Trong khi ông đang trò chuyện với tôi, chúng tôi nghe thấy một giọng nói vang lên từ cầu thang hầm tàu, phát âm với vẻ đầy phẫn nộ và một thứ thổ âm lạ lẫm: "Quỷ tha ma bắt ta khỏi đỉnh Monchdenny, nếu ta thèm đến gặp hắn trước khi có gì đó lót dạ. Mặc cho mũi hắn vàng như nghệ, hay xanh như lá hẹ (nhìn đây), hoặc tái xám như cái ao đi chăng nữa, thì cũng thế cả thôi." Đáp lại lời tuyên bố này, có tiếng người nói: "Xem chừng bạn ăn chung khốn khổ của tôi sắp đứt hơi đến nơi rồi vì thiếu chút cứu giúp. Cánh buồm trước của anh ta đã buông lỏng cả rồi; với lại bác sĩ đã ra lệnh cho anh phải đi khám bệnh cho anh ta; nhưng tôi thấy anh chẳng màng gì đến lời chủ mình nói cả." Đến đây, anh ta bị cắt ngang bởi tiếng la: "Nanh nọc với xơ mướp! Thằng rận rách kia, mày gọi ai là chủ tao hả? Cút ngay đến chỗ bác sĩ, rồi kể cho hắn nghe về nguồn gốc, học thức và năng lực của tao; hơn nữa, phép tắc của tao cũng đường hoàng chẳng kém gì hắn, hay bất kỳ quý ông nào (không có ý mạo phạm đâu nhé) trên khắp thế giới này. Chúa phù hộ linh hồn tôi, thế hắn tưởng, hoặc nghĩ, hoặc ngờ rằng tôi là con ngựa, con lừa, hay con dê chắc, mà cứ phải lúp xúp chạy ngược chạy xuôi, leo lên trèo xuống, hết đường biển đến đường bộ theo ý thích của hắn ư? Biến đi cho khuất mắt, đồ vô lại, rồi bảo bác sĩ Atkins rằng tôi tha thiết cầu xin ông ấy ghé mắt ngó tới kẻ đang hấp hối kia, và cho chút thuốc thang dù hắn còn sống hay đã chết, rồi tôi sẽ trông chừng hắn uống sau, khi mà cái dạ dày đang đói cào cào này của tôi được lót dạ đã, rõ chưa." Nghe vậy, người kia bỏ đi, và bảo rằng "nếu họ đối xử với anh ta như thế lúc lâm chung, thề có Chúa, anh ta sẽ hiện về tính sổ với họ ở thế giới bên kia." Lúc này, ông Thompson cho tôi biết người mà chúng tôi vừa nghe chính là ông Morgan, trợ lý y bác sĩ cả, vừa mới lên tàu từ bệnh xá nơi ông đã đi theo chăm sóc một số bệnh nhân vào buổi sáng; cùng lúc đó, tôi thấy ông bước vào khoang. Ông là một người thấp đậm, với gương mặt lốm đốm mụn nhụt, chiếc mũi hếch ngược lên ở chóp, cái miệng rộng quá cỡ, và đôi mắt nhỏ đỏ ngầu, được bao quanh bởi làn da chi chít những nếp nhăn nheo.
Người bạn của tôi lập tức giới thiệu ông với hoàn cảnh của tôi; bấy giờ ông nhìn tôi bằng ánh mắt hết sức kiêu kỳ, nhưng không nói lời nào, đặt cái bói hàng mang theo xuống và tiến lại gần chiếc tủ chén. Khi mở cửa tủ ra, ông liền kêu lên đầy giận dữ: "Chúa là sinh mệnh của tôi, toàn bộ thịt lợn đã biến sạch, thề có đức tin Kito giáo!" Thompson bèn giải thích rằng, vì tôi được đưa lên tàu trong tình trạng đói lả, anh không thể làm gì khác ngoài việc khoản đãi tôi những gì có sẵn trong tủ, nhất là khi anh đã bảo người quản gia ghi tên tôi vào nhóm ăn chung. Không biết việc hụt hẫng này có làm ông Morgan khó tính hơn ngày thường hay không, hoặc ngầm nghĩ rằng bản thân không được người bạn đồng nghiệp coi trọng đúng mức, nhưng sau một lúc ngập ngừng, ông tiếp lời: "Anh Thompson, có lẽ anh không đối xử với tôi bằng tất cả sự lịch sự, nhã nhặn và kính trọng (nhìn đây) đáng lẽ anh phải có, bởi vì anh đã chẳng thèm đếm xỉa gì đến tôi trong vụ này. Trong đời mình (nhìn đây), tôi từng là một người có trọng lượng, có thế lực, có vị thế, từng tậu nhà tậu cửa, đóng thuế đầy đủ cho nhà vua; chao ôi, lại còn gánh vác cả một gia đình trên vai nữa chứ. Hơn thế nữa, tôi lại là người lớn tuổi hơn, cao niên hơn, và bề trên của anh, anh Thompson." "Về tuổi tác thì tôi nhận anh lớn hơn, nhưng còn bề trên thì không đời nào!" Thompson đáp lại với chút bực dọc. "Chúa là vị cứu thế và cũng là nhân chứng của tôi," Morgan lớn tiếng quả quyết, "rằng tôi nhiều tuổi hơn, và do đó đáng mặt bề trên hơn anh nhiều năm."
Sợ rằng cuộc cãi vã này có thể dẫn đến hậu quả tồi tệ, tôi liền xen vào và thưa với ông Morgan rằng tôi rất tiếc vì đã trở thành nguyên nhân gây ra sự bất hòa giữa ông và vị trợ lý thứ hai; và rằng, thà tự ăn phần của mình hoặc xin vào nhóm khác còn hơn là gây ra dù chỉ là một rạn nứt nhỏ trong sự hòa hợp của họ. Nhưng Thompson, với lòng nhiệt huyết nhiều hơn sự khôn ngoan (theo suy nghĩ của tôi), vẫn khăng khăng đòi tôi ở lại nơi anh đã sắp xếp; đồng thời nhận định rằng chẳng có người đàn ông nào có lòng quảng đại và trắc ẩn lại đi phản đối điều này, nhất là khi xét đến gia thế, tài năng cùng những bất hạnh mà tôi vừa phải gánh chịu một cách bất công.
Điều này đã chạm đúng vào điểm nhạy cảm của ông Morgan, và ông nhiệt thành tuyên bố rằng bản thân chẳng có ý kiến gì về việc thu nhận tôi vào nhóm ăn chung; ông chỉ phàn nàn vì thủ tục xin phép ông đã bị bỏ qua mà thôi. "Còn về một quý ông đang buổi hoạn nạn," ông nói, bắt tay tôi thật chặt, "tôi yêu quý cậu ấy như ruột thịt của mình vậy: vì Chúa giúp tôi khốn đốn! Bản thân tôi cũng gặp đủ nỗi muộn phiền trên cái lưng này rồi." Và như tôi được biết sau đó, lời ông nói hoàn toàn là sự thật; bởi vì ông từng có một cơ ngơi rất đàng hoàng ở Glamorganshire, nhưng rồi lại tán gia bại sản vì đứng ra bảo lãnh nợ cho một người quen. Khi mọi bất hòa đã được hòa giải, ông cởi gói đồ của mình ra, gồm ba chùm hành tây và một tảng phô mai Cheshire lớn được bọc trong một chiếc khăn tay; rồi lấy từ trong tủ ra ít bánh quy, và lao vào ăn ngấu nghiến với một niềm hứng khởi lớn, không quên mời chúng tôi cùng chia sẻ bữa ăn. Sau khi đã ăn no nê món ăn dân dã ấy, ông rót đầy một chiếc cốc lớn làm bằng vỏ quả dừa đựng rượu mạnh, nốc cạn một hơi, rồi bảo với chúng tôi rằng: "Rượu mạnh chính là chất dung môi tuyệt hảo nhất cho hành tây và phô mai."
Khi cơn đói đã được xoa dịu, tâm trạng ông vui vẻ hẳn lên; và khi tò mò gặng hỏi về gia thế của tôi, vừa nghe tin tôi xuất thân từ một dòng dõi danh giá, ông lập tức bày tỏ thiện cảm đặc biệt với tôi vì lý do đó, tự nhận mình có huyết thống trực hệ từ vị vua Caractacus nổi tiếng của người Britons — người từng là tù nhân và sau đó là bạn của Claudius Caesar. Nhận thấy quần áo của tôi đã rách rưới tả tơi, ông liền tặng tôi hai chiếc áo sơ mi viền đăng ten rất đẹp, kết hợp với hai chiếc áo kẻ sọc khác mà tôi nhận được từ ông Thompson, đã giúp tôi có thể đàng hoàng diện kiến mọi người.
Trong khi đó, người thủy thủ được ông Morgan phái đi tìm bác sĩ đã mang đơn thuốc về cho bạn mình. Khi vị người xứ Wales đọc xong, ông đứng dậy chuẩn bị thuốc và hỏi xem "anh ta còn sống hay đã chết." "Chết thế nào được!" Jack đáp; "nếu chết rồi thì anh ta cần gì đến thứ thuốc men của bác sĩ nữa. Không, ơn Chúa, tử thần hãy còn chưa cập bến anh ta đâu. Nhưng họ đã kè kè chiến đấu suốt ba hồi kính rồi." "Mắt anh ta có mở không?" vị trợ lý hỏi tiếp. "Con mắt bên mạn phải," người thủy thủ nói, "thì mở, nhưng đã bị kẹt cứng trong đầu rồi; còn dây chằng của cái hàm dưới thì đứt lìa." "Ôi chao là lòng tôi!" Morgan kêu lên, "anh ta ngã bệnh nặng đến mức chẳng còn gì để mà mong muốn nữa rồi! Anh đã bắt mạch cho anh ta chưa?" Đáp lại câu hỏi này, người kia ngây ra thốt lên: "Hả?" Ngay lập tức, người con xứ Wales này với tất cả sự sốt sắng và lòng nhân đạo, ra lệnh cho tay thủy thủ chạy ngay đến chỗ người bạn cùng nhóm và giữ cho hắn sống sót cho đến khi ông mang thuốc tới, "và rồi," ông nói, "biết đâu anh sẽ được chứng kiến những điều mắt thấy tai nghe."
Anh chàng tội nghiệp với vẻ ngây ngô khờ khạo liền cạy cục chạy đến nơi người bệnh nằm, nhưng chưa đầy một phút sau đã quay lại với gương mặt thiểu não và báo tin rằng bạn của anh ta đã tắt thở. Nghe vậy, Morgan liền thốt lên: "Cầu Chúa cứu rỗi linh hồn tôi! Sao anh không giữ hắn lại cho đến khi tôi đến?" "Giữ thế nào được!" người kia cãi; "tôi đã gọi hắn mấy bận, nhưng hắn đã đi quá xa rồi, và kẻ thù đã chiếm đoạt khoang kín của hắn; thế nên hắn chẳng thèm đếm xỉa gì đến tôi nữa." "Thôi được rồi," ông nói, "ai rồi cũng phải trả món nợ cho thiên đàng cả. Cút đi, đồ vô lại, hãy xem đó là một tấm gương và lời cảnh tỉnh, rõ chưa, rồi mà sám hối cho những tội lỗi của mình." Nói đoạn, ông đẩy tên thủy thủ ra khỏi khoang.
Trong lúc chúng tôi đang chiêm nghiệm những suy ngẫm phù hợp với sự kiện này, thì tiếng còi gọi ăn trưa của bác thuyền trưởng vang lên; ngay lập tức, cậu bé phục vụ nhóm chúng tôi chạy đến chiếc tủ chén, lấy ra một chiếc mâm gỗ lớn, rồi chỉ ít phút sau đã quay lại với mâm đầy ắp đậu luồng sôi sùng sục, miệng không ngừng la lớn "Tránh ra nước sôi đấy" dọc suốt lối đi. Tấm khăn trải bàn, vốn là một mảnh buồm cũ, được trải ra ngay lập tức, bày lên trên ba chiếc đĩa mà nhìn màu sắc tôi phải rất khó khăn mới nhận ra chúng làm bằng kim loại, kèm theo ba chiếc thìa cũng làm từ chất liệu ấy, trong đó hai chiếc bị cụt cán và chiếc còn lại thì mẻ vành. Chính ông Morgan đã làm phong phú thêm món ăn này bằng một cục bơ muối được múc ra từ một chiếc lọ sành cũ, cùng một nhúm hành tây thái nhỏ rắc chút hạt tiêu xay. Tôi không hề cảm thấy thèm thuồng chút nào trước ngoại hình của món ăn này, mặc dù vậy, các bạn cùng nhóm vẫn ăn ngấu nghiến và khuyên tôi nên làm theo họ, vì hôm nay là ngày chay trường banyan và chúng tôi sẽ chẳng có miếng thịt nào cho đến trưa mai. Nhưng tôi đã kịp lót dạ đầy đủ cho dịp này rồi, nên xin phép được từ chối; đồng thời bày tỏ sự tò mò muốn biết ý nghĩa của ngày banyan là gì.
Họ liền bảo tôi rằng, vào các ngày Thứ Hai, Thứ Tư và Thứ Sáu, các thủy thủ trên tàu không được cấp khẩu phần thịt, và những ngày kham khổ này được gọi là ngày banyan, dù lý do tại sao lại gọi như vậy thì họ không rõ; nhưng về sau tôi mới hay tên gọi này bắt nguồn từ một giáo phái tu sĩ ở một số vùng thuộc Đông Ấn, những kẻ tuyệt nhiên không bao giờ ăn thịt.
Sau bữa trưa, Thompson dẫn tôi đi một vòng quanh tàu, chỉ cho tôi thấy các khu vực khác nhau, miêu tả công dụng của chúng, và trong khả năng có thể, giúp tôi làm quen với những nét chi tiết về kỷ luật cũng như cách thức sinh hoạt được áp dụng trên tàu. Anh liền yêu cầu bác thuyền trưởng cấp cho tôi một chiếc võng, được treo rất gọn gàng bởi người bạn Jack Rattlin của tôi; và vì tôi chẳng có chăn gối gì, anh đã đứng ra bảo lãnh với viên quản lý để tôi được cấp một tấm nệm cùng hai chiếc chăn. Bảy giờ tối hôm đó, Morgan đi thăm các bệnh nhân, và sau khi chỉ định những thứ cần thiết cho từng người, tôi phụ giúp Thompson pha chế thuốc; nhưng khi tôi đi theo anh mang thuốc vào khu vực bệnh xá, hay còn gọi là bệnh viện, và quan sát hoàn cảnh của các bệnh nhân, tôi ít cảm thấy ngạc nhiên trước việc người ta chết trên tàu, mà ngạc nhiên vì sao một người ốm lại có thể hồi phục được.
Ở đây, tôi chứng kiến khoảng năm mươi sinh linh khốn khổ mang bệnh tật, được treo lủng lẳng thành từng hàng, chồng chất lên nhau đến mức mỗi người chỉ có vỏn vẹn mười bốn inch không gian dành cho cả bản thân lẫn chiếc giường cùng chăn nệm của họ; bị tước đoạt cả ánh sáng ban ngày lẫn không khí trong lành; chẳng hít thở gì ngoài một bầu không khí tanh hôi bốc lên từ chính chất thải và thân xác bệnh tật của họ, bị rận chí sinh sôi từ đống rác rưởi xung quanh gặm nhấm, và hoàn toàn túng quẫn thiếu thốn mọi tiện nghi thiết yếu cho những con người ở trong hoàn cảnh bất lực ấy.