Strap và tôi hoảng sợ trước một hiện tượng kỳ lạ — Phỏng đoán của Strap — Joey giải thích bí ẩn — chúng tôi đến London — trang phục và vẻ bề ngoài của chúng tôi được miêu tả — chúng tôi bị lăng mạ trên đường phố — một cuộc phiêu lưu trong quán rượu — chúng tôi bị một tên đầy tớ tinh quái lừa gạt — được một chủ tiệm thuốc lá chỉ đường đúng đắn — thuê phòng trọ — lặn lổm đi ăn trưa — một tai nạn tại quán ăn bình dân của chúng tôi
Chúng tôi tới quán trọ, ăn tối rồi đi ngủ; nhưng căn bệnh của Strap vẫn tiếp diễn, buộc anh phải thức dậy giữa đêm. Cầm theo ngọn nến mà anh đã để cháy từ trước cho mục đích này, anh đi xuống nhà vệ sinh, rồi chẳng mấy chốc quay lại với vẻ vô cùng vội vã, tóc dựng đứng và nét mặt bàng hoàng, kinh hãi. Không nói một lời, anh đặt ngọn đèn xuống và nhảy lên giường nằm sau lưng tôi, run rẩy dữ dội. Khi tôi hỏi chuyện gì xảy ra, anh lắp bắp đáp: "Chúa thương xót chúng con! Tôi vừa thấy ác quỷ!" Dù sự định kiến của tôi không sâu sắc bằng anh, tôi cũng không khỏi hoang mang trước lời kêu thán ấy, và còn hoảng sợ hơn nữa khi nghe tiếng chuông lắc đến gần căn phòng của mình, cảm thấy bạn cùng giường bám chặt lấy tôi và thốt lên những lời này: "Chúa Kitô thương xót chúng con; hắn đến kìa!" Ngay khoảnh khắc đó, một con quạ khổng lồ xuất hiện trong phòng chúng tôi, với những chiếc chuông buộc ở chân, tiến thẳng về phía giường của chúng tôi. Vì ở quê chúng tôi loài vật này vốn được xem là phương tiện quen thuộc để ác quỷ và phù thủy dùng làm trò quỷ quái, tôi thực sự tin rằng chúng tôi đang bị ma ám; và trong cơn hoảng loạn tột độ, tôi chui tút xuống chăn. Hiện tượng kinh hoàng này nhảy lên giường, mổ liên tiếp mấy phát sắc nhọn bằng cái mỏ qua lớp chăn, rồi nhảy tưng tưng bỏ đi và biến mất. Strap và tôi hết lòng thành kính phó thác bản thân cho sự che chở của Thiên đàng, và khi không còn nghe thấy tiếng động nữa, chúng tôi mới dám thò đầu lên lấy lại hơi thở. Nhưng chúng tôi chưa kịp định thần sau bóng ma đó bao lâu thì một hiện tượng khác xuất hiện, suýt nữa thì tước đi ý thức của cả hai. Chúng tôi thấy một lão già bước vào phòng, với bộ râu trắng dài chấm ngực; trong đôi mắt và nét mặt lão có một vẻ kỳ lạ hoang dại không thuộc về thế giới này; trang phục của lão gồm một chiếc áo khoác bằng vải thô màu nâu, cài cúc đằng sau và ở cổ tay, đầu đội một chiếc mũ kỳ cục cũng bằng chất liệu đó. Tôi kinh ngạc đến mức không thể rời mắt khỏi một sinh vật ghê rợn như vậy, cứ thế nằm bất động và nhìn lão tiến thẳng về phía mình: khi đến mép giường, lão vặn xoắn hai tay và cất tiếng kêu không giống của một con người: "Ralph đâu?" Tôi không đáp lời; thế là lão lặp lại, với giọng điệu còn siêu nhiên hơn nữa: "Ralpho đâu?" Lão vừa dứt lời thì tôi nghe thấy tiếng chuông từ đằng xa vọng lại; hiện tượng kỳ quái lắng nghe tiếng chuông ấy, liền lỉnh đi mất, để lại tôi hóa đá vì sợ hãi. Phải mất một hồi lâu tôi mới trấn tĩnh lại được đôi chút để mà cất lời; và khi tôi quay sang Strap, tôi thấy anh đang lên cơn co giật, may thay cơn đó không kéo dài lâu. Khi anh tỉnh lại, tôi hỏi ý kiến anh về những chuyện vừa xảy ra; và anh đoan chắc rằng điều đầu tiên chắc chắn là linh hồn của một kẻ khốn khổ nào đó đang bị đọa đày, hiện hình với sợi xích quấn quanh chân (vì nỗi sợ hãi đã phóng đại con vật to bằng con ngựa, và tiếng chuông lắc nhỏ thành tiếng xích nặng nề va vào nhau). Còn về lão già, anh cho rằng đó là hồn ma của một kẻ nào đó đã bị sát hại từ lâu tại nơi này, được ban cho quyền năng hành hạ kẻ sát nhân dưới hình hài một con quạ, và Ralpho chính là tên của kẻ sát nhân đó. Dù tôi không mấy tin vào cách giải thích này, lòng tôi vẫn rối bời chẳng thể chợp mắt nổi; và trong suốt mọi cuộc phiêu lưu sau này, chưa bao giờ tôi trải qua một đêm tồi tệ đến thế.
Sáng hôm sau, Strap kể lại toàn bộ sự việc cho Joey. Sau một tràng cười không dứt, Joey giải thích rõ ràng rằng lão già thực ra là cha của chủ quán, người đã bị thiểu năng trí tuệ từ mấy năm nay, và thường tự khuây khỏa bằng một con quạ nuôi trong nhà. Có vẻ như con quạ đã nhảy nhót rời khỏi phòng của lão vào ban đêm, khiến lão phải đi tìm nó cho đến tận phòng chúng tôi, và ở đó lão đã hỏi tìm nó với cái tên Ralpho.
Không có gì đáng chú ý xảy ra trong quãng đường còn lại của chuyến đi, kéo dài thêm chừng sáu bảy ngày nữa; cuối cùng chúng tôi cũng tiến vào đại đô thị và trọ qua đêm tại chính quán trọ mà chiếc xe ngựa đã đỗ lại. Sáng hôm sau, tất cả hành khách tản đi theo những ngả đường khác nhau, trong khi tôi cùng người bạn đồng hành lên đường đi tìm vị nghị sĩ mà tôi có bức thư giới thiệu của ông Crab. Vì chúng tôi đã trả phòng ở quán trọ, Strap xách hành lý và bước theo sau tôi trên đường phố với chiếc ba lô trên lưng như thường lệ, khiến bề ngoài của chúng tôi trông vô cùng kỳ quặc. Tôi đã ăn diện hết sức có thể; nghĩa là, mặc một chiếc áo sơ mi sạch sẽ có diềm xếp nếp, đi đôi vớ bằng chỉ đẹp nhất của mình; mái tóc tôi (có màu đỏ rực) xõa xuống tận vai, thẳng thừng và xơ xác như một cân nến; vạt áo khoác thì dài tới tận giữa cẳng chân; áo lê-ghê và quần chẽn được may cùng một sấp vải, theo đúng một kiểu dáng; và chiếc chiếc mũ của tôi trông rất giống cái chậu cạo râu nhờ phần chóp nông choèn và vành mũ hẹp tẹo. Strap ăn mặc ít kỳ cục hơn một chút; nhưng mái tóc giả cắt ngắn cụt tai, trông rất giống tóc giả của nhân vật Scrub trong vở kịch, cùng chiếc ba lô trên lưng, cộng thêm cái gọi là gương mặt kỳ dị với chiếc cằm dài, mũi khoằm và gò má cao, đã biến anh thành một đối tượng hoàn toàn thích hợp để thiên ta châm biếm và vui đùa. Trên đường đi, theo ý tôi, Strap liền hỏi một người đánh xe chở hàng mà chúng tôi gặp xem nhà ông Cringer nằm ở khoảng nào; và nhận lại một cái trợn mắt kèm theo tiếng "Hả!". Ngay lúc đó, tôi bước tới để giải thích rõ câu hỏi, nhưng ngặt nỗi lời nói của tôi cũng chẳng khá khẩm gì hơn, gã đánh xe liền nguyền rủa chúng tôi là lũ lính canh Scotland bẩn thỉu, rồi quất roi vào bầy ngựa cùng tiếng thét "Hè vô!", khiến tôi tức điên lên và làm Strap phẫn nộ đến mức khi gã kia đã đi được một đoạn khá xa, anh bảo rằng anh sẵn sàng đánh nhau với gã chỉ vì một xu.
Trong lúc chúng tôi đang bàn tính xem phải làm gì, một gã đánh xe ngựa thuê, thong thả lái xe qua và thấy chúng tôi đang đứng bên lề đường, liền tiến sát lại gần. Gã hô lớn: "Xe không, thưa quan lớn!", rồi dùng một động tác khéo léo điều khiển dây cương làm bầy ngựa vấp ngã vào vũng nước bùn, hất tung bùn đất bê bết lên người chúng tôi. Sau chiến công đó, gã phóng xe đi tiếp, tự đắc cười ha hả khiến nhiều kẻ khác hùa theo, làm tôi vô cùng muối mặt; nhưng có một người tỏ ra thương cảm hơn những kẻ khác, thấy chúng tôi là người tha hương liền khuyên tôi nên ghé vào một quán rượu để lau khô người. Tôi cảm ơn lời khuyên của ông ta và lập tức làm theo; bước vào quán mà ông vừa chỉ, tôi gọi một vại bia và ngồi xuống bên lò sưởi ở căn phòng chung để tự lau chùi người ngợm sạch sẽ hết mức có thể. Trong lúc đó, một gã hài hước đang ngồi trong một ô ghế có vách ngăn, vừa hút tẩu vừa nhận ra qua giọng điệu rằng chúng tôi đến từ Scotland, bèn tiến lại chỗ tôi và với vẻ mặt nghiêm nghị hỏi tôi bị bắt từ bao giờ. Vì không hiểu ngụ ý của câu hỏi này, tôi không đáp lời; và gã nói tiếp rằng chắc là chưa lâu lắm, vì cái đuôi của tôi vẫn chưa bị cắt; đồng thời gã tóm lấy mái tóc tôi và nháy mắt với những vị khách xung quanh, những kẻ có vẻ vô cùng thích thú trước sự hóm hỉnh của gã. Tôi tức giận trước cách đối xử này nhưng lại sợ phản ứng, bởi tôi lỡ ở nơi đất khách quê người và nhận ra kẻ vừa lên tiếng là một gã vạm vỡ, mà tôi tự thấy mình chẳng có cửa so bì. Thế nhưng, Strap, hoặc là gan dạ hơn hoặc là ít thận trọng hơn, không thể nuốt trôi những lời lăng mạ giáng lên đầu tôi, liền dùng giọng điệu cương quyết bảo gã rằng: "Mày là một kẻ bất lịch sự khi dám quá hỗn xược với những người bề trên của mình." Ngay lập tức, gã hề tiến lại phía Strap và hỏi anh trong ba lô có gì: "Đó là bột yến mạch hay lưu huỳnh vậy, hở Sawney?", gã vừa nói vừa túm lấy cằm Strap lắc mạnh, khiến tất cả những kẻ có mặt được một phen cười phá lên thích thú. Người bạn đồng hành của tôi, cảm thấy bị hành hung một cách nhục nhã như vậy, liền gỡ tay gã ra trong chớp mắt và giáng cho đối thủ một cú tấm tai mạnh đến nỗi gã lảo đảo sang tận bên kia phòng; và chỉ trong khoảnh khắc, một vòng tròn được vây quanh cho các đấu sĩ. Thấy Strap bắt đầu cởi áo, và máu trong người tôi sôi sục vì cơn phẫn nộ đã cuốn trôi mọi suy nghĩ khác, tôi lột sạch quần áo trên người trong chớp mắt và tuyên bố rằng vì sự xúc phạm gây ra cuộc cãi vã này nhắm vào tôi, tôi sẽ tự mình giải quyết nó đến cùng; nghe vậy, một hoặc hai người liền kêu lên: "Đó mới là một chàng trai Scotland dũng cảm; các ngươi sẽ được đấu một cách sòng phẳng." Sự quả quyết ấy tiếp thêm cho tôi nguồn sinh khí mới, và tiến về phía đối thủ - kẻ có khuôn mặt tái mét chẳng có vẻ gì tha thiết với trận chiến này, tôi đấm một cú thật mạnh vào bụng hắn đến nỗi hắn lảo đảo ngã nhào qua chiếc băng ghế và rớt xuống sàn. Sau đó, tôi định đè giữ hắn lại để khoét sâu chiến thắng theo đúng phong tục quê hương mình, nhưng đã bị những người đứng xem ngăn lại. Một trong số họ cố gắng đỡ đối thủ của tôi đứng dậy nhưng vô ích, bởi hắn quả quyết rằng hắn sẽ không đánh nữa, vì sức khỏe sau trận ốm gần đây vẫn chưa hồi phục hoàn toàn. Tôi vô cùng hài lòng với cái cớ này và lập tức mặc lại quần áo, vừa giành được thiện cảm của mọi người nhờ sự dũng cảm của mình, vừa nhận được cái bắt tay chúc mừng chiến thắng từ người đồng hành Strap.
Sau khi uống xong vại bia và phơi khô quần áo, chúng tôi hỏi chủ quán xem ông ta có biết ngài Cringer, vị nghị sĩ quốc hội hay không, và vô cùng ngạc nhiên khi nhận được câu trả lời phủ định; bởi chúng tôi vẫn đinh ninh rằng ông ta hẳn phải là nhân vật nổi tiếng ở đây chẳng kém gì cái khu bầu cử mà ông đại diện; nhưng chủ quán bảo rằng rất có thể chúng tôi sẽ nghe ngóng được tin tức về ông trên đường đi. Do đó, chúng tôi đành quay ra đường phố, và khi thấy một tên đầy tớ đang đứng trước cửa nhà nọ, chúng tôi tiến lại gần hỏi xem hắn có biết vị bảo hộ của chúng tôi sống ở đâu không. Tên đầy tớ mang bộ đồng phục sặc sỡ đủ màu này ngắm nghía cả hai chúng tôi từ đầu đến chân rồi bảo rằng hắn biết rất rõ ngài Cringer, sau đó hướng dẫn chúng tôi rẽ vào con phố đầu tiên bên trái, rồi rẽ phải, rồi lại rẽ trái một lần nữa; sau chuyến đi dạo đó chúng tôi sẽ thấy một con hẻm nhỏ phải đi xuyên qua, và ở đầu bên kia sẽ tìm thấy một lối đi dẫn đến một con phố khác, nơi chúng tôi sẽ nhìn thấy tấm biển hiệu "Cây kế và Ba gã bán hàng rong", và đó chính là nơi ông ta trọ. Chúng tôi cảm ơn lời chỉ dẫn của hắn và tiếp tục bước đi. Strap bảo tôi rằng anh nhận ra gã này là một người trung thực, thân thiện qua nét mặt ngay trước khi hắn mở miệng; tôi liền đồng thuận với ý kiến đó, và quy những phép tắc lịch sự của hắn cho môi trường những người mà hắn hằng ngày tiếp xúc trong ngôi nhà nơi hắn phục vụ.
Chúng tôi tuân thủ chính xác những chỉ dẫn của hắn, rẽ trái, rẽ phải rồi lại rẽ trái; nhưng thay vì nhìn thấy một con hẻm trước mặt, chúng tôi lại thấy mình đang đứng bên bờ sông — một tình huống khiến chúng tôi vô cùng bối rối; và người bạn đồng hành của tôi đánh bạo thốt lên rằng chắc chắn chúng tôi đã đi nhầm đường. Đến lúc này, chúng tôi đã khá mệt mỏi sau quãng đường đi bộ, và không biết phải tiếp tục thế nào, tôi bước vào một cửa hàng bán thuốc lá nhỏ ngay gần đó, được khích lệ bởi tấm biển hiệu mang hình người lính vùng cao. Ở đó, tôi vô cùng vui mừng khôn xiết khi phát hiện ra chủ cửa hàng là người đồng hương của mình. Vừa nghe kể về cuộc hành trình và những chỉ dẫn mà chúng tôi nhận được từ tên đầy tớ, ông ta lập tức thông báo rằng chúng tôi đã bị lừa gạt, đồng thời cho biết ngài Cringer cư trú ở tít tận đầu bên kia của thị trấn, và hôm nay chúng tôi có đến đó cũng chẳng ích gì, vì giờ này ông ấy đã đến Nghị viện rồi. Tôi bèn hỏi liệu ông ta có thể giới thiệu cho chúng tôi một chỗ trọ nào không. Ông quả thực đã viết cho chúng tôi một mảnh giấy giới thiệu đến một người quen của ông — người làm nghề bán tạp hóa không xa phố St. Martin's Lane. Tại đó, chúng tôi thuê một căn phòng ngủ trên tầng ba với giá hai shilling một tuần, nhỏ đến mức khi hạ giường xuống, chúng tôi buộc phải khiêng ra ngoài tất cả các món đồ nội thất khác trong phòng và dùng chính khung giường thay cho ghế ngồi. Tầm giờ ăn trưa, chủ nhà hỏi chúng tôi dự định sinh hoạt thế nào; trước câu hỏi đó, chúng tôi đáp rằng chúng tôi sẽ để ông chỉ bảo. "Ồ, thế thì," ông ta nói, "ở thị trấn này có hai cách ăn uống dành cho những người có hoàn cảnh như các anh — một cách lịch sự và đắt đỏ hơn cách kia: cách thứ nhất là ăn tối tại một quán ăn chỉ lui tới toàn những người ăn mặc tươm tất; và cách thứ hai gọi là lặn lổm, được thực hiện bởi những ai buộc phải hoặc thích sống tiết kiệm." Tôi cho ông ta biết rằng, miễn là cách sau không mang tiếng xấu, thì nó sẽ phù hợp với hoàn cảnh của chúng tôi hơn cách kia rất nhiều. "Mang tiếng xấu!" ông ta kêu lên, "không hề; có rất nhiều người đáng kính, người giàu có, à mà cả những người sang trọng nữa, vẫn lặn lổm mỗi ngày. Tôi đã thấy khối vị công tử mặc áo viền ren dùng bữa ở đó một cách vô cùng thoải mái chỉ với ba xu rưỡi, rồi sau đó đi đến quán cà phê để sánh vai với những vị huân tước quyền quý nhất trong vùng; nhưng chính mắt các anh sẽ được chứng kiến — hôm nay tôi sẽ đi cùng để dẫn đường cho các anh."
Theo đó, ông dẫn chúng tôi đến một con hẻm nọ, dừng lại và bảo chúng tôi hãy chú ý quan sát, làm theo những gì ông làm, rồi bước đi vài bước, lao ù xuống một căn hầm và biến mất trong chớp mắt. Tôi làm theo gương ông, trượt xuống một cách vô cùng suôn sẻ và thấy mình đang đứng giữa một quán ăn bình dân, gần như ngạt thở vì hơi nước bốc lên từ món thịt bò luộc, xung quanh vây quanh bởi một đám đông gồm những gã đánh xe ngựa thuê, những kẻ khiêng kiệu, phu xe chở hàng, và vài tên đầy tớ đang thất nghiệp hoặc nhận tiền cơm; họ đang ngồi ăn bắp bò, lòng lợn, chân giò bò hoặc xúc xích tại những chiếc bàn ăn riêng biệt được trải khăn khiến tôi phát cuộn ruột gan. Trong lúc tôi đang ngẩn ngơ đứng đó, lưỡng lự không biết nên ngồi xuống hay đi ngược lên trên, thì Strap trong lúc bước xuống đã bước hụt một bậc, ngã cắm đầu vào cái quán ăn âm phủ này và hất ngã nhào mụ đầu bếp đúng lúc mụ đang bưng bát súp đem cho một vị khách. Trong cú ngã, mụ hất toàn bộ chỗ thức ăn vào chân của một tên lính đánh trống thuộc đội cận vệ hoàng gia — kẻ vô tình đứng cản đường mụ — khiến hắn bị bỏng nặng đến mức bật dậy, nhảy nhót tưng tưng và thốt ra một tràng những lời nguyền rủa làm tóc gáy tôi dựng đứng cả lên.
Trong lúc hắn đang mua vui cho mọi người bằng sự hùng biện mang phong cách rất riêng của mình, mụ đầu bếp lồm cồm bò dậy, và sau khi trút một tràng chửi rủa tơi bời lên đầu kẻ thủ ác tội nghiệp đang nằm co ro dưới gầm bàn với vẻ mặt thảm hại, mụ vốc một nắm muối đầy từ lọ muối, lột phăng chiếc vớ của nạn nhân ra (kéo theo cả lớp da thịt bong tróc), rồi đắp thẳng đống muối ấy vào vết thương. Miếng đắp vừa mới chạm vào thì tên lính đánh trống, vốn vừa dịu bớt tiếng kêu la, bỗng bật ra một tiếng hú thảm thiết khiến tất cả những người có mặt đều run lẩy bẩy; sau đó, chộp lấy một chiếc vại thiếc đựng bia đứng bên cạnh, hắn bóp bẹp dí hai bên thành vại như thể nó làm bằng da mềm, đồng thời nghiến ken két hàm răng với một vẻ mặt ghê rợn tột cùng. Đoán được nguyên nhân của cơn cuồng nộ dữ dội này, tôi bảo mụ phụ nữ rửa sạch lớp muối đi và bôi dầu vào vết thương, mụ liền làm theo và giúp hắn dịu cơn đau ngay lập tức. Nhưng ở đây lại phát sinh một rắc rối khác, chẳng phải chuyện gì khác ngoài việc mụ chủ quán khăng khăng bắt hắn phải đền tiền chiếc vại mà hắn đã làm cho hỏng bét. Hắn tuyên bố sẽ không đền bất cứ thứ gì ngoài những món hắn đã ăn, và bảo mụ hãy biết ơn vì sự ôn hòa của hắn, bằng không hắn sẽ kiện mụ vì tội gây tổn hại tài sản. Strap, lường trước được rằng mọi rắc rối sẽ đổ đầu mình, liền hứa sẽ bồi thường cho mụ đầu bếp và gọi một ly rượu gin để mời tên lính đánh trống, điều đó hoàn toàn làm dịu hắn lại và dập tắt mọi hiềm khích. Sau khi mọi chuyện được dàn xếp ổn thỏa, chủ nhà và chúng tôi cùng ngồi xuống một bàn và thưởng thức món bắp bò vô cùng ngon lành; tiền hóa đơn của chúng tôi tính ra chỉ có hai xu rưỡi mỗi người, đã bao gồm cả bánh mì và bia nhẹ.