Chúng tôi lên đường đi Châu Âu — Hiểu lầm nảy sinh giữa Viên thuyền trưởng và vị y sĩ do những lời vu khống đê tiện của Crampley — Thuyền trưởng qua đời — Crampley hoành hành vị y sĩ, khiến ông ngã bệnh rồi bỏ mạng vì sự tàn nhẫn của y — Tôi cũng bị đối xử tệ bạc — Tàu mắc cạn — Thái độ của Crampley và các thủy thủ trong hoàn cảnh ấy — Tôi lên được bờ, thách đấu đơn độc với Thuyền trưởng — Bị đánh úp một cách phản bội, bị thương và bị cướp sạch.
Giờ đây, khi có thể trở về quê hương một cách đường hoàng, tôi cảm thấy vô cùng vui sướng vì được khuất mắt hòn đảo định mệnh ấy, nơi đã chôn vùi biết bao sinh mạng người Châu Âu. Hơn nữa, vì được chuẩn bị mọi thứ để chuyến hải hành diễn ra suôn sẻ, tôi tự nhủ sẽ tận hưởng trọn vẹn chừng nào sự hống hách của Crampley còn cho phép. Tên kẻ cả xảo trá này đã kịp tìm cách gây ra sự bất hòa giữa vị y sĩ và viên thuyền trưởng vốn dĩ đã vô cùng cáu kỉnh do tuổi già sức yếu, lại thêm tính khí trở nên cay độc sau chuỗi dài những bất như ý. Lão có ác cảm đặc biệt với tất cả những người trẻ tuổi, nhất là các y sĩ mà lão coi là những sinh vật thừa thãi trên tàu. Vì quan niệm ấy, lão chẳng bao giờ thèm hỏi ý kiến bác sĩ dẫu đang lên một cơn thống phong và sỏi thận nặng, mà chỉ trông cậy vào một thùng gin Hà Lan—vương dược trị bách bệnh của lão. Không rõ lúc này lão uống quá ít hay quá liều linh dược ấy, chỉ biết rằng lão đã ra đi trong đêm mà chẳng cần một nghi thức nào—điều mà sinh thời lão vẫn luôn coi nhẹ. Sáng hôm sau, người ta phát hiện lão đã cứng đờ, khiến Crampley khôn xiết vui mừng vì nghiễm nhiên được lên nắm quyền chỉ huy con tàu. Cũng chính vì lý do đó mà anh Tomlins và tôi chẳng có gì để vui mừng trước sự kiện này, bởi chúng tôi e rằng ách bạo ngược của vị chỉ huy mới sẽ lộng hành chẳng kém gì quyền lực của lão. Ngày đầu tiên nắm quyền đã chứng thực nỗi lo sợ của chúng tôi: với cái cớ boong tàu quá chật chội, lão ra lệnh ném xuống biển những chiếc chuồng gà cùng toàn bộ gia cầm của y sĩ, đồng thời cấm cả tôi lẫn ông bén mảng lên boong sau.
Anh Tomlins không tài nào nhịn được bèn lên tiếng phàn nàn về những bất công ấy, và trong lúc tranh cãi đã buột miệng thốt ra vài lời nóng giận. Nắm lấy sơ hở đó, Crampley giam lỏng anh trong phòng riêng, khiến chỉ ít ngày sau, vì ngột ngạt thiếu khí trời, anhâm ỷ phát cơn sốt rồi nhanh chóng qua đời. Trước khi mất, anh đã lập di chúc để lại toàn bộ gia sản động sản lẫn bất động sản cho người em gái, đồng thời trao lại cho tôi chiếc đồng hồ cùng bộ dụng cụ y khoa làm kỷ vật tình bạn. Cõi lòng tôi đau đớn khôn cùng trước sự kiện tang tóc này, nhất là khi trên tàu chẳng còn một ai để tôi giãi bày tâm sự, hay tìm kiếm dù chỉ một lời an ủi, mưu sĩ. Chẳng những không mảy may hối hận về sự tàn nhẫn của mình khi hay tin y sĩ qua đời, Crampley còn sỉ nhục vong linh ông bằng những lời lẽ cay độc nhất, quả quyết rằng ông đã tự tử vì quá sợ hãi phải ra trước tòa án quân sự vì tội làm phản. Cũng vì lý do ấy mà lão nhất quyết không cho đọc kinh cầu hồn cho xác ông trước khi ném xuống biển.
Chẳng có gì ngoài một sự giải thoát chớp nhoáng mới có thể giúp tôi trụ vững dưới ách thống trị tàn bạo của tên bạo chúa này. Để cuộc sống của tôi thêm phần khốn khổ, lão đã bóng gió với các bạn đồng ngũ rằng lão muốn tôi bị khai trừ khỏi nhóm. Lời đề nghị vừa buông xuống liền được họ hưởng ứng ngay; và thế là suốt chặng đường còn lại, tôi đành thui thủi ăn uống một mình cho đến khi chuyến hải hành chẳng mấy chốc mà kết thúc.
Chúng tôi đã lênh đênh trên biển được bảy tuần thì bác pháo thủ đến bẩm với thuyền trưởng rằng theo tính toán của anh, tàu hẳn đã tiến vào vùng biển nông, đồng thời xin lệnh thả dây dò độ sâu. Crampley gầm lên rằng lão chẳng biết cách định vị đường đi của tàu, vì chúng tôi còn cách vùng nước nông tới cả trăm hải lý, và do đó lão chẳng đời nào buồn nhọc công thả dây dò. Thế là chúng tôi cứ tiếp tục hải trình suốt buổi chiều và đêm hôm đó mà không hề thu bớt buồm, mặc cho pháo thủ quả quyết rằng đã nhìn thấy ngọn hải đăng Scilly. Sáng hôm sau, anh chính thức viết đơn khiếu nại hành vi của thuyền trưởng, và kết quả là bị giam giữ ngay lập tức. Suốt ngày hôm đó chúng tôi chẳng thấy bóng dáng đất liền đâu, và Crampley vẫn u mê đến mức bỏ bê việc dò độ sâu; thế nhưng vào lúc ba giờ sáng, con tàu đâm sầm vào một dải cát ngầm và mắc kẹt lại đó. Tai nạn này khiến toàn bộ thủy thủ đoàn hoảng loạn; chiếc xuồng cứu sinh lập tức được thả xuống, nhưng vì không thể nhận định được hướng bờ biển nằm ở đâu, chúng tôi đành ngậm ngùi chờ trời sáng. Trong lúc ấy, gió thổi mỗi lúc một mạnh, những con sóng đập vào mạn tàu dữ dội đến mức chúng tôi tưởng chừng con tàu sắp tan thành từng mảnh. Pháo thủ được thả ra và được hội ý; anh khuyên thuyền trưởng hãy chặt bỏ cột buồm để làm nhẹ tàu. Biện pháp này được tiến hành nhưng chẳng mang lại kết quả gì: đám thủy thủ thấy tình thế đã tuyệt vọng liền theo thói quen phá tung các hòm rương của sĩ quan, tự ý vơ lấy quần áo mặc vào, thản nhiên tu cạn số rượu dự trữ, để rồi cảnh say xỉn, náo loạn và hỗn độn bao trùm.
Giữa khung cảnh hỗn độn ấy, tôi chạy xuống dưới khoang để cất giữ tư trang cá nhân, và bắt gặp tên phụ tá thợ mộc đang dùng rìu phá phòng của quản lý tàu, miệng vẫn thản nhiên huýt sáo. Khi tôi gặng hỏi ý định của hắn, hắn điềm tĩnh đáp: “Tôi chỉ muốn nếm thử thùng rum của ngài quản lý thôi mà, thưa ngài.” Đúng lúc ấy, viên quản lý bước xuống, chứng kiến tài sản của mình tan nát liền cất lời oán thán cay đắng về sự bất công này, đồng thời vặn hỏi tên kia rằng sao lại còn tha thiết gì đến rượu chè trong khi chỉ ít phút nữa thôi, rất có thể hắn đã bước sang thế giới bên kia. “Xá gì chuyện đó,” tên kẻ cướp ngang nhiên đáp, “hãy cứ sống khi còn có thể.” “Đồ khốn nạn cùng đường!” viên quản lý kêu lên, “Rồi số phận ngươi sẽ trôi về đâu ở thế giới bên kia nếu ngươi chết đi trong lúc đang hành nghề cướp bóc?” “Chắc là xuống địa ngục thôi,” tên kia vừa đáp với vẻ hết sức ung dung, vừa lúc viên quản lý quỳ sụp xuống lạy trời khấn phật rằng xin Người chớ để tất cả chúng tôi phải bỏ mạng chỉ vì một kẻ mang vận xui xẻo.
Trong lúc cuộc đối thoại ấy diễn ra, tôi tự mặc lên người bộ đồ ngủ, giắt dao găm, cài những khẩu súng ngắn đã nạp đạn vào thắt lưng, thu vén toàn bộ tài sản có giá trị mang theo bên mình, rồi leo lên boong tàu với quyết tâm chớp lấy cơ hội đầu tiên để vào bờ. Khi trời hửu sáng, bờ biển hiện ra cách đó chừng ba dặm về phía trước. Thấy mọi nỗ lực giải cứu con tàu đều vô ích, Crampley quyết định tự mưu sinh bằng cách bước xuống xuồng. Hành động vừa dứt thì đám thủy thủ ùa theo đông nghịt, khiến chiếc xuồng suýt chìm ngay mạn tàu nếu không nhờ một người khôn ngoan hơn đã nhanh tay cắt đứt thừng kéo và đẩy xuồng ra xa. Thế nhưng trước khi điều đó xảy ra, tôi đã chật vật tìm cách leo lên mấy bận nhưng lần nào cũng bị thuyền trưởng cản trở. Lão tìm mọi cách hất cẳng tôi phũ phàng đến mức chẳng màng tới nỗ lực của bất kỳ ai khác. Tức giận trước sự thiên vị vô nhân đạo này và thấy sợi thừng đã bị cắt đứt, tôi rút một khẩu súng ngắn từ thắt lưng, lên cò và thề sẽ bắn hạ bất kỳ kẻ nào cả gan cản đường mình bước lên. Dứt lời, tôi dồn hết sức lực lao mạnh một cú và nhảy được lên xuồng, đổi lại là lớp da cẳng chân bị tuột rách toe toét. Trong lúc lao xuống, tôi vô tình đè ngã Crampley. Vừa lồm cồm bò dậy, lão liền vung dao rựa chém xối xả vào tôi và thét đám đông ném tôi xuống biển; nhưng lúc này ai nấy đều bận lo cho tính mạng bản thân nên chẳng màng đoái hoài gì đến lệnh của lão. Dù chiếc xuồng chở nặng trĩu và sóng biển cao ngất trời, chúng tôi vẫn xoay sở đặt chân được lên mảnh đất khô cằn chỉ chưa đầy một giờ sau khi rời khỏi con tàu. Ngay khi đặt chân lên đất liền, nỗi phẫn uất âm ỉ bấy lâu trong tôi bùng cháy dữ dội hướng về phía Crampley. Tôi lập tức thách đấu đơn độc với lão, chìa hai khẩu súng ngắn ra để lão tùy ý chọn một cây. Lão chớp lấy một cây mà chẳng mờ vân do dự, và khi tôi còn chưa kịp lên cò khẩu súng của mình, lão đã nã đạn thẳng vào mặt tôi rồi ném luôn khẩu súng theo đường đạn. Tôi thấy đầu óc choáng váng, đinh ninh rằng viên đạn đã găm vào đại não, bèn siết cò bắn trả thật nhanh để kịp chết mà không ôm hận. Đoạn, tôi lao sầm vào kẻ thù, dùng báng súng đập gãy phăng mấy chiếc răng cửa của lão và chắc chắn đã tiễn lão về chầu diêm vương bằng thứ khí giới ấy nếu lão không kịp giật mình thoát ra và với lấy thanh dao rựa đã trao cho tên đầy tớ lúc nhận súng. Thấy lão lăm lăm vũ khí trong tay, tôi rút dao găm, ném thẳng khẩu súng vào đầu lão, rồi trong cơn cuồng nộ lao vào giáp lá cà, đâm thẳng vũ khí vào miệng lão, khiến vết thương rách toạc sang tận mang tai. Không rõ cơn đau từ vết thương ấy làm lão mất phương hướng hay do địa hình gập ghềnh khiến lão lảo đảo, chỉ biết là lão lùi lại mấy bước. Tôi bám sát gót, chỉ một nhát chém đứt phăng gân mu bàn tay khiến thanh dao rựa tuột khỏi tay lão, để mặc lão trong tình trạng hoàn toàn tay không tấc sắt. Chẳng biết cơn thịnh nộ lúc đó có thể xui khiến tôi hành xử tàn nhẫn đến mức nào nếu như ngay khoảnh khắc ấy, tôi không bị đánh gục xuống đất bởi một cú đánh trời giáng vào sau gáy, khiến mọi giác quan tắt lịm. Trong hoàn cảnh bi đát ấy, mặc cho sự cuồng nộ của một tên bạo chúa khát máu và thói cướp bóc của một lũ thủy thủ vô nhân tính vây quanh, tôi nằm bất động suốt một khoảng thời gian dài. Chẳng thể biết liệu có cuộc tranh chấp nào nổ ra giữa bọn chúng trong lúc tôi bất tỉnh nhân sự hay không, nhưng có một điều bọn chúng tỏ ra vô cùng đồng lòng, hành động cực kỳ tháo vát và nhanh gọn: khi tôi tỉnh lại và ý thức phục hồi, tôi thấy mình trơ trọi giữa một vùng đất hoang vu, trên người bị lột sạch quần áo, tiền bạc, đồng hồ, khuy giày, chẳng còn lại gì ngoài đôi giày, đôi tất, quần cộc và chiếc áo sơ mi. Một sự thật bẽ bàng làm sao đối với tôi, kẻ chỉ mới cách đó một giờ còn đang nắm trong tay sáu mươi đồng ghine tiền mặt! Tôi nguyền rủa giờ phút mình cất tiếng khóc chào đời, nguyền rủa sinh thành đã ban cho tôi thân xác này, nguyền rủa biển khơi đã không nuốt chửng tôi đi, nguyền rủa nhát dao của kẻ thù đã chẳng tìm được đường đâm thủng trái tim tôi, nguyền rủa sự tàn độc của những kẻ đã bỏ rơi tôi giữa chốn khốn cùng này; và trong cơn tuyệt vọng cùng cực, tôi chỉ muốn nằm yên một chỗ rồi cứ thế mà chết quách đi.