Hôm sau, trong lúc tôi đang làm việc ở cửa hàng, một ả thiếu nữ phổng phao ăn mặc chưng diện bước vào với cái cớ tìm mua một chiếc lọ nhỏ để dùng việc này việc nọ; rồi nhân cơ hội tưởng rằng tôi không để ý, ả săm soi tôi từ đầu đến chân, đoạn bỏ đi với một cái liếc mắt đầy vẻ khinh miệt. Tôi dễ dàng đoán được tâm tư của ả, và lòng kiêu hãnh của tôi liền hạ quyết tâm cũng sẽ tỏ ra dửng dưng và phớt lờ y như vậy đối với ả. Đến bữa ăn, mấy cô người làm — những người cùng ăn với tôi ở nhà bếp — cho tôi hay rằng đây chính là cô con gái độc châu của ông chủ, người sẽ được thừa hưởng một gia tài kếch xù; chính vì của hồi môn hậu hĩnh ấy cùng với nhan sắc của ả mà biết bao thanh niên công tử đã đến tán tỉnh — rằng ả đã có hai lần suýt bước lên xe hoa, nhưng đều lỡ dở vì tính keo kiệt của người cha, lão nhất định không chịu bỏ ra một xu để vun vén cho cuộc hôn nhân; cũng vì lý do ấy mà cô tiểu thư đã không đối xử với cha mình bằng trọn vẹn lòng kính trọng hiếu thảo như người ta vẫn mong đợi. Cụ thể là ả căm ghét cay đắng những người đồng hương của lão; trong thái độ này, ả rất giống mẹ mình, vốn là một người phụ nữ Anh; và qua những lời bóng gió họ hé lộ, tôi biết được rằng cái gót sắt mới là kẻ nắm quyền trong nhà — rằng bà chủ là một người phụ nữ tính tình cao ngạo, thường hay trút uy quyền lên đầu những kẻ ăn kẻ ở dưới quyền; rằng bà rất thích những chốn vui chơi giải trí, và xem cô tiểu thư như đối thủ cạnh tranh của mình trong mọi cuộc hội hè — đó mới thực sự là nguyên nhân sâu xa của những mối tình đứt gánh giữa đường; bởi lẽ nếu người mẹ thực sự sốt sắng vun vào cho con gái, thì ông bố đã chẳng dám chối từ những đòi hỏi ấy. Ngoài những thông tin trên, bản thân tôi chẳng mấy chốc còn khám phá ra nhiều điều khác. Những cái nhe răng đầy ngụ ý của ông Lavement hướng về phía vợ khi bà đang quay mặt đi chỗ khác, đã thuyết phục tôi rằng ông hoàn toàn không mệt mỏi hay hài lòng gì với số phận của mình; còn thái độ của ông trước mặt vị đại úy lại khiến tôi tin rằng nỗi dằn vặt lớn nhất của ông chính là cơn ghen tuông. Về phần mình, tôi chẳng được nhìn nhận khác hơn ngoài thân phận của một tên đầy tớ sai vặt, và đã sáu ngày trôi qua trong ngôi nhà này mà tôi chưa từng nhận được lấy một lờiân mẫn từ cả mẹ lẫn con gái; người sau (như tôi nghe mấy cô hầu bàn kể lại) đã có lần thốt lên đầy vẻ ngạc nhiên ngay tại bàn ăn rằng tại sao tía lại đi thuê một gã thợ học việc vừa lóng ngóng vừa có vẻ mặt tầm thường đến thế. Tôi vô cùng cay cú trước mẩu thông tin này, và vào Chủ nhật tuần tới (đến phiên tôi được nghỉ ngơi giải khuây), tôi đã chưng diện bộ quần áo mới một cách bảnh bao nhất có thể, và nếu gạt bỏ tính tự phụ sang một bên, thì trông tôi cũng chẳng đến nỗi nào.
Sau khi trải qua phần lớn thời gian trong ngày bên cạnh Strap và vài người quen của anh ta, tôi trở về nhà vào buổi chiều và được cô tiểu thư mở cửa cho vào; vì không nhận ra tôi, ả liền nhún chân chào một cái thật thấp khi tôi bước tới, và tôi cũng cúi gập người đáp lễ thật sâu rồi khép cửa lại. Lúc tôi vừa quay người đi, ả đã nhận ra sự nhầm lẫn của mình, mặt biến sắc nhưng vẫn không chịu bước tránh ra. Con hẻm quá đỗi chật chội, tôi không tài nào lách qua mà không va phải người ả; thế nên tôi đành bất động tại chỗ với đôi mắt dán chặt xuống mặt đất và gương mặt đỏ bừng vì xấu hổ. Cuối cùng, sự kiêu hãnh đã tiếp thêm can đảm cho ả, ả bỏ đi với tiếng cười khúc khích trong cổ họng và tôi còn nghe kịp thốt lên từ “đồ con lợn!” hay một từ nguyền rủa tương tự. Kể từ ngày hôm đó, ả ghé qua cửa hàng tới năm mươi bận mỗi ngày với đủ mọi lý do viện cớ khác nhau, và giở ra bao nhiêu là điệu bộ lố bịch đến mức tôi dễ dàng nhận ra quan điểm của ả về tôi đã thay đổi, và rằng ả không còn xem tôi là một đối tượng chinh phục quá đỗi xoàng xĩnh nữa. Thế nhưng trái tim tôi đã sớm bị cõi lòng kiêu hãnh và sự hờn dỗi — hai thành phần cốt tử trong tính cách tôi — bao bọc kín mít trước những nét kiều diễm của ả, đến độ tôi hoàn toàn dửng dưng trước mọi chiêu trò đưa tình; và dẫu cho ả có chủ động bật đèn xanh đôi chút, tôi vẫn quyết không mảy may ban phát cho ả một chút chú ý nào. Sự phớt lờ lạnh lùng này chẳng mấy chốc đã quét sạch mọi ấn tượng tốt đẹp mà ả từng dành cho tôi, nhường chỗ cho cơn thịnh nộ của một người phụ nữ bị khinh miệt ngự trị trong tâm hồn; điều này được ả thể hiện không chỉ qua mọi mưu mô thủ đoạn mà sự độc ác có thể sáng chế ra để bôi nhọ tôi trước mặt cha mình, mà còn qua việc trù úp tôi vào những công việc sai vặt hạ tiện với hy vọng sẽ bẻ gãy được ý chí ngạo mạn của tôi. Có một bận nọ, ả ra lệnh cho tôi phải đi chải chiếc áo khoác của ông chủ; nhưng tôi kiên quyết từ chối, thế là một cuộc cãi vã nảy lửa diễn ra, kết thúc bằng việc ả giận tím mặt lăn ra khóc rấm rứt; đúng lúc ấy người mẹ xen vào, tra xét ngọn nguồn sự việc và phán quyết phần thắng thuộc về tôi; và ơn huệ tốt lành này tôi có được không phải do bất kỳ lòng quý mến hay nể nang nào mà bà dành cho tôi, mà hoàn toàn xuất phát từ mong muốn chọc tức cô con gái — nhân dịp này, cô nàng liền bóng gió rằng dù người ta có đúng đến đâu đi chăng nữa, thì vẫn có những hạng người chẳng bao giờ chịu công minh cho họ, nhưng chắc chắn họ phải có lý do riêng của mình mà một số kẻ dẫu ngu muội chẳng biết gì vẫn cứ thích tỏ ra khinh miệt những trò mọn ấy. Câu bóng gió ám chỉ “những hạng người” với “một số kẻ” này đã thúc đẩy tôi phải chú ý quan sát kỹ càng hơn nữa thái độ của bà chủ trong thời gian tới; và chẳng mất bao lâu để tôi có cơ sở tin rằng bà đang xem cô con gái chính là một đối thủ cạnh tranh sự sủng ái của Đại úy O’Donnell, người đang trọ tại gia đình này.
Trong khoảng thời gian đó, sự chuyên cần và hiểu biết của tôi đã mang lại cho tôi thiện cảm từ ông chủ, người thường hay xuýt xoa bằng tiếng Pháp rằng: “Mardy! c’est un bon garçon.” Công việc làm ăn của lão rất nhiều; nhưng vì hầu hết khách hàng toàn là kiều bào tị nạn đồng hương, nên lợi nhuận thu về chẳng đáng là bao. Mặc dù vậy, khoản chi phí dành cho thuốc men lại chẳng thấm vào đâu; bởi lão là một tay cự phách nhất trong việc dùng thuốc thay thế so với bất kỳ dược sĩ nào ở London, đến độ có đôi khi tôi phải ngạc nhiên đến ngây người khi chứng kiến lão tỉnh bơ bốc theo đơn thuốc của bác sĩ mà trong tiệm chẳng có lấy một vị thuốc nào được ghi tên trong ấy. Vỏ hàu thì lão phù phép thành bột mắt cua; dầu ăn thông thường thì biến thành dầu hạnh nhân ngọt; si-rô đường thì hóa thành si-rô nhựa thơm; nước sông Thames thì thành nước quế; và hàng trăm chế phẩm đắt tiền khác được sản xuất ra trong chớp mắt từ những loại dược liệu rẻ tiền và thô kệch nhất của ngành y dược: và khi có một thứ thông thường nào đó được kê toa cho bệnh nhân, lão luôn chu đáo ngụy trang nó bằng màu sắc hoặc mùi vị, hoặc cả hai, sao cho không tài nào nhận ra được; để phục vụ mục đích ấy, phẩm đỏ cochineal và dầu đinh hương đóng vai trò cực kỳ đắc lực. Ông Lavement đã không dưới một lần mưu toan đưa chế độ ăn chay vào gia đình bằng cách tuôn ra những lời tán tụng hết lời dành cho các loại củ quả rau xanh, đồng thời lớn tiếng bài xích việc ăn thịt dưới cả lứa vai một y sĩ lẫn một nhà triết học; thế nhưng dẫu cho tài hùng biện của lão có ghê gớm đến đâu cũng chẳng thể thu phục nổi một tín đồ nào theo quan điểm của lão, và ngay cả người vợ đầu ấp tay gối với lão cũng đứng lên chống lại đề xuất ấy.
Vào một buổi chiều nọ, khi người chồng đã đi vắng còn cô con gái thì sang nhà hàng xóm thăm hỏi, bà chủ liền sai tôi đi gọi một chiếc xe ngựa cho thuê, rồi cùng vị đại úy ngồi xe phóng thẳng về phía Covent Garden. Đến chập tối thì cô tiểu thư trở về nhà, dùng bữa tối như thường lệ rồi lui về phòng đi ngủ. Khoảng mười một giờ đêm, ông chủ bước vào nhà và cất giọng hỏi xem vợ mình đã đi ngủ chưa: nghe vậy, tôi liền thưa rằng chiều nay bà chủ đã đi ra ngoài và vẫn chưa thấy về. Câu nói ấy chẳng khác nào một tiếng sét đánh ngang tai đối với viên dược sĩ tội nghiệp, lão giật nẩy mình lùi lại phía sau, miệng kêu lên: “Mort de ma vie! vat you tell a me? My vife not at home!” Ngay lúc ấy, gia nhân của một bệnh nhân mang đến một đơn thuốc sắc, cầm lấy tờ đơn trên tay, ông chủ vội vã lao ra quầy tự tay mình cất bốc. Trong lúc đang nghiền nát các nguyên liệu trong chiếc cối thủy tinh, lão gặng hỏi tôi xem có phải vợ mình đi ra ngoài một mình hay không; và vừa nghe tin bà đi cùng với đại úy, lão liền giáng một quyền đập nát bừng chiếc cối thành hàng ngàn mảnh vụn, mặt nhăn nhó gớm ghiếc như cái thủ của một cây đàn vi-ô-lông trầm, rồi gầm lên: “Ah, traitresse!” Tôi suýt chút nữa đã không thể giữ được vẻ mặt nghiêm túc thêm một phút nào nữa, thì may thay lại được giải cứu bởi tiếng gõ cửa dồn dập; tôi vội chạy ra mở và nhận ra bà chủ đang bước xuống từ chiếc xe ngựa. Bà hầm hầm hất hàm bước thẳng vào cửa hàng, cất giọng đon đả với chồng: “Chắc anh tưởng em lạc mất rồi chứ gì, mình ơi. Đại úy O’Donnell rất tốt bụng đã mời em đi xem kịch đấy.” Câu trả lời đáp lại, có lẽ ai cũng đoán được, chẳng có lấy một chút lịch sự nào; nhưng vị đại úy — người nãy giờ vẫn đứng ngoài cửa để thanh toán tiền xe — lúc này mới thong thả bước vào, và ông Lavement, liền thay đổi ngay thái độ, đon đả chào đón vị khách bằng tất cả sự lịch thiệp quen thuộc của một người Pháp.
Chẳng bao lâu sau sự kiện này, nhờ vào vốn hiểu biết mà tôi tích lũy được về những góc khuất trong gia đình, cuộc sống của tôi đã trở nên dễ thở hơn rất nhiều; và khi mà ngày qua ngày tôi càng rành rẽ hơn về đường sá phố phường nơi đô thị, tôi đã dần rũ bỏ được dáng vẻ lóng ngóng vụng về ban đầu để khoác lên mình phong thái lịch thiệp của một gã dược sĩ tài hoa.