Ngày xửa ngày xưa, trong một thời buổi tốt lành chẳng thể tìm thấy ở thời của tôi, thời của bạn hay của bất kỳ ai khác, có hai vợ chồng già sống cùng người con trai duy nhất trong một khu rừng lớn. Cậu con trai chưa từng gặp bất kỳ ai khác ngoài cha mẹ mình trong suốt cuộc đời, nhưng qua những trang sách, cậu biết rằng ngoài thế giới kia vẫn còn rất nhiều người khác nữa, và ngày nào cậu cũng đọc về họ. Mỗi khi đọc về những thiếu nữ xinh đẹp, cậu lại khao khát đến phát cuồng được tận mắt nhìn thấy họ. Cho đến một ngày nọ, khi người cha đang bận đốn củi trong rừng, cậu ngỏ ý với mẹ rằng mình muốn lên đường tìm kế sinh nhai ở một xứ sở khác, đồng thời muốn gặp gỡ những con người ngoài hai đấng sinh thành. Cậu nói: “Ở đây con chẳng thấy gì ngoài những thân cây cổ thụ bao quanh; nếu cứ tiếp tục ở lại đây, có lẽ con sẽ phát điên mất trước khi kịp nhìn thấy bất cứ thứ gì trên đời.” Suốt buổi trò chuyện giữa cậu và người mẹ già tội nghiệp, người cha vẫn đang mải miết làm việc ngoài rừng.
Trước lúc con lên đường, người mẹ già liền bảo: “Thôi được, con trai tội nghiệp của ta, nếu con đã muốn đi thì cứ đi, mong Chúa phù hộ cho con.” (Khi nói câu ấy, bà cụ hoàn toàn có ý tốt.) “Nhưng hãy nán lại một lát đã. Con muốn ta làm cho con một chiếc bánh nhỏ để ban phước, hay một chiếc bánh lớn để nguyền rủa?” “Ôi chao, mẹ cứ làm cho con một chiếc bánh lớn đi ạ,” cậu đáp, “biết đâu trên đường đi con sẽ đói.” Người mẹ liền làm một chiếc bánh lớn, rồi trèo lên nóc nhà nguyền rủa cậu suốt quãng đường cho đến khi khuất bóng.
Chẳng mấy chốc, cậu gặp lại cha mình. Người cha hỏi: “Con đi đâu thế, con trai tội nghiệp của ta?” Cậu con trai liền kể lại câu chuyện y như đã thưa với mẹ. “Ừ thì,” người cha nói, “ta rất tiếc khi thấy con rời đi, nhưng nếu con đã quyết định dứt khoát, thì tốt hơn hết là cứ đi đi.”
Chàng thanh niên tội nghiệp đi chưa được bao xa thì người cha gọi giật lại. Ông thọc tay vào túi lấy ra một chiếc hộp đựng thuốc lá bằng vàng, đưa cho cậu và dặn: “Này, cầm lấy chiếc hộp nhỏ này, bỏ vào túi và nhớ tuyệt đối không được mở ra cho đến khi nào cận kề cái chết.” Cứ thế, anh chàng Jack tội nghiệp tiếp tục bước đi trên con đường của mình cho đến khi mệt lả và đói lả, bởi cậu đã ăn sạch chiếc bánh mang theo dọc đường. Trời lúc này đã tối mịt khiến cậu khó lòng nhìn rõ lối đi phía trước. Phía đằng xa, cậu nhận thấy có ánh đèn, bèn tiến lại gần và tìm ra cửa sau để gõ cửa. Một nữ tỳ ra mở cửa và hỏi cậu muốn gì. Jack đáp trời đã tối và cậu muốn tìm một nơi để nghỉ qua đêm. Nữ tỳ liền mời cậu vào sưởi lửa và cho ăn uống no nê với thịt ngon, bánh mì cùng bia. Trong lúc cậu đang thưởng thức bữa ăn bên lò sưởi, tiểu thư con chủ nhà liền đến ngắm nhìn cậu; nàng đem lòng yêu mến cậu thiết tha và cậu cũng vậy. Nàng vội chạy đi thưa với cha rằng có một chàng trai trẻ rất khôi ngô đang ở căn bếp phía sau. Ngay lập tức, người chủ nhà bước đến hỏi han và dò hỏi xem cậu có thể làm được những công việc gì. Vốn là một kẻ ngốc nghếch, Jack liền đáp rằng cậu có ý muốn làm bất cứ việc gì. (Ý cậu là cậu có thể làm bất cứ việc vặt ngốc nghếch nào quanh nhà mà người ta cần đến.)
“Được thôi,” người chủ nhà bảo, “nếu anh có thể làm được bất cứ việc gì, thì vào lúc tám giờ sáng mai, tôi muốn thấy một hồ nước lớn cùng những chiến hạm lớn nhất thế giới đang di chuyển ngay trước biệt thự của tôi; và một trong những chiến hạm lớn nhất phải bắn đại bác chào mừng, đồng thời loạt đạn cuối cùng phải làm gãy một chân chiếc giường mà cô con gái cược cưng của tôi đang ngủ. Nếu anh không làm được điều đó, anh sẽ phải mất mạng.”
“Được thôi,” Jack đáp. Cậu lui về phòng ngủ của mình, thành kính đọc lời cầu nguyện rồi ngủ một mạch đến gần tám giờ sáng. Cậu hầu như chẳng có chút thời gian nào để suy nghĩ xem mình phải làm gì, cho đến khi đột nhiên nhớ ra chiếc hộp vàng nhỏ mà người cha đã trao cho. Cậu tự lẩm bẩm: “Chao ôi, chưa bao giờ mình lại cận kề cái chết như lúc này.” Nghĩ đoạn, cậu thò tay vào túi lấy chiếc hộp nhỏ ra. Vừa mở nắp, từ trong hộp liền nhảy thốc ra ba người đàn ông nhỏ bé mặc áo đỏ, cất tiếng hỏi Jack: “Ngài có sai bảo gì chúng tôi không?” “Này nhé,” Jack nói, “ta muốn có một hồ nước lớn cùng những chiến hạm lớn nhất thế giới đậu ngay trước biệt thự này, và một trong những chiến hạm lớn nhất phải bắn đại bác chào mừng, sao cho loạt đạn cuối cùng phải làm gãy một chân chiếc giường mà tiểu thư đang ngủ.” “Chuyện nhỏ,” mấy người tí hon đáp; “cứ ngủ đi.”
Jack vừa dứt lời, chưa kịp thốt thêm câu nào để dặn dò đám người tí hon, thì đồng hồ điểm tám giờ. *Đùng! Đùng!* Tiếng đại bác vang lên từ một trong những chiến hạm lớn nhất, khiến Jack giật nảy mình khỏi giường để nhìn qua cửa sổ. Quả thực, đó là một cảnh tượng vô cùng kỳ diệu đối với cậu sau khoảng thời gian dài sống cảnh rừng rú cùng cha mẹ.
Lúc này Jack mới thong thả thay quần áo, đọc cầu nguyện rồi bước xuống nhà với nụ cười trên môi, bởi cậu vô cùng hãnh diện vì mọi việc đã được hoàn tất một cách xuất sắc. Chủ nhà bước đến bảo: “Này chàng trai trẻ, ta phải công nhận là cậu rất tài giỏi đấy. Nào, lại đây dùng chút bữa sáng đi.” Hơn thế nữa, ông ta còn dặn dò: “Bây giờ vẫn còn hai việc nữa cậu phải hoàn thành, rồi cậu mới được cưới con gái ta.” Trong bữa sáng, Jack tranh thủ liếc nhìn tiểu thư một cách đắm đuối, và nàng cũng đáp lại ánh mắt ấy.
Việc tiếp theo mà người chủ nhà yêu cầu cậu làm là đốn hạ tất cả những cây cổ thụ trong bán kính nhiều dặm trước tám giờ sáng; và để câu chuyện khỏi dài dòng, việc đó đã được hoàn thành mượt mà, khiến gia chủ vô cùng hài lòng. Ông ta lại tiếp tục nói: “Việc cuối cùng mà cậu phải làm chính là... mang về cho ta một lâu đài nguy nga đứng trên mười hai cột trụ bằng vàng; tại đó, các trung đoàn binh lính phải tề tựu và thực hiện các bài tập duyệt binh. Đúng tám giờ, vị sĩ quan chỉ huy phải cất lệnh hô: ‘Vác súng lên!’” “Dễ thôi,” Jack đáp. Và khi buổi sáng thứ ba, cũng là buổi sáng cuối cùng đến, thử thách lớn thứ ba đã hoàn thành mỹ mãn, và cậu chính thức được kết hôn với vị tiểu thư. Thế nhưng, ôi chao! Chuyện tồi tệ hơn vẫn còn ở phía trước.
Bấy giờ, người chủ nhà liền tổ chức một buổi đi săn lớn, mời tất cả các quý tộc quanh vùng đến tham dự và tận mắt chiêm ngưỡng lâu đài. Lúc này, Jack đã có trong tay một con tuấn mã tuyệt đẹp cùng bộ trang phục đỏ rực để tham gia đoàn săn. Sáng hôm ấy, khi người hầu phòng thu dọn quần áo của Jack sau khi cậu thay đồ đi săn, anh ta vô tình thò tay vào túi áo ghi-lê và chạm phải chiếc hộp thuốc lá bằng vàng nhỏ xíu mà Jack sơ ý để quên. Vừa mở chiếc hộp nhỏ ấy ra, ba người đàn ông tí hon mặc áo đỏ liền nhảy vọt ra ngoài, cất tiếng hỏi anh ta muốn sai bảo điều gì. “Ồ,” người hầu liền bảo, “ta muốn lâu đài này phải được dời đi thật xa, vượt qua biển cả mênh mông.” “Được thôi,” đám người tí hon áo đỏ đáp; “ngươi có muốn đi theo không?” “Có,” anh ta đáp. “Vậy thì leo lên đi,” chúng bảo; và thế là họ bay vút đi, vượt qua biết bao vùng biển rộng lớn.
Đến khi đoàn săn hoành tráng trở về thì lâu đài trên mười hai cột trụ bằng vàng đã biến mất tăm, để lại sự hụt hẫng vô bờ bão cho những vị khách chưa từng được chiêm ngưỡng nó trước đó. Anh chàng Jack ngốc nghếch tội nghiệp liền bị đe dọa sẽ cướp mất người vợ trẻ xinh đẹp vì tội dám lừa gạt mọi người theo cách đó. Cuối cùng, gia chủ đành đưa ra một thỏa thuận: cho phép Jack có thời hạn một năm một ngày để đi tìm lại lâu đài; thế là cậu lên đường với một con tuấn mã tốt và một ít tiền giắt túi.
Bấy giờ, Jack tội nghiệp bắt đầu hành trình gian nan đi tìm tòa lâu đài thất lạc, băng qua đồi núi, thung lũng, qua những khu rừng rậm rạp và những cánh đồng cừu, đi xa hơn cả những gì ta có thể kể hay bao giờ có ý định kể lại. Cho đến cuối cùng, cậu cũng đến được vương quốc của loài chuột trên thế gian này. Ngay tại cổng chính dẫn vào cung điện, có một chú chuột lính gác đang làm nhiệm vụ liền cố gắng ngăn không cho Jack bước vào. Jack bèn hỏi chú chuột nhỏ ấy rằng: “Vua của các ngươi ở đâu? Ta rất muốn diện kiến ngài.” Chú chuột liền cử một đồng đội dẫn đường đưa cậu đi; và khi diện kiến, nhà vua liền mời cậu vào trong. Sau khi ân cần hỏi han, nhà vua muốn biết vì sao cậu lại cất công đi đến vùng đất này. Jack bấy giờ mới thành thật kể hết mọi chuyện, rằng cậu đã vô tình để mất lâu đài lớn và đang trên đường đi tìm lại nó, với thời hạn đúng một năm một ngày. Jack hỏi xem nhà vua có hay biết gì về nó không, nhưng ngài đáp: “Không, ta không biết. Tuy nhiên, ta là vua của toàn bộ loài chuột trên thế giới này, vào sáng mai ta sẽ triệu tập tất cả chúng lại, biết đâu có đứa nào từng nhìn thấy tung tích của nó.”
Đêm đó, Jack được thết đãi một bữa ăn thịnh soạn và nghỉ ngơi thoải mái. Sáng hôm sau, nhà vua cùng Jack ra cánh đồng; ngài cất tiếng triệu tập muôn loài chuột tề tựu đông đủ và hỏi xem có ai trông thấy tòa lâu đài nguy nga lộng lẫy dựng trên những cột trụ bằng vàng hay không. Toàn bộ lũ chuột đều đồng thanh đáp rằng không một ai nhìn thấy cả. Nhà vua già bấy giờ mới bảo cậu rằng ngài còn có hai người anh em khác: “Một người là Vua của loài ếch; còn người anh cả của ta chính là Vua của muôn loài chim trên thế gian này. Nếu cậu đến đó, may ra họ sẽ biết chút ít tin tức về tòa lâu đài bị thất lạc.” Nhà vua dặn thêm: “Cứ để con ngựa của cậu lại đây với ta cho đến khi quay về, hãy cưỡi một trong những con ngựa tốt nhất của ta và mang theo chiếc bánh này biếu người anh của ta; ngài ấy sẽ nhận ra cậu nhận quà từ ai. Nhớ gửi lời thăm hỏi của ta, bảo rằng ta vẫn khỏe và rất mong có dịp hội ngộ.” Nói đoạn, nhà vua và Jack bắt tay từ biệt nhau.
Khi Jack đang bước qua cổng thành, chú chuột gác cổng bèn rụt rè hỏi xem có được phép đi theo cậu không. Jack liền từ chối: “Không được đâu, ta sẽ gặp rắc rối với nhà vua mất.” Nhưng chú chuột nhỏ nài nỉ: “Tốt hơn là ngài cứ cho tôi đi cùng; biết đâu có lúc tôi sẽ giúp được gì cho ngài mà ngài chẳng hay biết.” “Vậy thì nhảy lên đi.” Chú chuột liền thoăn thoắt bò lên chân ngựa rồi nhảy tót vào túi áo của Jack.
Bấy giờ, sau khi chào tạm giã nhà vua và cất gọn chú chuột gác cổng vào túi, Jack tiếp tục lầm lũi bước đi trên con đường dài đằng đẵng của ngày đầu tiên. Cuối cùng, cậu cũng tìm tới được vương quốc thứ hai; ở đó có một chú ếch đang vác súng trên vai làm nhiệm vụ gác cổng, cũng cố tình ngăn cản không cho Jack vào. Nhưng khi Jack thưa rằng cậu muốn yết kiến nhà vua, chú ta liền gật đầu cho qua; Jack thuận lợi tiến thẳng đến cửa cung điện. Đức Vua bước ra hỏi rõ mục đích chuyến đi, và Jack lại tường thuật lại mọi chuyện từ đầu chí cuối. “Thế à, thế à, hãy vào trong đi.” Cậu được đón tiếp vô cùng chu đáo trong đêm đó. Sáng hôm sau, nhà vua phát ra những âm thanh kỳ lạ để triệu tập toàn bộ loài ếch trên thế gian. Ngài hỏi chúng có hay biết hay nhìn thấy tòa lâu đài đứng trên mười hai cột trụ bằng vàng nào không; và tất cả đồng loạt cất lên thứ âm thanh lạ lùng: *Kro-kro, kro-kro*, rồi đáp là không.
Jack lại phải tiếp tục đổi một con ngựa khác và mang theo chiếc bánh để biếu người anh của vị vua này—chính là Vua của muôn loài chim trời. Lúc Jack đang dắt ngựa qua cổng, chú ếch gác cổng liền rụt rè hỏi xem có được theo chân cậu không. Ban đầu Jack từ chối, nhưng cuối cùng đành bảo chú ta nhảy lên rồi nhét vào chiếc túi áo ghi-lê bên kia. Thế là cậu lại tiếp tục dấn thân vào chặng đường dài đằng đẵng; quãng đường lần này dài gấp ba lần ngày đầu tiên. Cuối cùng, cậu cũng tìm tới nơi và thấy một chú chim oai vệ đang làm nhiệm vụ gác cổng. Jack bước qua mà chú ta chẳng hề hé môi nửa lời; cậu vào yết kiến nhà vua và tâu lại toàn bộ câu chuyện về tòa lâu đài. “Được rồi,” nhà vua bảo, “sáng mai cậu sẽ biết lũ chim của ta có hay biết gì hay không.” Jack dắt ngựa vào chuồng rồi đi ngủ sau khi đã ăn uống qua loa. Sáng hôm sau, nhà vua cùng cậu tiến ra một cánh đồng rộng lớn; tại đó, ngài cất lên thứ âm thanh kỳ lạ, và muôn loài chim trên khắp thế gian liền tụ họp đông đủ. Nhà vua cất tiếng hỏi: “Các ngươi có nhìn thấy tòa lâu đài đẹp đẽ kia không?” Và tất cả loài chim đều đáp là không. “Lạ nhỉ,” nhà vua thốt lên, “vậy con chim lớn đâu rồi?” Họ phải chờ đợi suốt một khoảng thời gian dài thì chim đại bàng mới xuất hiện trong bộ dạng ướ đẫm mồ hôi, sau khi đã phải phái hai chú chim nhỏ bay vút lên tận tầng mây xanh để huýt sáo giục giã nó mau chóng quay về. Nhà vua cất lời hỏi chim đại bàng xem nó có nhìn thấy tòa lâu đài lớn hay không, và con chim đáp: “Thưa có, ta vừa rời khỏi nơi nó đang tọa lạc.” “Tốt lắm,” nhà vua bảo tiếp; “chàng thanh niên đây đã để mất nó, ngươi phải đi cùng cậu ấy trở lại đó; nhưng hãy nán lại lót dạ chút gì đã.”
Người ta liền xẻ thịt một con cừu non, lấy phần ngon nhất để làm thức ăn bồi dưỡng cho đại bàng trong chặng đường vượt biển, đồng thời nó phải chở Jack trên lưng. Khi họ vừa bay đến tầm nhìn thấy tòa lâu đài, ngài đại bàng và Jack bỗng lúng túng chẳng biết phải làm thế nào để lấy lại chiếc hộp vàng nhỏ bé. May thay, chú chuột nhỏ liền lên tiếng: “Hãy thả tôi xuống đất, tôi sẽ tìm và mang chiếc hộp ấy về cho hai người.” Thế là chú chuột lén lút đột nhập vào trong lâu đài và chộp lấy chiếc hộp. Lúc đang hớt hơ hớt hải chạy xuống cầu thang, chú vô tình làm rơi nó khiến suýt chút nữa thì bị tóm gọn. Cuối cùng, chú chạy hộc tốc ra ngoài với chiếc hộp trên tay và cười nắc nẻ. “Lấy được chưa hả?” Jack hồi hộp hỏi; chú chuột đáp: “Rồi!” Thế là họ nhanh chóng quay gót trở về, để lại tòa lâu đài đứng lặng lẽ phía sau.
Trong lúc cả bọn (gồm Jack, chuột, ếch và đại bàng) đang bay vượt qua vùng biển lớn, họ bắt đầu cãi cọ xem ai là người có công lấy được chiếc hộp nhỏ, để rồi sơ ý làm nó tuột tay rơi tõm xuống làn nước. (Chính vì mải nhìn ngắm và chuyền tay nhau liên tục nên họ mới đánh rơi chiếc hộp xuống tận đáy biển sâu.) “Thôi được rồi,” chú ếch liền nói, “tôi biết thế nào mình cũng phải ra tay mà, tốt hơn là cứ để tôi lặn xuống nước.” Họ đồng ý để chú nhảy xuống, và chú ta ở lì dưới đáy biển suốt ba ngày ba đêm. Khi ngoi lên, chú nhô cái mũi và cái miệng nhỏ xíu khỏi mặt nước, và tất cả liền chồm tới hỏi có tìm thấy không, nhưng chú lắc đầu đáp không. “Thế nãy giờ cậu làm gì dưới đó vậy?” “Chẳng làm gì cả,” chú đáp, “chỉ là tôi phải ngoi lên thở cho đã phổi thôi.” Thế là chú ếch tội nghiệp lại lặn xuống lần thứ hai, ở dưới đó suốt một ngày một đêm, và cuối cùng cũng vớt được chiếc hộp ngoi lên.
Sau bốn ngày đêm ròng rã ở lại đó, họ tiếp tục lên đường; và sau một chặng vật lộn kéo dài qua biển cả lẫn núi non, cuối cùng họ cũng đặt chân đến cung điện của vị vua già—chúa tể của muôn loài chim trên thế gian. Nhà vua vô cùng vui mừng khi gặp lại họ, ngài bày tỏ sự chào đón nồng nhiệt và trò chuyện rất lâu. Jack mở chiếc hộp nhỏ ra, dặn đám người tí hon hãy tức tốc quay về mang tòa lâu đài đến đây, “và tất cả các ngươi phải thật khẩn trương trở lại đây càng nhanh càng tốt.”
Ba người tí hon liền biến mất. Khi đến gần tòa lâu đài, họ vốn còn e dè chưa dám tiến vào cho đến khi ông chủ, phu nhân cùng toàn bộ gia nhân đã rời đi để tham gia một buổi khiêu vũ. Lúc ấy, trong lâu đài chẳng còn lại ai ngoài người đầu bếp và một nữ tỳ khác; đám người đỏ liền hỏi hai người họ rằng muốn đi theo hay ở lại phía sau, và cả hai đều quả quyết: “Tôi sẽ đi theo các anh.” Đám người tí hon giục họ nhanh chóng chạy lên lầu. Họ vừa chân ướt chân ráo bước vào một trong những phòng khách thì cũng là lúc ông chủ, phu nhân và đám gia nhân xuất hiện ở đằng xa; nhưng đã quá muộn rồi. Tòa lâu đài lập tức phóng đi với tốc độ tối đa, để lại mấy người phụ nữ vẫy tay cười khúc khích qua khung cửa sổ trong khi đám người bên dưới cố ra hiệu dừng lại, nhưng mọi nỗ lực đều trở nên vô ích.
Họ mất đúng chín ngày đêm cho cuộc hành trình này, trong đó họ vẫn cố gắng giữ gìn sự tôn nghiêm của ngày Chủ nhật bằng cách phân công một người đàn ông nhỏ bé làm linh mục, người thứ hai làm thư ký, người thứ ba đảm nhận việc đánh đàn organ, còn hai người phụ nữ đóng vai trò ca sĩ, bởi lâu đài đã sẵn có một nhà nguyện vô cùng tráng lệ. Điều kỳ lạ là trong lúc cử hành âm nhạc đã xảy ra một nốt lệch pha, một người tí hon tò mò trèo tót lên một ống đàn organ để tìm xem thứ âm thanh chói tai ấy phát ra từ đâu. Cậu ta phát hiện ra nguyên nhân thực chất là do hai người phụ nữ đang khúc khích cười trước cảnh một người đàn ông áo đỏ đang dạng chân hết cỡ trên các ống đàn trầm, đồng thời dang rộng cả hai tay, trên đầu vẫn đội chiếc mũ ngủ màu đỏ quen thuộc chưa từng rời khỏi đỉnh đầu. Cảnh tượng vô cùng hài hòa và buồn cười ấy chưa từng được chứng kiến bao giờ, khiến họ không thể kìm nén được những tràng cười sảng khoái ngay giữa lòng đại dương sâu thẳm. Và ôi chao! Chỉ vì mải vui đùa mà xao nhãng việc đang làm, họ suýt chút nữa đã đẩy bản thân vào hiểm họa, bởi có lúc tòa lâu đài tưởng chừng đã chìm nghỉm giữa biển khơi.
Cuối cùng, sau một hành trình đầy ắp tiếng cười, họ cũng hội ngộ trở lại cùng Jack và nhà vua. Nhà vua vô cùng kinh ngạc khi tận mắt chiêm ngưỡng tòa lâu đài, ngài bước lên những bậc thềm bằng vàng để vào tham quan bên trong.
Nhà vua tỏ ra vô cùng thích thú với tòa lâu đài, nhưng thời hạn một năm một ngày của Jack tội nghiệp nay đã gần kề. Mong mỏi được trở về đoàn tụ với người vợ trẻ, cậu liền ra lệnh cho ba người tí hon chuẩn bị sẵn sàng vào lúc tám giờ sáng hôm sau để lên đường tìm người anh thứ hai, lưu lại đó một đêm; rồi từ đó tiếp tục di chuyển đến chỗ người em út—chúa tể của muôn loài chuột trên thế gian—để gửi gắm tòa lâu đài ở một nơi an toàn cho đến khi có lệnh gọi về. Jack cúi đầu cáo từ nhà vua và gửi lời cảm ơn sâu sắc vì sự hiếu khách của ngài.
Jack và tòa lâu đài lại tiếp tục lên đường, dừng chân một đêm tại vương quốc thứ hai, rồi lại tiếp tục tiến về điểm đến thứ ba để gửi gắm tòa lâu đài ở đó. Vì phải để lại tòa lâu đài phía sau, Jack đành quay lại sử dụng chú ngựa của chính mình—con vật mà cậu đã gửi lại nơi này khi mới bắt đầu hành trình.
Bấy giờ, Jack đành bỏ lại tòa lâu đài phía sau lưng để hướng thẳng về quê nhà. Sau những đêm vui chơi tiệc tùng tưng bừng cùng ba vị anh em, Jack đà sinh ra buồn ngủ trên lưng ngựa và suýt nữa thì lạc đường nếu không nhờ đám người tí hon tận tình dẫn lối. Cuối cùng, cậu cũng về đến nơi trong trạng thái mệt mỏi rã rời. Thế nhưng, thái độ đón tiếp của mọi người chẳng mấy nồng nhiệt cho lắm, nguyên do là vì cậu chưa tìm lại được tòa lâu đài bị đánh cắp; tồi tệ hơn nữa, cậu còn vô cùng hụt hẫng khi không được gặp người vợ trẻ xinh đẹp ra đón mình do bị cha mẹ nàng ngăn cản. Dù vậy, tình trạng ấy chẳng kéo dài lâu. Jack dồn hết tâm sức, lập tức phái đám người tí hon quay đi lấy lại tòa lâu đài, và chẳng mấy chốc họ đã mang nó trở về.
Jack bắt tay từ biệt nhà vua, gửi ngàn lời cảm ơn chân thành vì lòng nhân hậu vương giả đã trông nom tòa lâu đài giúp cậu. Sau đó, cậu chỉ đạo đám người tí hon quất ngựa phóng thật nhanh. Họ chẳng mất bao lâu để về đến đích, nơi người vợ trẻ đang tươi cười chờ sẵn để đón cậu cùng với một cậu con trai kháu khỉnh, bụ bẫm; và từ đó họ sống hạnh phúc bên nhau mãi mãi về sau.