Cuộc phiêu lưu của Roderick Random

Lượt đọc: 255 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 24

❊ ❊ ❊

Tôi lâm vào cảnh khốn cùng — bị một toán bắt lính ép dọc đường Tower Hill, rồi tống lên một chiếc tàu tuần tiễu — cách đối xử với tôi ở đó — tôi lên một chiến hạm, bị cùm chân, rồi được sự giúp đỡ tận tình của anh Thompson, người đã giới thiệu tôi làm phụ tá cho y sĩ — anh kể lại câu chuyện của chính mình — tính cách của viên thuyền trưởng, y sĩ, và phó thuyền trưởng thứ nhất.

Tôi ngợi khen quyết định của cô Williams; ít ngày sau, cô đã được một trong những phụ nữ từng ra làm nhân chứng bênh vực cô tại tòa Marshalsea thuê làm nhân viên pha rượu. Người phụ nữ ấy, nhờ lấy được sự tín nhiệm của một thương gia bán rượu — kẻ mà ả là sủng phụ — nên đã mở được cho mình một cơ sở đàng hoàng. Nơi đó đã trở thành chốn dung thân cho người bạn cùng phòng cũ của tôi, sau khi nàng từ giã tôi trong dòng nước mắt tuôn rơi cùng hàng ngàn lời thề non hẹn biển về lòng biết ơn vĩnh cửu; nàng đoan chắc rằng mình sẽ chỉ ở lại nơi này cho đến khi kiếm đủ số tiền để thực hiện dự định khác.

Phần tôi, chẳng thấy lối thoát nào ngoài quân đội hoặc hải quân, và tôi đã do dự lâu đến mức rơi vào cảnh đói khát cùng cực. Kiêu ngạo trong tôi dần khuất phục trước số phận khất thực, và tôi đành hạ mình đi về phía Wapping, với ý định tìm thăm một người bạn học cũ — người mà tôi nghe nói đang làm thuyền trưởng một chiếc tàu buôn nhỏ neo đậu trên sông — để cầu xin sự giúp đỡ. Nhưng số mệnh đã ngăn tôi làm cái hành động nhục nhã ấy; bởi khi tôi vừa bước qua bến Tower Wharf, một tên vạm vỡ da ngăm đen, đeo đoản kiếm bên hông và cầm gậy trong tay, liền tiến đến gần tôi và cất giọng gọi: “Này cậu em, đi theo tao một chuyến.” Không thích vẻ mặt của hắn, thay vì đáp lời, tôi rảo bước nhanh hơn với hy vọng cắt đuôi hắn; nhưng hắn liền huýt sáo vang dội, và lập tức một tên thủy thủ khác xuất hiện trước mặt tôi, túm lấy cổ áo và bắt đầu lôi đi. Vốn không có tâm trạng để chịu đựng cách đối xử ấy, tôi liền giật mình thoát khỏi kẻ tấn công, và chỉ bằng một cú quất gậy, đánh hắn nằm bất động trên mặt đất. Nhận thấy mình bị vây kín trong chớp mắt bởi mười hai mươi tên nữa, tôi chống trả khéo léo và thành công đến mức vài kẻ địch phải tuốt gươm xông vào; và sau một hồi giao tranh ác liệt, nơi tôi nhận một vết thương lớn trên đầu cùng một vết khác bên má trái, tôi đã bị tước khí giới, bắt làm tù binh và tống lên một chiếc tàu ép lính. Tại đây, sau khi bị trói quặt tay như một tên phạm tội nặng, tôi bị đẩy tống xuống hầm tàu giữa một đám người khốn khổ đến mức nhìn thấy họ thôi cũng đủ khiến tôi gần như phát điên. Vì viên sĩ quan chỉ huy không đủ lòng nhân đạo để ra lệnh băng bó vết thương cho tôi, mà đôi tay tôi lại bị trói quặt không thể tự làm gì, tôi đành nhờ một người bạn tù được tháo cùm lấy chiếc khăn tay trong túi ra quấn quanh đầu để cầm máu. Hắn đúng là đã lấy chiếc khăn tay của tôi ra, nhưng thay vì dùng vào việc tôi muốn, hắn lại bò ra cửa thông gió của hầm tàu, và với một vẻ mặt tỉnh bơ đến kinh ngạc, đem bán ngay trước mắt tôi cho một mụ bán hàng rong trên ghe (1) lúc bấy giờ đang ở cạnh tàu, để đổi lấy một vại rượu gin rồi cùng đám bạn nhậu nhẹt say sưa, chẳng mảy may bận tâm đến hoàn cảnh hay lời nài nỉ của tôi.

(1) Mụ bán hàng rong trên ghe là người chuyên bán bánh mì, phô mai, rau xanh, rượu và khoai tây tươi cho các thủy thủ, đi trên một chiếc thuyền nhỏ đậu sát mạn tàu.

Tôi đắng cay phàn nàn về vụ cướp bóc này với viên sĩ quan tập sự trên boong, đồng thời bảo rằng nếu vết thương không được băng bó, tôi sẽ mất máu mà chết. Nhưng lòng trắc ẩn là thứ đức tính mà không ai có thể buộc tội con người này; hắn nhổ một bã thuốc lá nước nhão nhét xuống người tôi qua khe thông gió và bảo rằng: “Mày là một thằng phản loạn, và tao chẳng thèm quan tâm nếu mày có chết quách đi!” Nhận ra chẳng còn phương kế nào khác, tôi đành phó mặc cho sự nhẫn nại và ghi khắc sự đối xử này trong trí nhớ, để tính sổ vào một cơ hội thích hợp hơn. Trong lúc ấy, việc mất máu, nỗi bực dọc và cái đói, cộng với mùi hôi thối nồng nặc của chốn này, đã đẩy tôi vào một cơn ngất lỉu. Tôi chỉ tỉnh lại nhờ cú véo mũi của người lính gác canh chừng chúng tôi, người mà lúc đó đã hào phóng ban cho tôi một ngụm thức uống pha rượu, đồng thời an ủi tôi với hy vọng ngày mai sẽ được chuyển sang chiến hạm Thunder, nơi tôi được tháo cùm và chữa lành vết thương bởi vị y sĩ trên tàu. Vừa nghe hắn nhắc đến cái tên Thunder, tôi liền hỏi liệu hắn đã ở tàu đó lâu chưa; và khi hắn cho biết mình đã phục vụ ở đó được năm năm, tôi bèn hỏi có biết Trung úy Bowling không. “Biết Trung úy Bowling chứ!” hắn đáp, “Chao ôi! Sao lại không biết; ông ấy là một thủy thủ cừ khôi nhất từng đặt chân lên sàn mũi tàu, và là một tay gan dạ nhất từng bẻ bánh quy — chứ không phải mấy thứ gà công nghiệp hay lũ bạch tạng nước lã chuyên sống ngày nắng ấm đâu nhé. Chú Tom Bowling trung thực và tôi đã cùng nhau vượt qua bao cơn giông tố dữ dội. Này, tôi xin cạn chén chúc sức khỏe ông ấy từ tận đáy lòng: bất kể ông ấy đang ở đâu, trên cao hay dưới thấp, viên trung úy chẳng bao giờ phải hổ thẹn khi xuất hiện cả.” Tôi xúc động sâu sắc trước lời ca tụng này đến mức không kìm nổ việc nói cho hắn biết tôi là họ hàng của Trung úy Bowling; nhờ mối liên hệ ấy, hắn bày tỏ ý muốn giúp đỡ tôi, và khi được đổi ca gác, hắn đã mang theo một đĩa thịt bò luộc nguội cùng bánh quy. Chúng tôi đã có một bữa tối thịnh soạn và sau đó tiếp tục nâng chén rượu pha. Trong lúc đang chuyện trò vui vẻ, hắn kể lại rất nhiều chiến tích của ông tôi — người mà tôi được biết là rất được lòng toàn thể thủy thủ đoàn, và được mọi người thương cảm cho tai họa đã giáng xuống ông ở Hispaniola. Tôi vô cùng mừng rỡ khi hay tin tai họa đó không trầm trọng như tôi tưởng, bởi Đại úy Oakum đã bình phục vết thương và thực tế lúc bấy giờ đang chỉ huy con tàu ấy. Tình cờ mang theo lá thư của người chú viết từ Port Louis trong túi, tôi liền đưa nó cho vị ân nhân của mình (tên là Jack Rattlin) để xem; nhưng bác Jack thật thà thú nhận rằng mình không biết chữ, và muốn tôi đọc nội dung cho nghe. Tôi liền kể lại ngay lập tức. Khi nghe đến đoạn chú nói đã gửi thư cho người chủ nhà trọ ở Deal, bác kêu lên: “Trời đất quỷ thần ơi! Đó chính là lão Ben Block; lão đã chết trước khi thư tới nơi rồi. À mà, chớ chi Ben còn sống, thì Trung úy Bowling đã chẳng phải lẩn trốn lâu đến thế. Lão Ben trung thực là người đầu tiên dạy ông ấy cách thu buồm, thắt nút và lái tàu. Thôi thì, ai rồi cũng phải chết, đó là điều chắc chắn — sớm muộn gì chúng ta cũng phải cập bến, dù ở biển hay trên bờ — rồi cũng có ngày phải neo đậu thật chặt: cái chết giống như chiếc mỏ neo phụ tốt nhất vậy, theo như người ta vẫn nói — nó sẽ kéo tất cả chúng ta dừng lại.” Tôi không khỏi bày tỏ sự đồng tình trước những suy ngẫm rất đúng đắn của Jack, rồi gặng hỏi về nguyên nhân cuộc cãi vã giữa Đại úy Oakum và người chú của tôi. Bác ta liền giải thích như sau: “Đại úy Oakum, nói cho cùng, cũng là một người tốt chán — hơn nữa, ông ấy là chỉ huy của tôi; nhưng điều đó thì can gì tới tôi? Tôi làm tròn bổn phận của mình và chẳng sợ cơn giận đòn roi của bất kỳ ai. Nghe đồn ông ấy là quý tộc, hoặc là em trai của một nam tước hiệp sĩ, nhờ thế (cậu thấy đấy) ông ấy tỏ ra kiêu kỳ và giữ khoảng cách với các sĩ quan, dẫu xét cho cùng họ có lẽ cũng chẳng kém gì ông ta. Lúc chúng tôi đang neo đậu ở vịnh Tuberon, Trung úy Bowling nhận ca trực giữa đêm, và vì luôn cảnh giác quan sát kỹ lưỡng, ông ấy đã phát hiện (cậu thấy đấy) ba ngọn đèn ở ngoài khơi xa, thế là ông ấy chạy thẳng xuống khoang lớn để xin chỉ thị và phát hiện vị thuyền trưởng đang ngủ; ông bèn đánh thức y dậy, điều đó khiến y nổi cơn thịnh nộ lôi đình, y chửi rủa viên trung úy thậm tệ và gọi ông ấy là cái giống con hoang Scotland hèn m hạ (vì lúc bấy giờ tôi đang làm lính gác ở khoang lái nên nghe hết), rồi nào là đồ lau sàn, đồ vụng về, khiến viên trung úy cũng chửi lại không kém, và hai người đôi co qua lại suốt một hồi lâu cho đến khi vị thuyền trưởng vùng dậy, vớ lấy một cây roi mây phang thẳng vào mạn sườn anh Bowling: bấy giờ anh liền bảo vị thuyền trưởng rằng nếu y không phải là chỉ huy của mình thì anh đã ném y xuống biển rồi, và đòi đấu tay đôi trên bờ; thế là vào ca trực sáng sớm, vị thuyền trưởng đi xuồng nhỏ vào bờ, rồi sau đó viên trung úy cũng chèo xuồng lục vào theo, và rồi họ để mặc đội thủy thủ chờ trên xuồng rồi cùng nhau bỏ đi; và thế là (cậu thấy đấy) chưa đầy một phần tư giờ sau, chúng tôi nghe thấy tiếng súng nổ, liền bèn lao về phía phát ra âm thanh và thấy vị thuyền trưởng đang nằm bị thương trên bãi biển, bèn đưa y lên tàu cho y sĩ chữa trị chưa đầy sáu tuần là lành. Nhưng viên trung úy thì buông hết buồm chạy trốn mất tăm trước khi chúng tôi hay biết sự tình; thế nên từ đó về sau chúng tôi chẳng bao giờ gặp lại ông ấy nữa, điều mà chúng tôi cũng chẳng lấy làm buồn, bởi vị thuyền trưởng vô cùng giận dữ và chắc chắn sẽ chơi khăm ông ấy một vố đau; vì sau đó y đã ra lệnh gạch tên ông ấy khỏi sổ sách của tàu, khiến ông mất toàn bộ tiền lương, và nếu bị bắt lại, chắc chắn sẽ bị đem ra xét xử như một kẻ đào ngũ.”

Lời kể này về cung cách hành xử của vị thuyền trưởng không hề mang lại cho tôi chút ấn tượng tốt đẹp nào về con người y; và tôi không khỏi cảm thán cho số phận của chính mình khi phải chịu dưới quyền một kẻ chỉ huy như thế. Dù sao đi nữa, đành biến cái sự bắt buộc thành tự nguyện, tôi làm ra vẻ bình thản, và ngày hôm sau, cùng với những người bị ép lính khác, được đưa lên chiến hạm “Thunder” đang thả neo tại Nore. Khi chúng tôi cập mạn tàu, tên phó thuyền trưởng áp tải chúng tôi ra lệnh tháo cùm tay để tôi bước lên tàu cho dễ dàng; nhận thấy việc này, một số người đang đứng trên ván cầu để chứng kiến chúng tôi lên tàu liền cất tiếng gọi Jack Rattlin — kẻ đang bận rộn làm ơn làm phước tháo cùm giúp tôi: “Này Jack, chú vừa ghé qua chiếc tù thuyền Newgate nào dọc sông thế? Bộ trên tàu chúng ta chưa đủ trộm cắp hay sao?” Một kẻ khác, nhìn thấy những vết thương vẫn còn hở hoác của tôi, liền bảo rằng các đường may của tôi đã bị bục chỉ và cần phải được trám lại. Kẻ thứ ba, thấy tóc tôi bết lại vì máu thành từng búi cứng ngắc, nhận xét rằng phần mũi thuyền của tôi đã được vá bằng dây thừng đỏ thay vì dùng ván ốp bên. Kẻ thứ tư hỏi tôi có thể giữ cho các sào ngang thẳng thớm mà không cần nẹp sắt hay không; tóm lại, hàng ngàn câu nói đùa cợt kiểu đó đã được ném vào người tôi trước khi tôi kịp leo lên tới thành tàu.

Sau khi tất cả chúng tôi đã được ghi tên vào sổ sách của tàu, tôi hỏi một người bạn đồng hành xem phòng y sĩ ở đâu để đi băng bó vết thương, và thực ra đã đi đến được boong giữa (vì chiến hạm của chúng tôi có đến tám mươi khẩu pháo) trên đường xuống hầm phẫu thuật, thì bất ngờ chạm trán ngay chính tên sĩ quan tập sự từng đối xử tàn nhẫn với tôi trên tàu tuần tiễu. Nhận thấy tôi không còn xiềng xích, hắn với vẻ mặt xấc láo liền hỏi kẻ nào đã thả tôi ra. Trước câu hỏi này, tôi đã dại dột đáp lại bằng một nét mặt phơi bày rõ mồn một tâm can: “Dù là ai đi nữa, tôi tin chắc người đó đã chẳng thèm hỏi ý kiến anh trong chuyện này.” Vừa thốt ra những lời ấy, hắn liền thét lên: “Mẹ kiếp, cái đồ con hoang hỗn láo, để tao dạy cho mày cách ăn nói với cấp trên nhé.” Nói đoạn, hắn quất liền mấy roi đau điếng bằng chiếc roi da dẻo trên tay; rồi đi thẳng đến gặp sĩ quan chỉ huy, tâu lại về tôi khiến tôi ngay lập tức bị tên quản kho tống vào cũi sắt và đặt lính gác canh chừng. Bác Rattlin tử tế, vừa nghe tin hoàn cảnh của tôi, liền đến an ủi hết lời rồi thay mặt tôi đi tìm y sĩ. Vị y sĩ này bèn sai một trong những phụ tá đến băng bó vết thương cho tôi. Phụ tá ấy chẳng phải ai khác chính là người bạn cũ Thompson của tôi, người mà tôi từng quen biết tại Ty Hải quân như đã kể trên. Nếu tôi nhận ra anh ngay từ cái nhìn đầu tiên, thì với một kẻ bị bóp méo bởi máu me, bụi bẩn và biến dạng vì những cơ cực đã trải qua, việc anh nhận ra tôi lại không hề dễ dàng chút nào. Dẫu tôi đối với anh lúc đó chỉ là một kẻ xa lạ, anh vẫn nhìn tôi bằng ánh mắt đầy trắc ẩn và vô cùng dịu dàng thăm khám những vết thương. Sau khi đã bôi thuốc theo ý muốn và chuẩn bị rời đi, tôi liền hỏi liệu những bất hạnh có khiến tôi thay đổi đến mức anh không thể nhận ra khuôn mặt mình từng quen biết nữa hay không. Nghe vậy, anh chăm chú quan sát tôi một hồi lâu, rồi cuối cùng buông lời khẳng định rằng anh không thể tìm thấy dù chỉ một nét quen thuộc trên gương mặt tôi. Không muốn để anh phải hoài nghi thêm nữa, tôi liền xưng tên; nghe xong, anh ôm chầm lấy tôi đầy thương mến và bày tỏ niềm tiếc thương khi thấy tôi rơi vào hoàn cảnh oái oăm này. Tôi kể cho anh nghe toàn bộ câu chuyện của mình, và khi nghe biết tôi đã bị đối xử vô nhân đạo thế nào trên tàu tuần tiễu, anh liền vội vã bỏ đi, quả quyết rằng chúng ta sẽ sớm gặp lại nhau. Tôi vừa kịp thắc mắc về cuộc chia tay đột ngột ấy thì tên quản kho đã đến nơi giam giữ, bảo tôi theo hắn lên boong thượng. Tại đây, tôi bị tra hỏi bởi vị trung úy nhất — người tạm quyền chỉ huy tàu trong lúc vắng mặt thuyền trưởng — về cách đối xử mà tôi phải chịu đựng trên tàu tuần tiễu từ vị công tử bột sĩ quan tập sự, kẻ hiện diện ngay tại đó để đối chất với tôi.

Tôi thuật lại chi tiết những hành vi hỗn hào của hắn đối với tôi, không chỉ trên tàu tuần tiễu mà ngay cả khi đã lên tàu lớn. Một phần trong số đó đã được chứng minh qua lời khai của Jack Rattlin cùng những người khác — những kẻ vốn chẳng ưa gì tên ác ôn đã áp bức tôi. Thế là tôi được thả ra khỏi nơi giam giữ, nhường chỗ cho chính kẻ đó, kẻ đã bị giao cho quản kho nhốt vào cũi sắt. Đó chưa phải là niềm vui duy nhất tôi nhận được; theo lời thỉnh cầu của vị y sĩ, tôi được miễn mọi công việc thông thường ngoại trừ việc phụ giúp các y phụ tá điều chế và phát thuốc cho người bệnh. Tôi có được đặc ân tốt đẹp này là nhờ tình bằng hữu của anh Thompson, người đã ca ngợi tôi hết lời trước mặt y sĩ đến mức ông phải đòi tôi từ tay trung úy để thay thế vị trí của người phụ tá thứ ba vừa mới qua đời. Khi đã đạt được ý nguyện, người bạn Thompson dẫn tôi xuống hầm phẫu thuật — nơi được cắt đặt làm chỗ ở cho các y phụ tá; và khi anh chỉ cho tôi cái gọi là “giường ngủ” của họ, tôi không khỏi bàng hoàng kinh hãi và ghê rợn. Chúng tôi phải bước qua nhiều tầng thang để xuống một khoảng không tối như hầm ngục, mà tôi được biết là nằm sâu dưới mực nước biển mấy thước, ngay sát phía trên hầm chứa hàng. Tôi vừa đến gần cái vực thẳm ảm đạm ấy thì chiếc mũi đã bị chào đón bởi một mùi xông lên chịu không thấu của phô mai thối rữa và bơ ôi thiu phát ra từ một căn phòng ở chân cầu thang, trông giống như một tiệm tạp hóa nhỏ. Tại đó, dưới ánh nến ldim mờ ảo, tôi có thể lờ mờ nhận ra một người đàn ông mặt mày xanh xao, hốc hác, đang ngồi sau một cái bàn làm việc kiểu cũ, mũi đeo kính và tay cầm bút. Người này (tôi được anh Thompson cho biết) là quản lý vật tư của tàu, ngồi đó để phân phát lương thực cho các nhóm ăn chung và ghi chép lại phần mỗi người nhận được. Anh bèn giới thiệu tên tôi với người đó và xin cho tôi được gia nhập nhóm ăn chung của họ; rồi tay cầm ngọn đèn, anh dẫn tôi đến chỗ ở của mình — một ô vuông chừng sáu thước, xung quanh vây kín bởi những chiếc hòm đựng dược phẩm, hòm của phó thuyền trưởng thứ nhất, hòm của chính anh, cùng một tấm ván làm bàn gắn vào vách khoang thuốc súng phía đuôi tàu. Nơi này còn được che chắn bằng những tấm vải bạt đóng đinh vào các thanh xà để chống rét cũng như khuất tầm mắt của các sĩ quan tập sự và thủy thủ trưởng, những người ở trọ dọc theo các khoang cáp ở hai bên chúng tôi. Tại chốn âm u này, anh đã thiết đãi tôi món thịt lợn muối nguội lấy từ một chiếc tủ nhỏ đóng phía trên bàn; rồi sai cậu bé phục vụ đi mua một vại bia để pha chế thành một loại thức uống tuyệt hảo nhằm kết thúc bữa tiệc ban ơn.

Đến lúc này, tinh thần tôi mới dần hồi phục sau những cú sốc nặng nề từ cảnh tượng xung quanh, và tôi không thể kìm nén được nữa, bèn hỏi anh Thompson về những thăng trầm trong cuộc đời anh kể từ lần gặp nhau ở Luân Đôn. Anh kể rằng, sau khi vỡ mộng về việc vay mượn tiền để thỏa mãn tên tham lam t—s— tại Ty Hải quân, anh nhận ra mình hoàn toàn không thể tiếp tục bám trụ lại thành phố nữa, bèn thực lòng nộp đơn xin làm y phụ tá cho y sĩ trên một chiếc tàu buôn hướng sang Guinea hành nghề buôn bán nô lệ. Thế rồi, vào một buổi sáng nọ, một thanh niên quen biết ghé qua phòng trọ báo tin rằng anh ta vừa nhìn thấy một văn bản được lập ra mang tên anh tại Ty Hải quân, bổ nhiệm làm y phụ tá thứ hai cho một chiến hạm hạng ba. Tin vui bất ngờ này khiến anh khó lòng tin là sự thật, nhất là khi anh mới chỉ vượt qua kỳ sát hạch tại Hội Y sĩ với tư cách là y phụ tá thứ ba; nhưng để không bỏ lỡ cơ hội, anh đã đến đó để kiểm tra thực hư và quả nhiên đúng như vậy. Ngay lập tức, anh đòi nhận quyết định bổ nhiệm, và các thủ tục tuyên thệ được tiến hành ngay lập tức. Chiều hôm đó, anh đáp thuyền buồm đi Gravesend, từ đó chuyển sang xe ngựa triều cường để về Rochester; sáng hôm sau đã có mặt trên tàu “Thunder” — nơi anh được phân công — lúc bấy giờ đang neo đậu tại cảng Chatham; và cùng ngày hôm đó được kiểm duyệt bởi viên thư ký kiểm tra. Thật may mắn cho anh vì đã hành động khẩn trương đến thế; bởi chỉ chưa đầy mười hai tiếng đồng hồ sau khi anh đặt chân lên tàu, một kẻ khác cũng mang tên William Thompson xuất hiện, quả quyết rằng chính hắn mới là người được đề tên trong văn bản bổ nhiệm và kẻ kia chỉ là phường mạo danh.

Bạn tôi vô cùng hoảng hốt trước sự cố này, nhất là khi kẻ trùng tên với anh lại tỏ ra vô cùng trơ trẽn và ăn vận lịch sự hơn hẳn. Dù vậy, để tự minh oan khỏi nghi vấn mạo danh, anh đã trưng ra một số bức thư được gửi từ Scotland cho mình với cái tên đó, và sực nhớ rằng giấy khế ước học việc của mình đang nằm trong chiếc hộp trên tàu, anh liền mang lên để chứng minh trước mọi người rằng anh không hề mạo nhận một cái tên không thuộc về mình. Kẻ đối thủ vô cùng tức giận khi thấy họ chần chừ trong việc thực thi công lý (bởi y đinh ninh rằng quyết định đó đích thị dành cho y), liền cư xử lỗ mãng đến mức khiến vị sĩ quan chỉ huy (cùng một người mà tôi đã gặp) và y sĩ đều cảm thấy gai mắt trước sự ngạo mạn của y; và nhờ kiên quyết nhờ cậy bạn bè ở thủ đô, chỉ chưa đầy một tuần sau, họ đã giúp người bạn của tôi chính thức được xác nhận vị trí của mình. “Tôi đã ở trên tàu từ đó đến nay,” anh nói, “và vì nếp sống này đã trở nên quen thuộc, tôi chẳng có gì phải phàn nàn về hoàn cảnh của mình cả. Vị y sĩ là một người tốt bụng, lười biếng; phó thuyền trưởng thứ nhất (hiện đang đi vắng làm nhiệm vụ trên bờ) quả thực hơi kiêu ngạo và nóng nảy đúng chất người xứ Wales, nhưng xét cho cùng vẫn là một người bạn tốt tính và trung thực. Các trung úy thì tôi không cần bận tâm; còn về phần vị thuyền trưởng, ông ta quá mức là một quý ông để có thể nhận ra một y phụ tá, dù chỉ là qua mặt.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.