Tôi kết thân với vị bác sĩ phẫu thuật, người đã lo giấy bổ nhiệm và tặng tôi một bộ quần áo – Trận ẩu đả giữa một sĩ quan tập sự và tôi – Vị bác sĩ rời tàu – Thuyền trưởng lên tàu cùng một vị bác sĩ khác – Cuộc đối thoại giữa thuyền trưởng và Morgan – Lệnh đưa thương bệnh binh lên boong sau để kiểm tra – Hậu quả của lệnh đó – Một kẻ điên cáo buộc Morgan và được thuyền trưởng phóng thích, y liền lao vào tấn công và nện cho thuyền trưởng một trận tơi bời.
Trong lúc tôi đang cùng bạn mình luyện tập, viên bác sĩ tình cờ đi ngang qua nơi chúng tôi ở, dừng lại quan sát và tỏ ra rất hài lòng với sự chuyên cần của tôi. Sau đó, ông cho gọi tôi vào phòng riêng, gặng hỏi về tay nghề phẫu thuật cũng như hoàn cảnh của tôi, rồi tỏ ra quan tâm đến mức hứa sẽ giúp tôi xin một suất sĩ quan dự khuyết. Ông biết tôi đã vượt qua kỳ sát hạch tại Phường hội Bác sĩ Phẫu thuật để đảm nhận chức vụ trên tàu, nên càng nhiệt tình giúp đỡ hơn khi hay tin tôi là cháu của Trung úy Bowling, người mà ông dành cho sự quý mến đặc biệt. Qua lời trò chuyện của ông, tôi cũng láng máng hiểu ra rằng ông không có ý định tiếp tục ra khơi cùng Thuyền trưởng Oakum, vì cho rằng mình đã bị đối xử tệ bạc trong chuyến hải trình vừa qua.
Dù sống tương đối thoải mái trong lúc chờ đợi được thăng chức, tôi vẫn không tránh khỏi những nỗi bực dọc. Tôi không chỉ phải chịu đựng những lời lăng mạ thô lỗ từ các thủy thủ và sĩ quan cấp dưới — những kẻ gọi tôi bằng cái tên Loblolly Boy —, mà còn từ tính khí của Morgan. Dù bản chất thân thiện, ông lại hay gây phiền toái bởi lòng tự ái cao ngất, luôn đòi hỏi tôi phải phục dịch và rất thích nhắc đi nhắc lại những ân huệ ông từng ban cho tôi.
Khoảng sáu tuần sau khi tôi lên tàu, vị bác sĩ bảo tôi theo ông vào phòng riêng và trao cho tôi tờ quyết định bổ nhiệm làm phẫu thuật viên phó bậc ba trên chiến thuyền Thunder. Ông đã xin được chức vụ này nhờ thế lực của mình tại Ty Hải quân, đồng thời cũng lo được một suất chuyển công tác sang một chiến hạm hạng hai cho chính ông. Tôi hết lời bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất, đồng thời thể hiện sự tiếc nuối khi phải chia tay một người bạn quý giá — người mà tôi hằng mong sẽ tiếp tục lấy được lòng tin bằng thái độ kính trọng và siêng năng của mình. Nhưng sự hào phóng của ông không dừng lại ở đó; trước khi rời tàu, ông còn tặng tôi một chiếc rương và vài bộ quần áo, giúp tôi đủ tư diên để giữ vững cấp bậc mà ông vừa ban cho.
Tinh thần tôi bỗng phơi phới trở lại cùng vận may; và giờ đây, khi đã là một sĩ quan, tôi quyết tâm bảo vệ phẩm giá của chức vụ trước mọi sự chống đối hay lăng nhục. Chẳng mất bao lâu để tôi có cơ hội chứng tỏ quyết tâm ấy. Kẻ thù cũ của tôi, tên sĩ quan tập sự tên là Crampley, vẫn nuôi mối thù không đội trời chung vì sự bẽ mặt hắn từng gánh chịu tại hại của tôi. Từ dạo ấy, hắn luôn chớp lấy mọi cơ hội để bêu rếu và chế giễu tôi mỗi khi tôi không có quyền đáp trả; thậm chí ngay cả sau khi tên tuổi tôi đã được ghi vào sổ sách và chính thức điểm danh với tư cách là phẫu thuật viên phó, hắn vẫn chứng nào tật nấy, không chịu kiềm chế sự hỗn xược của mình. Có lần, khi tôi đang băng bó vết thương ở chân cho một thủy thủ, hắn liền cất giọng hát một bài hát mà tôi cho là xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự của tổ quốc mình. Do đó, tôi đã bày tỏ sự phẫn nộ bằng cách nhận xét rằng người Scotland luôn sẵn sàng đối mặt với sự thù địch từ những kẻ vô học, tầm thường và hiểm độc. Sự xấc láo bất ngờ này khiến hắn tức giận đến mức giáng cho tôi một bạt tai vào mặt, khiến tôi tưởng chừng xương gò má của mình đã gãy nát. Tôi cũng chẳng chậm trễ đáp trả, và sự việc bắt đầu trở nên vô cùng căng thẳng thì tình cờ ông Morgan cùng một sĩ quan hoa tiêu đi ngang qua. Họ đứng ra can thiệp, gặng hỏi nguyên nhân và tìm cách giảng hòa; nhưng khi thấy cả hai chúng tôi đều đã hằn học đến tột cùng và cương quyết không nhượng bộ, họ bèn khuyên chúng tôi hoặc là gác lại mối bất hòa cho đến khi có dịp giải quyết ở trên bờ như những quý ông, hoặc là chọn một địa điểm thích hợp ngay trên tàu để phân định thắng thua bằng một trận quyền anh. Cả hai chúng tôi đều hăng hái chộp lấy phương án sau. Lập tức được dẫn đến bãi đấu đã chọn, chúng tôi cởi trần trong chớp mắt và lao vào một cuộc tỉ thí dữ dội. Chẳng mấy chốc, tôi nhận ra mình lép vế trước đối thủ, không hẳn vì thua kém về sức mạnh hay sự nhanh nhẹn, mà vì kỹ năng — thứ mà hắn đã rèn giũa từ trường đấu Hockley-in-the-Hole tại Tottenham-court. Tôi hứng chịu không biết bao nhiêu cú quật hông và những đòn nhồi tử vị vào bụng, cho đến khi hơi thở cạn kiệt và sức lực hầu như khô cạn. Trong cơn tuyệt vọng, tôi dồn toàn lực vào một đòn quyết định, lao cả đầu, tay và chân vào đối thủ với lực mạnh đến mức đẩy lùi hắn ba bước ngã ngửa xuống miệng hầm tàu chính. Hắn cắm đầu và vai phải xuống trước, nằm bất động chẳng còn biết trời đất là gì. Morgan cúi xuống nhìn tình cảnh của hắn, liền kêu lên: “Thề có lương tâm của một tội nhân theo đạo Thiên Chúa, (nhìn đây này,) ta tin là những trận đòn của hắn đã tiêu đời rồi; nhưng ta xin tất cả các cậu làm chứng rằng không có chuyện chơi xấu ở đây, và hắn phải chịu tai bay vạ gió thôi.” Nói rồi, ông bước xuống boong dưới để kiểm tra tình trạng của đối thủ tôi. Về phần mình, chiến thắng chẳng mang lại cho tôi chút vui sướng nào, bởi tôi không chỉ bị thâm tím khắp người mà còn đứng trước nguy cơ phải chịu trách nhiệm cho cái chết của Crampley. Tuy nhiên, nỗi sợ ấy nhanh chóng tan biến khi người đồng nghiệp của tôi — sau khi trích huyết tĩnh mạch cổ để cứu hắn tỉnh lại và kiểm tra tình trạng cơ thể — liền gọi lớn bảo tôi cứ yên tâm, bởi tên sĩ quan tập sự chẳng bị tổn hại gì ngoài một cú trật khớp xương bả vai đẹp mắt nhất mà người ta có thể mong được chứng kiến vào một ngày hè. Nghe thông tin đó, tôi lê bước xuống hầm tàu để báo tin cho Thompson. Cầm theo băng gạc và những dụng cụ cần thiết, anh liền đi lên cùng ông Morgan để nắn lại khớp xương bị trật cho Crampley. Sau khi hoàn tất thành công, họ chúc mừng tôi về kết quả của trận đấu. Vị người Xứ Wales nhận xét rằng rất có thể người Scotland và người Britannia cổ đại vốn là một cội nguồn, rồi bảo tôi hãy “tạ ơn Chúa vì đã phú cho bụng dạ chí khí và chân tay sức mạnh để chống đỡ.” Nhờ trận chiến kéo dài hai mươi phút này, tôi tạo được tiếng vang lớn đến mức mọi người trở nên dè dặt hơn hẳn trong cách đối xử với tôi; mặc dù Crampley, với cánh tay đeo nẹp, vẫn lớn tiếng huênh hoang và đe dọa sẽ chớp lấy cơ hội đầu tiên khi lên bờ để rửa sạch nỗi nhục mà hắn gánh chịu từ một tai nạn chẳng có chút công trạng nào thuộc về tôi.
Khoảng thời gian này, Thuyền trưởng Oakum nhận được lệnh nhổ neo liền lên tàu, mang theo một vị bác sĩ đồng hương. Hắn nhanh chóng khiến chúng tôi thấm thía sự mất mát to lớn khi Bác sĩ Atkins ra đi, bởi vị bác sĩ mới này vừa dốt nát đến cùng cực, vừa ngạo mạn không chịu nổi, lại giả dối, thù hằn và không bao giờ biết tha thứ. Hắn là một tên bạo chúa nhẫn tâm với kẻ dưới nhưng lại là kẻ nịnh hót hèn hạ với người bề trên. Sáng hôm sau ngày thuyền trưởng lên tàu, viên phó thứ nhất của chúng tôi theo lệ thường mang danh sách bệnh nhân đến yết kiến hắn. Khi vị thuyền trưởng cau có ấy liếc qua, hắn liền trợn mắt gầm lên: “Máu với me! Sáu mươi mốt kẻ đau yếu trên tàu của ta ư? Nghe đây, đồ khốn, ta không cho phép có bất kỳ kẻ bệnh tật nào trên con tàu này, thề có Chúa.” Viên người Xứ Wales đáp rằng “ông rất vui nếu chẳng tìm thấy mống bệnh nhân nào trên tàu; nhưng chừng nào tình hình còn như vậy, ông chỉ đang làm trònn bổn phận khi trình danh sách này lên.” Thuyền trưởng liền ném thẳng tờ giấy về phía ông và quát: “Mặc xác anh và cái danh sách khỉ gió của anh đi; ta bảo là không được phép có người bệnh trên con tàu này chừng nào ta còn nắm quyền chỉ huy.” Cảm thấy bị xúc phạm bởi cách cư xử ấy, ông Morgan bảo rằng lẽ ra cơn thịnh nộ của hắn phải trút lên Thượng Đế Toàn Năng — đấng giáng họa bệnh tật xuống con người — chứ không phải trút lên một người đang làm hết sức mình để chữa trị cho họ. Vị bạo chúa vốn chưa từng quen với cách đối xử ngang bàng như thế từ bất kỳ sĩ quan nào liền nổi giận lôi đình trước lời bóng gió châm biếm này. Hắn dậm chân thình thịch, chửi rủa ông là một tên khốn nạn ngạo mạn, và đe dọa sẽ trói quặt tay ông vào boong tàu nếu dám hó hé thêm nửa lời. Nhưng dòng máu sục sôi của Caractacus nào chịu khuất phục trước một mệnh lệnh áp đặt như thế, liền bùng nổ: “Thưa Thuyền trưởng Oakum, tôi là một quý tộc có dòng dõi gia thế (nhìn đây này), và hơn thế nữa...” Tới đây, bài diễn văn của ông bị cắt ngang bởi quản gia của thuyền trưởng. Vốn là đồng hương với Morgan, hắn vội vã kéo ông ra khỏi cabin trước khi ông kịp khiến vị thuyền trưởng thêm lồng lộn; và quả thực điều đó rất dễ xảy ra, bởi người đàn ông Xứ Wales đang hừng hực phẫn nộ suýt nữa không tài nào ngăn lại được, dẫu bạn bè hết lời can ngăn và nài nỉ, cứ đòi quay lại phòng diện kiến để đối chất tay đôi với Thuyền trưởng Oakum. Cuối cùng, ông cũng nguôi giận và quay xuống hầm tàu. Nhìn thấy Thompson và tôi đang bận rộn pha chế thuốc men, ông bảo chúng tôi hãy dẹp công việc sang một bên để mà giải trí, vì thuyền trưởng chỉ bằng một lời nói, uy quyền và mệnh lệnh của mình đã đá văng bệnh tật xuống tận mười tám tầng địa phương rồi, trên tàu từ nay chẳng còn chút dịch bệnh nào nữa. Nói đoạn, ông nốc cạn một ngụm rượu mạnh, thở dài sườn sượt ba lần, thốt lên một lời khấn “Xin Chúa phù hộ cho tim, gan, và phổi của tôi!”, rồi cất giọng hát một khúc ca Xứ Wales với vẻ mặt, giọng điệu và điệu bộ vô cùng nghiêm nghị. Tôi không tài nào hiểu nổi ý nghĩa của hiện tượng kỳ quái này, và nhìn qua nét mặt của Thompson — người lúc ấy đang lắc đầu ngao ngán — tôi biết anh đang nghi ngờ trí óc của tội nghiệp Cadwallader đã có vấn đề. Nhận thấy sự kinh ngạc của chúng tôi, ông bảo sẽ giải thích đầu đuôi, nhưng đồng thời cũng nhắc nhở rằng ông đã sống qua các thời kỳ từ cậu bé, kẻ độc thân, người có gia đình cho đến cảnh góa bụa ngót nghét gần bốn mươi năm, và trong suốt khoảng thời gian ấy chưa từng có một gã nào, dẫu là con nhà ai trên đời này, dám đối xử với ông tồi tệ như Thuyền trưởng Oakum. Sau đó, ông kể lại tường tận cuộc đối thoại giữa hai người đúng như những gì tôi vừa thuật lại. Vừa dứt lời, ông nhận được tin nhắn từ vị bác sĩ yêu cầu mang danh sách bệnh nhân lên boong sau, vì thuyền trưởng ra lệnh tập trung tất cả những người đau yếu ra đó để kiểm tra.
Mệnh lệnh vô nhân đạo này khiến chúng tôi vô cùng bàng hoàng, bởi chúng tôi thừa biết việc đưa một số bệnh nhân lên boong chẳng khác nào đẩy họ vào hiểm họa cận kề cái chết. Song, nhận thức rõ việc phản đối cũng chẳng mang lại kết quả gì, chúng tôi đành lũ lượt kéo nhau lên boong sau để chứng kiến màn điểm danh kỳ quái này. Dọc đường, Morgan lẩm bẩm rằng vị thuyền trưởng sắp sửa cử đi thế giới bên kia một lượng lớn nhân chứng để tố cáo chính hắn. Khi chúng tôi xuất hiện trên boong, thuyền trưởng liền ra lệnh cho vị bác sĩ — người đang đứng khom lưng cung kính bên tay phải hắn — hãy nhìn kỹ “lũ chó chết lười biếng, ăn hại đái nát này, lên tàu chẳng tích sự gì ngoài việc nuốt sạch khẩu phần của nhà vua và bao che cho bọn lười biếng trốn việc.” Viên bác sĩ nhe răng cười hưởng ứng, cầm lấy danh sách và bắt đầu xét bệnh tình của từng người một khi họ lê lết được đến khu vực được chỉ định. Người đầu tiên bước lên chịu sự tra xét là một tội nghiệp vừa khỏi cơn sốt, cơ thể suy kiệt đến mức đứng không vững. Lão Mackshane (đó là tên của vị bác sĩ) sau khi bắt mạch liền lớn tiếng quả quyết rằng hắn khỏe mạnh chẳng kém gì bất kỳ ai trên đời này. Ngay lập tức, thuyền trưởng bàn giao anh ta cho tên phó súy thủy thủ với lệnh phải tẩn cho một trận mười hai roi nhừ tử ngay tại mạn tàu vì tội dám giả vờ đau ốm. Thế nhưng, trước khi hình phạt kịp thi hành, người bất hạnh ấy đã ngã gục xuống boong tàu và suýt bỏ mạng dưới tay kẻ hành hình. Bệnh nhân tiếp theo bước lên đang mắc chứng sốt rét cách nhật, và vì đang trong cơn bình ổn nên chẳng còn triệu chứng bệnh hoạ nào khác ngoài gương mặt tái mét, hốc hác cùng thân hình gầy mòn. Lập tức, hắn được tuyên bố là đủ sức khỏe làm việc và bị đẩy sang chỗ tên phó súy; nhưng để chứng minh sự sai lầm của lão bác sĩ, ngay hôm sau, vào đúng cơn sốt lạnh, hắn đã trút hơi thở cuối cùng ngay trên bệ pháo trước. Người thứ ba phàn nàn về chứng đau nhói màng phổi và ho ra máu, và để đáp lại, Bác sĩ Mackshane liền kê đơn cho anh ta tập thể dục bên máy bơm nước để kích thích việc tống đờm! Chẳng biết phương pháp này vốn không phù hợp với tình trạng của một người bệnh hay đã bị ép tập quá sức, chỉ biết rằng chưa đầy nửa giờ sau, anh ta đã bị ngộp thở trong dòng máu tuôn xối xả từ phổi. Người thứ tư với bao nỗi nhọc nhằn mới leo nổi lên boong sau, trên người mang khối cổ trướng — bệnh thủy thũng — khổng lồ chèn ép đến mức phổi ngực nghẹt thở, chẳng thể hít nổi lấy một hơi. Thế nhưng, căn bệnh của anh ta lại bị phán thành thói phì nà do lười nhác và ăn uống quá độ; vì thế, để kích thích đổ mồ hôi và mở rộng lồng ngực, hắn bị ra lệnh phải leo lên giàn buồm ngay lập tức. Tiếng nài nỉ vô vọng của gã khốn khổ mang thân hình nặng nề ấy nào có ích gì; tên roi da của thủy thủ đoàn được lệnh quất túi bụi bằng roi chín sợi. Đòn roi đau điếng khiến anh ta phải trổ hết sức bình sinh, quả nhiên leo được đến phần dây chằng buồm; nhưng khi đôi tay suy yếu không còn gánh nổi trọng lượng quá khổ của cơ thể, hoặc vì phẫn uất, hoặc do túng thế, anh ta đành buông tay rơiỏm xuống biển. Hắn chắc chắn đã phải bỏ mạng dưới lòng đại dương nếu không có một thủy thủ ở chiếc xuồng bên mạn tàu kịp thời nhảy xuống giữ cho nổi phơi phới cho đến khi được cẩu ngược lên tàu bằng ròng rọc.
Thật tẻ nhạt và chán ngán làm sao khi phải mô tả số phận của từng sinh linh khốn khổ phải chịu đựng sự tàn nhẫn và dốt nát của viên thuyền trưởng cùng lão bác sĩ — những kẻ nhẫn tâm đem mạng sống của đồng loại ra làm trò đùa. Nhiều người bị lôi lên khi cơn sốt đang hoành hành đỉnh điểm, để rồi hóa điên dại vì những cú hành hạ dọc đường. Có kẻ trút hơi thở cuối cùng ngay trước mặt những kẻ kiểm tra; có kẻ khác, dẫu bị bắt ép quay lại làm việc, cũng chỉ lết thết lê lết vài ngày giữa đám đồng nghiệp rồi lặng lẽ ra đi chẳng một nghi thức. Rốt cuộc, số lượng bệnh nhân bị gọt giũa giảm xuống còn chưa đầy một tá; và những kẻ gây ra cảnh tàn sát ấy đang tự vỗ tay tán thưởng công trạng của mình đối với nhà vua và đất nước, thì tên phó súy thủy thủ đến báo cáo với ngài thuyền trưởng rằng có một gã đàn ông đang bị trói giật cánh khuỷu vào võng dưới hầm tàu theo chỉ đạo của phụ tá bác sĩ, và hắn đang van xin thảm thiết được giải thoát. Gã này khẳng định rằng mình bị đối xử tàn nhẫn chỉ vì sự hiềm khích cá nhân của ông Morgan, và tinh thần hắn hoàn toàn tỉnh táo chẳng khác gì bất kỳ ai trên tàu. Nghe vậy, thuyền trưởng liền bắn một ánh mắt sắc lẹm về phía người Xứ Wales, rồi ra lệnh lôi ngay gã đó lên. Lập tức, Morgan thanh minh với giọng điệu vô cùng khẩn khoản rằng kẻ đang đứng trước mặt họ đích thị là một tên điên khổng lồ, và nài nỉ vì tình yêu với Chúa, xin hãy giữ quặt đôi tay hắn lại trong suốt cuộc tra vấn để ngăn hắn gây chuyện quấy phá. Vị thuyền trưởng chấp thuận yêu cầu này vì sự an toàn của chính mình, và bệnh nhân được đưa lên. Hắn khăng khăng khẳng định mình hoàn toàn minh mẫn bằng một thái độ bình tĩnh cùng những lập luận sắc bén đến mức mọi người có mặt đều ngả theo hướng tin tưởng hắn — ngoại trừ Morgan. Ông quả quyết rằng bề ngoài rất đánh lừa thiên hạ, bởi chỉ mới hai ngày trước, chính ông cũng từng bị cách cư xử của hắn qua mặt đến mức tự tay cởi trói cho hắn, suýt chút nữa thì mất mạng vì sự nhẹ dạ ấy. Lời này được xác nhận bởi lời khai của một trong số các nhân viên phục vụ, người tuyên bố chính tay hắn đã giật gã bệnh nhân này ra khỏi viên phụ tá bác sĩ khi gã đang đè bẹp và suýt bóp cổ vị phụ tá. Đáp lại, bệnh nhân phản pháo rằng nhân chứng ấy chẳng qua chỉ là tay sai của Morgan, bị mua chuộc để đưa ra lời gian dối do sự thù hằn cá nhân của viên phụ tá. Hắn vạch trần việc viên phụ tá này từng bị chính bị cáo làm bẽ mặt khi dám buột miệng loan báo với cả tàu rằng vợ của ông Morgan đang mở một tiệm bán rượu gin ở khu Ragfair. Giai thoại này lập tức khơi mào một trận cười nghiêng ngả nhắm vào viên người Xứ Wales. Đưa đầu lắc lư với vẻ đầy xúc cảm, Morgan lên tiếng: “Ay, ay, chuyện đó có hề gì. Chúa thừa biết đó hoàn toàn là một lời vu khống trắng trợn.” Chẳng thèm chần chừ thêm chút nào, Thuyền trưởng Oakum lập tức ra lệnh cởi trói cho gã kia, đồng thời đe dọa sẽ bắt Morgan đổi chỗ cho hắn vì tội ác ý; thế nhưng, vừa nghe thấy phán quyết có lợi cho kẻ điên, vị người Xứ Wales liền thoăn thoắt leo lên giăng buồm mạn, hét lớn bảo Thompson và tôi hãy mau tránh xa tầm với của ông, vì chúng ta sẽ được chứng kiến ông nổi cơn lôi đình phá nát mọi thứ cho bõ tức. Chẳng dám phớt lờ lời cảnh báo ấy, chúng tôi nhanh chóng leo lên bệ lái. Từ trên cao, chúng tôi chứng kiến gã tâm thần kia — ngay khi vừa được tháo xiềng xích — liền lao vào thuyền trưởng như một cơn cuồng phong, tru lên: “Ta cho mày biết, đồ khốn nạn, ta mới là người chỉ huy con chiến thuyền này,” và nện cho hắn những cú đấm tơi bời không chút nương tay. Vị bác sĩ chạy đến ứng cứu cho ân nhân của mình cũng chung một số phận cay đắng, và phải chật vật lắm người ta mới có thể khống chế được gã đàn ông cuồng loạn ấy sau khi hắn đã tả xung hữu đột, giáng cho những kẻ dám cản đường những đòn chí mạng.