Tôi lên đường đi Sussex — tham khảo ý kiến bà Sagely — gặp gỡ Narcissa — trở lại tàu — chúng tôi rời khỏi vùng biển Channel — tôi biết được điểm đến của mình — chúng tôi bị một con tàu lớn truy đuổi — thủy thủ đoàn hoảng sợ, nhưng được lời dã từ của thuyền trưởng động viên — kẻ bám theo hóa ra là một chiến thuyền Anh — chúng tôi đến bờ biển Guinea, mua bốn trăm nô lệ — giương buồm đến Paraguay, cập bến an toàn tại sông Plate, và bán hàng đạt lợi nhuận lớn.
Chính lúc này, tôi bắt tay thực hiện kế hoạch đã ấp ủ từ London. Tôi xin phép thuyền trưởng cho Strap và tôi ở lại trên bờ cho đến khi có gió thuận lợi. Thỉnh cầu của tôi được chấp thuận, bởi vì ông có lệnh ở lại vùng biển Downs cho đến khi nhận được một số công văn từ London mà ông dự tính phải mất ít nhất một tuần mới tới. Sau khi truyền đạt quyết định của mình cho anh quản gia trung thành — người dù cố gắng khuyên can tôi từ bỏ một việc làm liều lĩnh như vậy nhưng vẫn không chịu rời bỏ tôi trong chuyến phiêu lưu này — tôi thuê ngựa và lập tức lên đường hướng tới vùng Sussex nơi người thương của tôi đang bị giam lỏng, cách Deal, nơi chúng tôi khởi hành, chưa đầy ba dặm. Vì nắm rõ địa bàn và tầm ảnh hưởng của vị địa chủ, tôi dừng chân cách trang viên của ông ta chừng năm dặm. Chúng tôi nán lại ở đó cho đến khi trời chập tối thì tiếp tục lên đường, nhờ có màn đêm che chở nên đã tới được một khu rừng thưa cách ngôi làng nơi bà Sagely sinh sống chừng nửa dặm. Tại đây, chúng tôi buộc ngựa vào một gốc cây rồi đi thẳng đến nhà người ân nhân cũ. Suốt dọc đường, Strap run lẩy bẩy, liên tục cầu nguyện trời Phật phù hộ cho sự an nguy của chúng tôi. Ngôi nhà của bà nằm ở nơi hoang vắng, nên chúng tôi tới cửa mà không bị ai phát hiện. Tôi ra lệnh cho người bạn đồng hành tự mình bước vào; nếu có ai ở cùng bà, hãy đưa bức thư tôi đã viết sẵn cho mục đích đó, đồng thời nói rằng một người quen của bà ở London, hay tin anh ta có việc đi ngang qua đây, đã gửi gắm nó cho anh. Anh gõ cửa, và người phụ nữ phúc hậu bước ra bảo rằng vì là phụ nữ sống độc thân, mong anh thông cảm vì bà không thể mở cửa cho đến khi anh xưng tên và nêu rõ mục đích. Strap đáp rằng tên tuổi của mình xa lạ với bà, còn mục đích là để trao một bức thư — và để bà hoàn toàn yên tâm, anh sẽ đút nó qua khe hở giữa cửa và ngưỡng cửa. Anh làm đúng như vậy ngay lập tức. Đọc xong nội dung bức thư nhắc đến sự hiện diện của tôi, bà liền kêu lên: “Nếu người viết bức thư này đang ở gần đây, hãy lên tiếng để tôi nghe giọng nói mà biết chắc có nên mở cửa đón cậu ấy hay không.” Tôi liền áp miệng vào ổ khóa và cất giọng: “Thưa u, u không phải sợ đâu, con đây, người mang nặng ơn nghĩa của u, nay xin được vào nhà.” Nhận ra giọng tôi, bà lập tức mở cửa và đón tôi với tình thương mến chân thành như mẹ ruột. Những giọt nước mắt tuôn rơi đã bày tỏ nỗi lo sợ của bà rằng tôi có thể bị phát hiện, bởi vì bà đã nghe chính miệng vị nữ tù nhân tội nghiệp kể lại mọi chuyện diễn ra giữa Narcissa và tôi.
Khi tôi giãi bày mục đích chuyến đi của mình — không gì khác ngoài mong muốn được gặp gỡ bóng hồng của lòng tôi trước khi rời khỏi xứ sở, để tận tai giãi bày cho nàng hiểu sự bất đắc dĩ buộc tôi phải rời xa, xoa dịu nỗi đau của nàng bằng cách vẽ ra những triển vọng tốt đẹp chắc chắn sẽ chờ đón, lặp lại những lời thề thủy chung son sắt, và tận hưởng niềm hạnh phúc đượm buồn của cái ôm từ biệt đầy lưu luyến — vâng, khi tôi bày tỏ ý định đó, bà Sagely liền cho biết rằng kể từ khi trở về từ Bath, Narcissa bị canh chừng nghiêm ngặt đến mức không ai được diện kiến nàng ngoại trừ một hoặc hai tên gia nhân trung thành với người anh trai. Về sau, nàng được nới lỏng đôi chút và cho phép tiếp khách; trong khoảng thời gian thoải mái đó, nàng đã vài lần đến thăm ngôi nhà tranh. Nhưng gần đây, nàng đã bị phản bội bởi một tên gia nhân. Tên này đã thú nhận với vị địa chủ rằng hắn từng chuyển một bức thư từ nàng tới bưu điện gửi cho tôi. Nhận được tin báo ấy, gã anh trai nay lại giam lỏng nàng cẩn mật hơn bao giờ hết. Bà bảo tôi hoàn toàn không có cơ hội gặp nàng, trừ phi tôi dám liều lĩnh đột nhập vào khu vườn — nơi nàng và cô hầu gái hít thở không khí trong lành mỗi ngày — rồi ẩn nấp ở đó cho đến khi có cơ hội chuyện trò với họ. Đó là một mạo hiểm nguy hiểm đến mức không kẻ nào tỉnh táo lại dám làm. Bất chấp những lời biện minh, quở trách rồi lại nài nỉ của bà Sagely, cùng những giọt nước mắt và lời khẩn cầu của Strap — kẻ quỳ sụp xuống van xin tôi hãy nghĩ cho bản thân và cho cả cậu ta, chớ nên tự sát một cách dại dột như vậy — tôi vẫn quyết tâm thực hiện chuyến phiêu lưu đầy hiểm nguy này. Tôi phớt lờ mọi lời khuyên can, chỉ nghe theo tiếng gọi của tình yêu. Tôi ra lệnh cho Strap tức tốc quay lại quán trọ cùng bầy ngựa và chờ tôi ở đó. Ban đầu, cậu ta cương quyết từ chối rời đi, cho đến khi tôi thuyết phục rằng nếu ngựa cứ đứng đó đến sáng bạch, thể nào chúng cũng bị phát hiện và làm rùm beng cả vùng. Nghe vậy, Strap đành ngậm ngùi từ biệt, hôn tay tôi và nghẹn ngào khóc nức nở: “Chúa mới biết liệu con còn được gặp lại ngài hay không.” Thấy tôi cứng đầu, bà chủ nhà tốt bụng đành truyền đạt cho tôi những kinh nghiệm quý báu để hành động cho trót lọt. Sau khi ép tôi ăn uống chút ít để lấy sức, bà sắp xếp cho tôi một chiếc giường rồi để tôi nghỉ ngơi.
Sáng sớm tinh mơ, tôi thức dậy, dắt theo hai khẩu súng ngắn đã lên đạn cùng một thanh đoản kiếm, rồi tiến ra phía sau khu vườn của vị địa chủ. Tôi trèo qua bức tường và, theo đúng chỉ dẫn của bà Sagely, ẩn mình vào một lùm cây rậm rạp nằm ngay sát vọng lâu kết thúc lối đi — nơi cách xa ngôi nhà và (như tôi được biết) người tình của tôi rất hay lui tới. Tại đây, tôi trốn kỹ từ năm giờ sáng cho đến sáu giờ chiều mà chẳng thấy bóng dáng con người nào. Cuối cùng, tôi nhìn thấy hai người phụ nữ đang tiến lại gần. Chỉ qua nhịp đập rộn ràng của lữ khách trong lức ngực, tôi lập tức nhận ra đó là nàng Narcissa đáng yêu và cô Williams. Trái tim tôi thổn thức khôn tả khi trông thấy họ. Đoán rằng họ sẽ nghỉ chân ở vọng lâu, tôi lặng lẽ bước vào đó mà không bị phát hiện, rồi đặt lên chiếc bàn đá bức chân dung thu nhỏ của chính mình — bức họa tôi đã từng ngồi làm mẫu ở London — với ý định để lại nó cho Narcissa trước khi lên đường ra nước ngoài. Tôi bày nó ra như một cách dạo đầu trước khi xuất hiện, bởi tôi sợ rằng nếu đường đột lộ diện, điều đó có thể gây ảnh hưởng xấu đến thần kinh vốn mong manh của nàng thơ trói buộc trái tim tôi. Sau đó, tôi rút lui về lùm cây để có thể lắng nghe câu chuyện của họ và tùy cơ ứng biến. Khi họ tiến lại gần, tôi nhận thấy thoáng nét u sầu trên gương mặt Narcissa, quyện lẫn với vẻ ngọt ngào khôn tả khiến tôi suýt không kìm được lòng mình, chỉ muốn lao ngay vào vòng tay nàng và hôn cạn những giọt lệ ngọc ngà đang đọng lại trên hàng mi quyến rũ. Đúng như tôi dự đoán, nàng bước vào vọng lâu và trông thấy vật lạ trên bàn liền cầm lên. Vừa chạm mắt vào những đường nét ấy, nàng giật mình thốt lên: “Lạy Chúa!” và sắc hồng lập tức bay biến khỏi đôi gò má. Người tâm phúc của nàng hoảng hốt trước tiếng kêu ấy, liền nhìn vào bức tranh và cũng phải sững sờ trước độ giống nhau đến kỳ lạ, liền kêu lên: “Giê-su! Đúng là những đường nét của ngài Random rồi!” Sau khi trấn tĩnh lại đôi chút, Narcissa cất lời: “Dù vị thiên thần nào đã mang nó đến đây để an ủi ta trong chốn đoạn trường này, ta vẫn vô cùng cảm kích ơn huệ ấy và sẽ nâng niu nó như báu vật quý giá nhất.” Nói đoạn, nàng đặt lên bức tranh những nụ hôn với niềm say mê đến kỳ lạ, tuôn rơi dòng lệ xót xa rồi áp bức ảnh vô tri ấy vào lồng ngực ngọc ngà. Quá đỗi hạnh phúc trước những biểu hiện tình cảm không đổi thay ấy, tôi toan lao ra sụp lạy dưới chân nàng thì cô Williams — người giữ được sự bình tĩnh hơn cô chủ — nhận ra rằng bức tranh không thể tự bay đến đây được, và cô ngầm đoán chắc tôi đang ở gần đây. Nàng Narcissa hiền dịu giật mình trước phỏng đoán ấy liền đáp: “Trời Phật phù hộ! Dù không gì trên đời này có thể mang lại cho ta niềm hạnh phúc lớn lao bằng sự hiện diện của chàng dẫu chỉ trong khoảnh khắc ngắn ngủi ở một nơi chốn đàng hoàng, ta thà chịu mất đi cơ hội gặp chàng — gần như là mãi mãi — còn hơn là thấy chàng ở đây, nơi tính mạng chàng sẽ bị đe dọa bởi biết bao hiểm nguy.” Tôi không thể kìm nén thêm sức mạnh của tình yêu nữa, liền bước ra khỏi chỗ ẩn nấp và đứng sững trước mặt nàng. Nàng thét lên một tiếng kinh hoàng rồi ngất lẹm đi trong vòng tay của người bạn đồng hành. Tôi lao về phía kho báu của đời mình, ôm chầm lấy nàng và dùng sự ấm áp từ những nụ hôn để gọi nàng tỉnh lại.
Ước gì tôi có được nét cọ của một bậc thầy như Raphael, vẻ duyên dáng của Guido, hay những nét chạm trổ thần kỳ của Titian, để có thể khắc họa trọn vẹn nỗi lo âu trìu mến, niềm hạnh phúc thuần khiết và thẹn thùng e ấp đan xen trên gương mặt kiều diễm của nàng, khi nàng mở mắt nhìn tôi và thốt lên: “Ôi trời đất ơi, có phải chàng đấy không?” Tôi e rằng mình đã quá lạm dụng sự kiên nhẫn của độc giả khi kể lể chi tiết về mối tình này — điều mà (tôi phải thú nhận) tôi không tài nào kìm được sự dài dòng không đúng lúc. Do đó, tôi xin phép được lược bỏ những phân đoạn ít quan trọng hơn trong cuộc gặp gỡ này. Trong khoảng thời gian đó, tôi đã thuyết phục được lý trí của nàng — dẫu không thể xoa dịu những điềm gở buồn đau trong tình yêu của nàng — về chuyến hải trình dài ngày và những hiểm nguy tôi buộc phải đối mặt. Khi chúng tôi đã dành trọn một tiếng đồng hồ ít ỏi (đó là khoảng thời gian duy nhất nàng có thể chắt chiu dưới sự soi mói tàn nhẫn của người anh trai) để khóc thương cho số phận éo le và thề non hẹn biển, cô Williams nhắc nhở chúng tôi rằng đã đến lúc phải chia tay. Quả thực, chưa từng có đôi uyên ương nào phải rời xa nhau trong nỗi buồn đau và bịn rịn đến thế. Nhưng vì ngôn từ bất lực trong việc tái hiện khoảnh khắc đầy xúc động ấy, tôi đành buông màn che lại và kể tiếp rằng: tôi quay trở lại ngôi nhà của bà Sagely trong đêm tối. Bà vô cùng mừng rỡ khi nghe tin tôi thành công, và dùng những lẽ phải đầy sức nặng để trấn an tâm can đang bời bời tang tóc của tôi, giúp tâm hồn tôi lấy lại phần nào sự bình yên. Ngay đêm hôm đó, sau khi nhét vào tay người phụ nữ tốt bụng chiếc túi đựng hai mươi đồng guinea như một lời tri ân sâu sắc, tôi từ biệt bà và đi bộ ra quán trọ, nơi sự xuất hiện của tôi đã giải thoát cho anh Strap tội nghiệp khỏi nỗi kinh hoàng không tên.
Chúng tôi lập tức lên ngựa và rẽ vào Deal sáng sớm hôm sau. Tại đây, tôi thấy người cậu của mình đang vô cùng lo lắng vì sự vắng mặt của tôi, bởi ông đã nhận được công văn và bắt buộc phải nhổ neo ngay khi có ngọn gió thuận đầu tiên, dù tôi có kịp lên tàu hay không. Ngày hôm sau, một cơn gió đông bắc thổi lộng lên, chúng tôi liền giương buồm và chỉ sau bốn mươi tám tiếng đã vượt qua khỏi eo biển Channel.
Khi chúng tôi đã trôi dạt về phía tây Land’s End chừng hai trăm hải lý, viên thuyền trưởng kéo riêng tôi vào phòng lái và thông báo rằng, giờ đây khi các chỉ thị đã cho phép, ông sẽ tiết lộ mục đích và điểm đến của chuyến hải trình. “Con tàu này,” ông nói, “được đầu tư với chi phí khổng lồ, đang trên đường đến bờ biển Guinea. Tại đó, chúng ta sẽ đổi một phần hàng hóa lấy nô lệ và vàng cám, rồi từ đây vận chuyển đám người da đen tới Buenos Aires ở vùng New Spain. Nhờ có hộ chiếu do chính triều đình chúng ta và triều đình Madrid cấp, chúng ta sẽ bán đứt họ cùng số hàng hóa còn lại trên tàu để lấy bạc, thông qua tay viên quản lý hàng hóa — người am hiểu tường tận về bờ biển, ngôn ngữ bản địa và cư dân nơi đây.” Được bật mí về bí mật của chuyến thám hiểm, tôi liền mượn vị quản lý một cuốn ngữ pháp tiếng Tây Ban Nha, từ điển và một vài cuốn sách bằng ngôn ngữ đó. Tôi chăm chú học hành đến mức trước khi đặt chân tới New Spain, tôi đã có thể trò chuyện trôi chảy với ông ta bằng thứ tiếng này. Khi tiến vào vùng biển ấm, với sự đồng ý của thuyền trưởng, tôi ra lệnh cho toàn bộ thủy thủ đoàn phải trích máu và uống thuốc tẩy độc, bản thân tôi cũng trải qua quy trình thanh tẩy tương tự nhằm ngăn ngừa những cơn sốt hiểm nghèo mà người miền bắc thường dễ mắc phải khi đến vùng khí hậu nhiệt đới. Tôi có lý do để tin rằng sự cẩn trọng này không hề thừa thãi, bởi suốt dọc hành trình đến bờ biển, chúng tôi chỉ mất duy nhất một người thủy thủ.
Một ngày nọ, khi chúng tôi đã lênh đênh trên biển khoảng năm tuần, từ phía đón gió, chúng tôi nhìn thấy một con tàu lớn đang lao thẳng về phía mình với tất cả buồm căng phồng. Ngay lập tức, cậu tôi ra lệnh kéo thêm buồm phụ và dọn dẹp tàu sẵn sàng chiến đấu. Nhưng khi nhận ra rằng — mượn theo cách nói của dân hải hồ — chúng tôi đang bị con tàu bám đuổi kia bỏ xa (lúc này chúng đã kéo cờ Pháp), ông liền hạ lệnh thu buồm phụ, cuộn các cánh buồm chính lại, thả neo hãm cho đỉnh buồm chính đón gió, tháo nắp đậy các cỗ đại bác và yêu cầu mọi người túc trực ở vị trí chiến đấu. Trong lúc ai nấy đang tất bật tuân lệnh, Strap bước lên boong tàu chính với dáng vẻ run rẩy, mặt cắt không còn giọt máu. Bằng giọng nói nghẹn ngào vì sợ hãi, cậu ta hỏi tôi liệu có nghĩ chúng tôi là đối thủ xứng tầm của con tàu đang bám riết kia không. Nhận thấy sự hoảng loạn của cậu ta, tôi trêu: “Sao thế, anh sợ à?”
“Sợ ư! (cậu ta đáp); k-k-không; có gì mà phải sợ chứ? Cảm tạ Chúa, tôi có một tâm hồn thanh thảng; nhưng tôi tin rằng đây sẽ là một trận chiến đẫm máu, và tôi chỉ mong ngài không phải cần thêm một người phụ tay dưới khoang cứu thương.”
Tôi lập tức hiểu ý đồ của cậu ta, liền thông báo tình hình cho thuyền trưởng và xin cho cậu ta được xuống dưới khoang cùng tôi và các trợ lý. Vị thuyền trưởng tức giận trước sự hèn nhát của Strap, liền quát tôi tống cổ cậu ta xuống ngay lập tức để nỗi sợ không làm lây nhiễm sang các thủy thủ khác. Nghe vậy, tôi quay sang bảo viên quản gia tội nghiệp rằng tôi đã xin cho cậu ta làm trợ lý của mình, đồng thời giục cậu ta xuống dưới chuẩn bị dụng cụ và băng gạc cùng các cộng sự của tôi. Dù chắc hẳn phải thấy nhẹ nhõm trước tin đó, cậu ta vẫn làm cao, bày điều e dè không muốn rời boong trên. Cậu ta bảo rằng hy vọng tôi không nghĩ cậu ta sợ phải làm nhiệm vụ ở trên mặt boong, bởi vì cậu ta tin bản thân đã chuẩn bị sẵn sàng cho cái chết chẳng kém gì bất kỳ ai trên tàu này, nói thế không có ý mạo phạm gì tôi hay thuyền trưởng. Tôi cảm thấy ghê tởm cái điệu bộ giả dối này, và để trừng phạt sự giả trỏ của cậu ta, tôi quả quyết bảo rằng cậu ta có quyền lựa chọn: hoặc xuống khoang cứu thương với tôi, hoặc cứ đứng trên boong trong suốt trận chiến. Hoảng hốt trước thái độ dửng dưng ấy, cậu ta đáp: “Thôi được, chiều ý ngài, tôi xuống vậy, nhưng nhớ cho là vì ngài nhiều hơn là vì bản thân tôi đấy nhé.” Dứt lời, cậu ta biến mất tăm trong chớp mắt mà chẳng đợi tôi đáp lời.
Lúc này, chúng tôi đã có thể nhìn thấy hai tầng đại bác trên con tàu đang săn đuổi mình, giờ đây chỉ còn cách đuôi tàu chúng ta chưa đầy hai dặm ngắn ngủi. Phát hiện này tác động rõ rệt đến các thủy thủ. Họ không ngần ngại bàn tán rằng chúng ta sẽ bị xé xác và thổi bay tung tóe khỏi mặt nước, và nếu chẳng may có ai mất đi tay chân quý giá của mình, họ sẽ phải đi ăn mày sống qua ngày, bởi chẳng có chút phúc lợi nào từ các thương nhân dành cho những kẻ bất hạnh tàn phế vì phục vụ họ. Nghe thấy vậy, thuyền trưởng liền triệu tập toàn bộ thủy thủ về phía đuôi tàu và dõng dạc tuyên bố: “Này các chàng trai, ta nghe nói các chú đang chùn bước. Ta đã bôn ba trên biển ba mươi năm nay, từ thủa để chỏm đến giờ, chưa từng thấy thủy thủ Anh nào biết sợ là gì. Có lẽ các chú nghĩ ta muốn đẩy các chú vào hiểm nguy chỉ vì lòng tham ích kỷ. Kẻ nào nghĩ thế thì đích thị là quân ăn gian nói dối khốn nạn, bởi toàn bộ hàng hóa của ta đều đã được bảo hiểm; thế nên dẫu có bị bắt đi chăng nữa, tổn thất của ta cũng chẳng đáng là bao. Kẻ thù mạnh hơn chúng ta, điều đó là cái chắc. Nhưng thì sao chứ? Chẳng lẽ chúng ta không có cơ hội bắn gãy một chiếc cột buồm của chúng để tẩu thoát hay sao? Nếu thấy đối thủ quá tầm, thì cùng lắm là hạ cờ đầu hàng ở phút chót. Nếu có ai bị thương trong trận chiến, ta xin lấy danh dự của một người thủy thủ chân chính mà hứa sẽ đền bù thỏa đáng theo mức độ tổn thất. Thôi được rồi, bây giờ đứa nào lười biếng, nhát gan, hèn nhát thì xéo ngay xuống hầm tàu và kho lương thực mà trốn; còn đứa nào là trang hảo hán, hãy đứng sát bên ta và nã cho chúng một loạt đại bác toàn lực để giữ gìn danh dự cho Nước Anh Muôn Năm!” Bài diễn văn đầy hùng biện ấy hoàn toàn phù hợp với tâm can của những người nghe. Đồng loạt, tất cả thảy đều cất mũ, vung cao trên đầu và tung hô ba hò reo vang dội. Vừa dứt lời, ông liền sai cậu thủy thủ vặt đi lấy hai chai rượu mạnh cỡ lớn. Sau khi mỗi người được thết đãi một ly, họ nhanh chóng trở về vị trí chiến đấu và kiên nhẫn chờ đợi hiệu lệnh tiếp theo.
Tôi phải công bằng mà ca ngợi người cậu của mình rằng, trong suốt quá trình chuẩn bị chiến đấu, ông đã thể hiện sự dũng cảm tột bậc, cùng phong thái chỉ huy điềm tĩnh và vô cùng cẩn trọng. Khi kẻ thù đã áp sát, ông ra lệnh cho tôi về vị trí, và vừa toan hô khẩu lệnh giương cờ cùng khai hỏa, thì chiếc chiến thuyền vốn tưởng là người Pháp bỗng hạ cờ hiệu trắng, cờ đuôi nheo và cờ hiệu chính xuống, rồi kéo cờ Anh lên và bắn một phát đại bác vượt qua mũi tàu chúng tôi. Đó là một khoảnh khắc vô cùng vui mừng đối với Thuyền trưởng Bowling. Ông lập tức cho giương cờ của mình lên và bắn một phát đại bác hướng về phía hạ phong. Ngay lập tức, con tàu kia áp sát mạn tàu chúng tôi, hô lớn thông báo rằng họ là một chiến thuyền Anh mang bốn mươi khẩu đại bác, đồng thời ra lệnh cho ông hạ xuồng chèo sang tàu họ. Mệnh lệnh này được ông tuân thủ với tinh thần hăng hái hơn hẳn, bởi sau khi dò la, ông phát hiện ra tàu đối phương do một người bạn cũ từng chung tàu chỉ huy. Vị thuyền trưởng kia vô cùng mừng rỡ khi gặp lại ông, giữ ông lại ăn trưa và gửi xà-lúp sang đón quản lý hàng hóa cùng tôi — những người cũng được săn đón nồng nhiệt nhờ uy tín của ông. Do vị chỉ huy này được giao nhiệm vụ tuần tra chống lại người Pháp ở vùng vĩ tuyến Martinico, phần mũi và đuôi tàu của ông được trang trí những bông hoa huệ trắng tinh khôi, toàn bộ lớp vỏ tàu bị ngụy trang khéo léo để làm mồi nhử kẻ thù. Thảo nào cậu tôi không thể nhận ra nó, dù ông từng phục vụ trên con tàu ấy ròng rã nhiều năm trời. Chúng tôi đồng hành cùng chiến thuyền đó bốn ngày — khoảng thời gian hai vị thuyền trưởng không hề rời nhau nửa bước — rồi mới chia tay bởi hướng đi của hai bên khác nhau.
Chưa đầy hai tuần sau khi tách đoàn, chúng tôi đã nhìn thấy vùng đất Guinea, gần cửa sông Gambia. Vừa buôn bán dọc bờ biển xuống tận phía nam đường Xích đạo đến Angola và Bengula, chúng tôi chỉ mất chưa đầy sáu tháng để tẩu tán phần lớn hàng hóa và tậu về bốn số lượng nô lệ lên tới bốn trăm người, riêng phần vốn của tôi được quy đổi trọn vẹn thành vàng cám.
Khi đã gom đủ biên chế, chúng tôi rời mũi Negroe và cập bến Rio de la Plata sau sáu tuần hải trình. Chuyến đi không gặp phải sự kiện gì đáng chú ý, ngoại trừ một trận dịch sốt hoành hành — trông khá giống căn bệnh phát ban trong ngục tối — bùng phát giữa đám nô lệ và cướp đi sinh mạng của kha khá thủy thủ trên tàu, trong đó có một trợ lý của tôi, và anh Strap tội nghiệp cũng suýt chầu Diêm Vương. Sau khi xuất trình giấy thông hành cho viên thống đốc người Tây Ban Nha, chúng tôi được đón tiếp vô cùng niềm nở. Chỉ trong vài ngày ngắn ngủi, chúng tôi đã bán sạch số nô lệ — thậm chí nếu có gấp năm lần số đó với giá tự thét thì chúng tôi cũng bán hết veo — dẫu rằng chúng tôi vẫn phải buôn lậu số hàng hóa còn lại bao gồm các kiện hàng dệt may châu Âu, nhưng dẫu sao chúng tôi cũng khéo léo tẩu tán được với mức lợi nhuận khổng lồ.