Ngày xửa ngày xưa, ở miền Bắc có một vị nam tước quyền thế, đồng thời là một bậc thầy phù thủy biết trước mọi chuyện sẽ xảy ra. Vì vậy, vào một ngày nọ, khi đứa con trai nhỏ mới tròn bốn tuổi, ông bèn mở Sách Định Mệnh ra xem vận mệnh của nó sau này. Hỡi ôi, tới sự kinh hoàng của ông, đứa con trai sau này sẽ kết hôn với một cô gái nghèo hèn vừa mới cất tiếng khóc chào đời tại một ngôi nhà dưới bóng râm của nhà thờ York Minster. Vị nam tước thừa biết cha của cô bé ấy vô cùng nghèo khổ, và nhà hắn đã có tận năm đứa con rồi. Thế là ông liền giục ngựa phi thẳng đến York, đi ngang qua ngôi nhà của người cha nghèo, và thấy ông ta đang ngồi trước cửa với vẻ mặt buồn rầu, ủ dột. Ông bèn xuống ngựa, bước đến gần và cất tiếng hỏi: “Này bác, có chuyện gì thế?” Người đàn ông đáp: “Thưa ngài, khổ nỗi là nhà tôi đã có năm đứa con rồi, giờ lại đẻ thêm đứa thứ sáu, là một cô con gái, mà chẳng biết lấy đâu ra bánh mì để đắp đổi qua ngày nữa đây.”
“Đừng nản lòng, bạn ạ,” vị nam tước bảo. “Nếu đó là nỗi phiền muộn của bác, ta có thể giúp. Ta sẽ mang đứa con út đi, và bác sẽ không phải bận tâm lo lắng cho nó nữa.”
“Đa tạ lòng tốt của ngài,” người đàn ông nói rồi bước vào nhà bế đứa bé gái ra trao cho vị nam tước. Ngài liền lên ngựa đem nó đi. Khi đến bờ sông Ouse, ông ném thẳng đứa bé xuống dòng nước rồi phóng ngựa về lâu đài của mình.
Nhưng đứa bé gái nào có chìm; váy áo đã giữ nó nổi được một lúc, và nó cứ trôi hoài, trôi hoài cho đến khi dạt vào bờ ngay trước một túp lều tranh của người đánh cá. Ở đó, bác đánh cá đã tìm thấy nó, sinh lòng thương xót đối với sinh linh bé bỏng tội nghiệp bèn đem về nuôi trong nhà. Con bé sống ở đó cho đến năm mười lăm tuổi, trở thành một thiếu nữ xinh đẹp tuyệt trần.
Một ngày nọ, vị nam tước cùng vài người bạn đi săn dọc theo bờ sông Ouse, liền ghé vào túp lều của người đánh cá để xin nước uống, và chính cô thiếu nữ đã mang nước ra mời họ. Tất cả bọn họ đều kinh ngạc trước nhan sắc của cô, và một người trong số đó nói với vị nam tước: “Ngài thông thạo thuật chiêm tinh, xin đoán thử xem sau này cô này sẽ lấy ai đi, thưa Nam tước?”
“Ồ! Chuyện đó có gì khó đoán,” vị nam tước nói; “chắc là gã nhà quê nào đó thôi. Nhưng để ta lập lá số tử vi cho nó xem sao. Lại đây nào cô gái, hãy cho ta biết con sinh vào ngày nào?”
“Thưa ngài, con không biết,” cô gái đáp, “con được người ta nhặt ở ngay đây sau khi bị dòng sông cuốn trôi dạt về cách đây khoảng mười lăm tuổi.”
Lúc bấy giờ vị nam tước mới nhận ra cô là ai, và khi họ rời đi, ông bèn quay ngựa lại bảo cô rằng: “Này cô gái, ta sẽ mang lại vận may cho con. Hãy mang bức thư này đến cho em trai ta ở Scarborough, con sẽ có chỗ nương thân trọn đời.” Cô gái cầm lấy thư và hứa sẽ lên đường. Thế nhưng, đây là những gì ông đã viết trong bức thư đó:
“Em trai thân mến,—Hãy nhận lấy người mang thư này và tống cổ đi chết ngay lập tức.
Thân ái,
Albert.”
Chẳng bao lâu sau, cô gái lên đường đi Scarborough, và ghé trọ lại một quán trọ nhỏ qua đêm. Đêm hôm đó, một băng cướp đột nhập vào quán, lục soát người cô gái nhưng chẳng có xu nào, ngoại trừ lá thư. Bọn chúng bèn bóc thư ra đọc và thấy thật là bất nhẫn. Tên tướng cướp liền lấy giấy bút viết lại thế này:
“Em trai thân mến,—Hãy nhận lấy người mang thư này và gả ngay cho con trai ta lập tức.
Thân ái,
Albert.”
Rồi hắn đưa lại cho cô gái và giục cô lên đường. Thế là cô tiếp tục đi đến chỗ người em trai của vị nam tước ở Scarborough, bấy giờ là một hiệp sĩ cao quý, nơi con trai của vị nam tước đang lưu lại. Khi cô trao bức thư cho người em, ông liền ra lệnh chuẩn bị đám cưới ngay lập tức, và bọn họ thành vợ thành chồng vào đúng ngày hôm đó.
Không lâu sau, chính vị nam tước đến lâu đài của em trai mình, và ngài vô cùng bàng hoàng khi phát hiện ra điều mà mình hết sức mưu toan ngăn chặn lại đã thực sự xảy ra. Nhưng ông nào chịu bỏ cuộc dễ dàng như thế; ông rủ cô gái đi dạo dọc theo vách đá, theo lời ông nói. Khi dẫn cô ra nơi vắng vẻ không một bóng người, ông liền chộp lấy tay cô và định hất cô xuống vực. Nhưng cô đã van xin tha mạng thảm thiết. “Con chưa làm điều gì có tội,” cô nói: “nếu ngài rủ lòng thương tha mạng cho con, con xin nguyện làm bất cứ điều gì ngài muốn. Con sẽ không bao giờ xuất hiện trước mặt ngài hay con trai ngài nữa cho đến khi ngài muốn.” Khi ấy, vị nam tước liền tháo chiếc nhẫn vàng trên tay ném xuống biển, và bảo rằng: “Đừng bao giờ để ta nhìn thấy mặt ngươi nữa cho đến khi ngươi mang cho ta xem chiếc nhẫn này;” rồi ông thả cô đi.
Cô gái bất hạnh cứ lang thang mãi, lang thang mãi, cho đến khi cuối cùng cô đến được lâu đài của một vị quý tộc lớn, và xin được việc làm ở đó; họ nhận cô vào làm đứa ở chuyên rửa bát đũa trong bếp của lâu đài, bởi cô vốn quen với công việc chân tay ấy từ thời ở trong túp lều của người đánh cá.
Rồi vào một ngày nọ, ai lại bước đến nhà vị quý tộc ấy nếu không phải là vị nam tước, người em trai của ông và con trai ông, cũng chính là chồng cô. Cô hoảng hốt chẳng biết tính sao; nhưng nghĩ rằng chắc họ sẽ chẳng đời nào để ý đến mình dưới căn bếp của lâu đài này. Thế là cô thở dài quay lại với công việc, bắt tay vào làm sạch một con cá lớn chuẩn bị đem luộc cho bữa tối của họ. Và trong lúc đang làm sạch con cá, cô nhìn thấy có cái gì đó lóe lên trong bụng nó, và đố bạn cô đã tìm thấy cái gì? Chà, hóa ra đó chính là chiếc nhẫn của vị nam tước, đúng là chiếc nhẫn mà ông đã ném xuống vách đá ở Scarborough rồi. Bạn có thể đoán được cô mừng đến nhường nào khi nhìn thấy nó. Sau đó, cô nấu con cá thật ngon lành hết mức có thể rồi dọn lên.
Chà, khi món cá được dọn lên bàn, các vị khách vô cùng thích thú nên đã hỏi vị quý tộc xem ai là người nấu món này. Ông đáp rằng mình không rõ, nhưng liền gọi các gia nhân: “Này các người, hãy gọi đầu bếp đã nấu món cá tuyệt vời đó lên đây.” Thế là họ xuống bếp bảo cô gái rằng trên sảnh đang gọi cô. Cô bèn rửa mặt chải chuốt gọn gàng, đeo chiếc nhẫn vàng của vị nam tước vào ngón tay rồi bước lên phòng khách lớn.
Khi những thực khách trông thấy một nữ đầu bếp vừa trẻ trung vừa xinh đẹp như vậy thì hết sức ngạc nhiên. Riêng vị nam tước thì nổi giận lôi đình, vùng đứng dậy như chực bổ nhào vào cô. Cô gái liền bước tới trước mặt ông, chìa bàn tay có đeo chiếc nhẫn ra; rồi đặt nó lên bàn ngay trước mặt ông. Lúc bấy giờ, vị nam tước mới bàng hoàng nhận ra rằng không một ai có thể chống lại Định Mệnh, ông đành dìu cô vào ngồi ghế và dõng dạc tuyên bố trước toàn thể quan khách rằng đây chính là người vợ đích thực của con trai mình; rồi ông đón cô cùng con trai trở về lâu đài của gia đình; và từ đó về sau, họ sống hạnh phúc bên nhau mãi mãi.