe, đồng thời tôi gọi hang ổ của vua xứ yêu tinh là Tòa Tháp Tối dựa trên đoạn miêu tả và sự nhắc đến của Shakespeare. Tôi cũng đưa ra lý do vì sao Burd Ellen lại rơi vào tay hắn, chủ yếu nhằm mục đích giới thiệu định nghĩa về từ “widershins” (ngược chiều kim đồng hồ). “Tất cả phần còn lại đều là nguyên bản đích thực,” kể cả đoạn miêu tả có phần nhầm lẫn khi gọi người con út là Childe hay người thừa kế (so sánh với “Childe Harold” và Childe Wynd ở phần sau, số xxxiii), trừ phi đây là một tàn tích của Luật Con Út hoặc “Borough English” — phong tục cổ xưa cho phép quyền thừa kế thuộc về người con út. Tôi xin nói thêm rằng, dựa trên chi tiết nhắc đến Merlin, Jamieson đã gọi mẹ của Childe Rowland là Vương hậu Guinevere, đồng thời thêm thắt các chi tiết liên quan đến Vua Arthur và triều đình của ông. Nhưng vì chính ông cũng thừa nhận đây là những phần tự ý thêm thắt của mình vào câu chuyện của người thợ may nên tôi đã lược bỏ chúng.
Các câu chuyện tương đương.—Cuộc tìm kiếm Tòa Tháp Tối có nhiều điểm tương đồng với tích truyện Red Ettin (so sánh với nghiên cứu của Köhler về Gonzenbach, tập ii, trang 222). Công thức “người út là giỏi nhất,” trong đó người con út trong số ba anh em thành công sau khi những người khác thất bại, là một trong những mô típ quen thuộc nhất trong truyện cổ tích, từng được ông Lang nhại lại đầy thú vị trong tác phẩm Prince Prigio. Lời cấm kỵ không được ăn uống ở âm phủ vốn xuất hiện trong thần thoại về Proserpine, và cũng thường xuyên gặp trong truyện cổ tích (Child, tập i, trang 322). Thế nhưng, những câu chuyện cổ tích có nét tương đồng với truyện của chúng ta bỗng trở nên mờ nhạt trước những mối liên hệ văn học rực rỡ của nó. Gần như chắc chắn rằng Edgar, trong phân cảnh phát điên ở vở King Lear, đang ám chỉ đến câu chuyện của chúng ta khi cất lên những câu thơ:
“Childe Rowland to the Dark Tower came....” (Childe Rowland đến Tòa Tháp Tối...) Lời hắn vẫn là: “Fie, foh và fum, ta ngửi thấy mùi máu của một người Anh.” Vở King Lear, hồi iii, cảnh 4, phần cuối.
[Chú thích: Từ “British” được dùng thay cho “English.” Đây là một trong những chi tiết giúp xác định niên đại của vở kịch; James I được tuyên bố là Vua của Vương quốc Anh vào tháng 10 năm 1604. Tôi xin nói thêm rằng Motherwell trong phần chú thích ở trang xiv của tập Minstrelsy đã chứng thực rằng câu chuyện này vẫn còn được truyền miệng trong các phòng nhi đồng vào thời điểm ông viết sách (1828).]
Chi tiết sau đề cập đến tiếng kêu của Vua xứ Elfland. Việc một câu chuyện dạng này từng lưu hành ở nước Anh thời Shakespeare được chứng minh qua vở kịch pha trộn kỳ lạ giữa các tích truyện dân gian, The Old Wives' Tale của Peele. Cốt truyện chính xoay quanh cuộc tìm kiếm của hai anh em Calypha và Thelea nhằm giải cứu người em gái thất lạc tên là Delia, người đã bị một tên phù thủy tên là Sacrapant bỏ bùa (các cái tên được lấy từ tác phẩm Orlando Furioso). Họ được một ông lão hướng dẫn cách cứu em gái (giống như nhân vật Merlin trong “Childe Rowland”) và cuối cùng đã thành công. Vở kịch ngoài ra còn chứa đựng các mô típ về Người chết biết ơn, Ba cái đầu bên giếng (xin xem phần này), Chỉ dấu sinh mạng, và sự biến hình, thế nên không có gì ngạc nhiên khi một số đặc điểm của “Childe Rowland” lại phảng phất trong đó.
Thế nhưng, một sự tương đồng còn sát hơn nữa lại xuất hiện trong vở Comus của Milton. Ở đây, một lần nữa chúng ta lại bắt gặp hai người anh đi tìm người em gái đã rơi vào tay một tên phù thủy. Song song với đó là việc nữ anh hùng kiên quyết từ chối chạm vào món ăn bị yểm bùa, y hệt như cách Childe Rowland từ chối đến tận cùng. Và cuối cùng, người thiếu nữ bị bỏ bùa đã được giải thoát nhờ một thứ chất lỏng bôi lên môi và đầu ngón tay, giống hệt cách các người anh của Childe Rowland được giải phép. Một sự tương đồng tỉ mỉ đến thế chắc chắn không thể là ngẫu nhiên, và do đó rất có thể Milton đã sử dụng nguyên bản của “Childe Rowland” hoặc một biến thể nào đó mà ông từng nghe thời niên thiếu, rồi cải biên nó phục vụ cho vở mặt nạ tại Lâu đài Ludlow cũng như cho ngụ ngôn của ông. Quả thực, không có câu chuyện cổ tích nào trên thế giới có thể tự hào vinh danh một hậu du sinh ra từ nó lại xuất sắc đến thế.
Nhận xét.—Dù “Childe Rowland” sau này có nổi danh là nguồn gốc của Comus đi chăng nữa, nếu giả thuyết về mối liên hệ của tôi được chấp nhận, thì bản thân nó vẫn ẩn chứa những điểm thú vị phi thường hơn thế rất nhiều, cả về hình thức lẫn nội dung đối với những nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, nếu tôi không nhầm lẫn. Do đó, tôi sẽ điểm qua những điểm này và để dành việc khảo sát chi tiết hơn cho một dịp khác.
Trước hết, xét về hình thức tự sự. Truyện bắt đầu bằng văn vần, rồi chuyển sang văn xuôi, và xuyên suốt câu chuyện lại thỉnh thoảng quay trở lại với thơ một cách tự nhiên như nhân vật Ông Wegg. Đây là một hình thức viết không hề xa lạ trong các lĩnh vực văn học khác, đó là thể tài hỗn hợp văn xuôi và văn vần (cante-fable), trong đó “Aucassin et Nicolette” là ví dụ tiêu biểu nhất. Thể tài hỗn hợp này không chỉ giới hạn ở Pháp. Rất nhiều câu thơ anh hùng của người Ả Rập được ghi chép trong bộ Hamâsa sẽ trở nên khó hiểu nếu thiếu đi phần văn xuôi tường thuật đi kèm, vốn ngày nay được lưu giữ trong các bản chú giải. Những vần thơ được lồng ghép trong Nìn-lẻ ngàn lẻ một đêm mang lại cho tác phẩm này một phần đặc tính của thể cante-fable, và điều tương tự cũng có thể nói về các tập truyện cổ Ấn Độ và Ba Tư, dù thơ trong đó thường mang tính châm ngôn và đạo đức, như trong các bài kệ (gâtha) của kinh Jataka Phật giáo. Ngay cả ở một nơi xa xôi như Zanzibar, ông Lang ghi nhận rằng các câu chuyện cổ tích cũng được kể theo hình thức cante-fable này. Thậm chí trong Cựu Ước vẫn còn dấu vết của những đoạn văn vần đan xen giữa phần văn xuôi tường thuật, chẳng hạn như trong câu chuyện về Lamech hay câu chuyện về Balaam. Tất cả những điều này cho thấy đây là một hình thức tự sự rất cổ xưa và phổ biến.
Trong kho tàng truyện cổ tích, vẫn còn rất nhiều dấu vết của thể cante-fable. Chẳng hạn, trong tuyển tập của anh em nhà Grimm, các câu thơ xuất hiện ở các truyện số 1, 5, 11, 12, 13, 15, 19, 21, 24, 28, 30, 36, 38a, b, 39a, 40, 45, 46, 47 — tính ra chiếm 36 phần trăm trong số năm mươi truyện đầu tiên. Trong số hai mươi mốt truyện cổ tích của Chambers nằm trong tập Popular Rhymes of Scotland, chỉ có đúng năm truyện là không có các câu thơ xen kẽ. Trong số bốn mươi ba truyện chứa trong tập sách này, ba truyện (ix, xxix, xxxiii) được phái sinh từ các khúc ca ngâm (ballad) nên không được tính trong mối liên hệ hiện tại. Trong số bốn mươi truyện còn lại, các truyện i, iii, vii, xvi, xix, xxi, xxiii, xxv, xxxi, xxxv, xxxviii, xli (được tổng hợp từ các câu thơ), xliii có chứa các dòng có vẫn; trong khi các truyện xiv, xxii, xxvi, và xxxvii chứa đựng những “tàn tích” của vần điệu (“hãy cho tôi vào — cằm cằm cằm”; “một lần nữa... đến Tây Ban Nha”; “sự việc không phải thế — lẽ ra phải thế”; và “cùng vị phu nhân của ngài, đi phía sau ngài”); còn các truyện x và xxxii mang tính nhịp điệu dẫu không hẳn là có vần. Vì phần lớn các truyện còn lại đều là truyện cười, vốn có nguồn gốc khác, nên có vẻ rất có khả năng ban đầu tất cả các truyện cổ tích mang tính nghiêm túc đều được xen kẽ thơ vần, và do đó mang hình thức của một bản cante-fable. Quả thực, khó có khả năng bản thân khúc ca ngâm bắt đầu như một dòng thơ liền mạch, và cante-fable có lẽ chính là nguyên sinh chất để từ đó cả khúc ca ngâm lẫn truyện cổ tích được phân hóa ra: khúc ca ngâm hình thành bằng cách lược bỏ phần văn xuôi tường thuật, còn truyện cổ tích hình thành bằng cách mở rộng phần đó. Trong “Childe Rowland,” chúng ta bắt gặp ví dụ gần gũi nhất với thứ nguyên sinh chất ấy, và không khó để nhận thấy nó đã được rút ngắn thành một khúc ca ngâm như thế nào hoặc bị cô đọng thành một câu chuyện cổ tích thuần túy bằng văn xuôi ra sao.
Nội dung cốt lõi của “Childe Rowland” cũng đòi hỏi chúng ta phải chú ý, đặc biệt liên quan đến những quan điểm gần đây về bản chất và nguồn gốc thực sự của yêu tinh, quỷ lùn troll và các nàng tiên. Tôi muốn nhắc đến tác phẩm mới được xuất bản của ông D. MacRitchie, The Testimony of Tradition (do nhà Kegan Paul, Trench, Trübner & Co. phát hành) — nghĩa là truyền thống về các nàng tiên và những sinh vật tương tự. Nói một cách ngắn gọn, quan điểm của ông MacRitchie cho rằng các loài yêu tinh, quỷ lùn troll và tiên xuất hiện trong truyền thống dân gian thực chất chính là những cư dân sống trong gò đất, những tàn tích của họ đã được phát hiện với số lượng đáng kể dưới dạng các gò đồi màu xanh lục được nhân tạo đắp lên phía trên một lối đi dài và thấp dẫn đến căn phòng trung tâm mở ra bầu trời. Ông MacRitchie chỉ ra rằng trong một số trường hợp, các truyền thống về quỷ lùn troll hoặc “những thiện nhân” vốn gắn liền với các gò đất, mà sau đó qua điều tra hóa ra rõ ràng là chốn dung thân trước kia của một loài người có vóc dáng nhỏ bé hơn so với người phàm thời nay. Ông còn tiến xa hơn khi đồng nhất những người này với người Pict — ở Scotland các nàng tiên được gọi là “Pechs” — và các chủng tộc cổ đại khác, nhưng chúng ta không cần phải bận tâm quá nhiều đến những phương trình nhân chủng học này. Mọi chuyện hoàn toàn khác khi xét đến các truyền thống về gò đất và mối quan hệ của chúng, nếu không muốn nói là với truyện cổ tích nói chung, thì ít nhất cũng với các truyện kể về tiên, quỷ lùn troll, yêu tinh, v.v. Những câu chuyện này có số lượng rất ít và thường mang tính chất của giai thoại. Lũ tiên... bắt cóc một trẻ nhỏ, chúng giúp một kẻ lữ hành nước uống rồi biến mất vào một gò đồi xanh, chúng giúp những người nông dân làm việc ban đêm nhưng sẽ biến mất nếu sự hiện diện của chúng bị phát hiện; các bà mụ con người được mời đến giúp các bà mẹ tiên, những thiếu nữ tiên kết hôn với người phàm bình thường hoặc các cô gái kết hôn và sống chung với những người chồng tiên. Tất cả những điều này hoàn toàn có thể đã xảy ra và không hề mang những dấu hiệu phi lý mang tính suy diễn tiên nghiệm (à priori) như động vật biết nói, bay lượn trên không trung, và những tình tiết tương tự của truyện cổ tích thuần túy. Nếu như các nhà khảo cổ học bảo với chúng ta rằng từng có một chủng tộc người ở Bắc Âu, có vóc dáng vô cùng thấp lùn và nhiều lông lá, sinh sống trong những căn phòng ngầm được ngụy tạo một cách khéo léo bởi những gò đồi xanh, thì có lẽ không có gì là khó tin khi một số ít ức tàn dư của chủng tộc ấy vẫn tiếp tục tồn tại sau khi họ đã bị chinh phục và gần như bị tiêu diệt bởi những kẻ xâm lược thuộc chủng tộc Aryan, để rồi thỉnh thoảng lại thực hiện những trò đùa tai quái giống như lời đồn về lũ tiên và quỷ lùn troll.
Quả thực, đoạn miêu tả về Tòa Tháp Tối của Vua xứ Elfland trong “Childe Rowland” có sự tương đồng đến kinh ngạc với những chốn dung thân của “lược dân” mà các cuộc khai quật gần đây đã hé lộ. Nhờ sự nhã ý của ông MacRitchie, tôi có thể cung cấp cho bạn đọc những hình ảnh minh họa về một trong những nơi thú vị nhất trong số đó, đó là Maes-How ở Orkney. Đây là một gò đất xanh dài khoảng 100 feet và rộng 35 feet ở phần rộng nhất. Truyền thống từ lâu đã đồn rằng có một con yêu tinh trú ngụ ở trung tâm của nó, nhưng mãi cho đến năm 1861 người ta mới phát hiện ra gò đất này bị xuyên thủng bởi một lối đi dài tới 53 feet, và cao vỏn vẹn hai feet bốn inch cho tới nửa chiều dài của nó. Lối đi này dẫn vào một căn phòng trung tâm hình vuông rộng 15 feet và mở thông lên bầu trời.
Giờ đây, điều đáng chú ý là tất cả những chi tiết này lại trùng khớp một cách chính xác đến thế nào với Tòa Tháp Tối trong “Childe Rowland,” nếu ta châm chước cho một chút thi vị hóa từ phía người kể chuyện. Chúng ta có lối đi tối dài dằng dặc dẫn vào căn phòng trung tâm sáng rực ánh sáng, và tất cả đều được bao bọc bên trong một ngọn đồi hoặc gò đất xanh. Đương nhiên, thật thú vị khi đặt bức tranh minh họa của ông Batten cạnh căn phòng trung tâm của gò How ấy, nhưng những nét đặc trưng cốt lõi thì hoàn toàn giống nhau. Ngay cả một chi tiết nhỏ nhặt như các bậc thang canh tác trên sườn đồi cũng có mối liên hệ nhất định, tôi tin là vậy, với các quan điểm “mang tính hiện thực” của ông MacRitchie về xứ sở Faerie. Bởi vì trong một bối cảnh hoàn toàn khác, ông G. L. Gomme trong tác phẩm gần đây của ông mang tên Village Community (do W. Scott xuất bản), từ trang 75 đến 98, đã đưa ra những lý lẽ và dẫn chứng để tin rằng việc canh tác theo bậc thang dọc theo sườn đồi từng là một tập quán của cư dân không thuộc chủng tộc Aryan và tiền-Aryan tại các hòn đảo này. [Chú thích: Có thể kể thêm đảo Iona vào danh sách này (so sánh với Công tạ xứ Argyll, sách Iona, trang 109).] Như vậy, từ một nguồn hoàn toàn bất ngờ đối với ông MacRitchie, chúng ta đã có bằng chứng về mối liên hệ giữa Vua xứ Elfland với một phương thức canh tác đất đai mang tính chất tiền-Aryan. Nhờ sự giúp đỡ của ông Gomme, tôi có thể gửi đến bạn đọc một hình minh họa về điều này.
Nhìn chung, có vẻ như không phải là không có khả năng trong một câu chuyện như “Childe Rowland,” chúng ta đang nắm giữ một bức tranh được lý tưởng hóa về một cuộc “hôn nhân bằng cách cướp đoạt” giữa một trong những cư dân lùn tịt không thuộc gốc Aryan sống trong các gò đồi xanh với một thiếu nữ người Aryan, và cuộc giải cứu cô trở lại của các người anh trai. Sẽ rất khó để lý giải nếu không có một bức tranh miêu tả chi tiết đến vậy về nội thất bên trong của những gò đất này, đặc biệt là một chi tiết tỉ mỉ như những bậc thang canh tác trên đó. Đồng thời, không thể nghĩ rằng các quan điểm của ông MacRitchie giải thích được tất cả các câu chuyện cổ tích, hay việc ông đồng nhất người Phần Lan (Finns) = người Fenians = các nàng tiên = Sidhe = “Pechs” = người Pict sẽ nhất thiết được chấp nhận. Cuốn sách thú vị của ông, trong phạm vi của nó, dường như làm sáng tỏ những câu chuyện về người cá (những phụ nữ Phần Lan ngồi trong những chiếc thuyền “kayak”) và quỷ lùn troll, nhưng không nhất thiết là đối với truyện cổ tích nói chung. Do đó, trong tập sách hiện tại, bên cạnh “Childe Rowland,” chỉ có “Tom Tit Tot” trong chiếc hố của hắn, gò đất xanh trong “Kate Crackernuts,” “Cauld Lad of Hilton,” và có lẽ cả “Fairy Ointment” là chịu ảnh hưởng bởi các quan điểm của ông.
Cuối cùng, có một vài từ trong câu chuyện xứng đáng nhận được vài lời giải thích: Từ “Widershins” có lẽ, như ông Batten gợi ý, tương tự với từ tiếng Đức “wider Schein,” có nghĩa là đi ngược lại hướng chuyển động của mặt trời, hay như cách gọi của các nhà toán học là “ngược chiều kim đồng hồ” — tức là đi theo thứ tự Tây, Nam, Đông, Bắc thay vì đi cùng chiều với mặt trời và chiều kim đồng hồ; lý do vì sao từ này lại mang ý nghĩa giải bùa thì rất khó để lý giải. “Bogle” là một từ địa phương dùng để chỉ “con ngạ quỷ, bóng ma,” và tương tự với từ “bwg” trong tiếng Wales có nghĩa là “yêu tinh,” cũng như từ chỉ côn trùng có tên tương tự trong tiếng Anh, và kỳ lạ hơn nữa là từ “Bog” trong tiếng Nga có nghĩa là Chúa Trời, tên của rất nhiều dòng sông ở nước Nga được đặt theo từ này. Tôi xin nói thêm rằng từ “Burd” về mặt từ nguyên học thì đồng nghĩa với từ “bride” (cô dâu) và thường được sử dụng trong các bản anh hùng ca thời kỳ đầu để chỉ “Phu nhân, Tiểu thư.”