Chương về việc điều khiển con thuyền ở Âm giới.
Ôi, hỡi cái Chân nơi Bầu trời Phương Bắc, và nơi Dòng sông hiển hiện nhưng bất khả xâm phạm đó; ta trỗi dậy và xuất hiện trong ánh sáng như một vị thần, ta hiển hiện nhưng bất khả xâm phạm.
Ta trỗi dậy và hồi sinh, ta tự đem mình ra ánh sáng như một vị thần.
Ta kêu cạp cạp tựa như ngỗng Smen, nhưng ta sà xuống tựa Chim ưng trước những tấm lưới của Người thợ săn Vĩ đại.
Ta dong buồm băng qua Bầu trời, thần Shu đứng thẳng, và những vì sao Achmiu tức khắc hành động, dựng lên chiếc thang nâng những vì sao Lặn thoát khỏi cảnh diệt vong.
Và ta mang theo vật xua đuổi tai ương khi thực hiện hải trình qua Chân của thần Ptah.
Ta đến từ Hồ Lửa, từ Hồ Hỏa, và từ Cánh đồng Lửa, và ta hồi sinh...
Ta đứng thẳng trên chiếc Thuyền mà vị thần đang chèo lái... ở đầu Aarru, và những vì sao Achmiu rộng mở đón ta... cùng những cư dân đồng đạo của ta dâng lên ta những chiếc bánh thánh cùng thịt tế.
Ghi chú.
Chỉ có duy nhất một cuộn giấy cói từ thời kỳ cổ đại còn giữ được một phần của chương này, và nội dung cũng rất khiếm khuyết.
Khi tham khảo ấn bản của ông M. Naville, ta sẽ thấy rằng không chỉ tiêu đề mà phần lớn nội dung chương này đã bị hủy hoại. Các bản chép sau này có văn bản khác biệt rất nhiều so với nguyên bản, đến mức việc cố gắng phục hồi là không an toàn nếu không nằm trong những giới hạn rất nghiêm ngặt.
Thật vô lý khi cố gắng dịch từ một hỗn hợp các bản văn vừa khác biệt lại vừa thiếu chính xác.
1. Xem ghi chú chương 74. Dòng sông hiển hiện nhưng không thể chạm tới chính là Dải Ngân hà, và cái Chân chính là chòm sao Cassiopeia ở Bầu trời Phương Bắc.
2. Sà xuống. Sự so sánh này xuất hiện lặp đi lặp lại trong Các văn bản Kim tự tháp, và các văn bản khác của thời kỳ đầu.



3. Những vì sao Achmiu, bằng chứng khác cho thấy từ này nên được hiểu là một danh từ, chứ không phải một phủ định.






4. Xem chương 30A, về "Cá sấu phương Tây, kẻ sống nhờ những vì sao Lặn."
5. Như trên, nhưng có lẽ không chính xác. Tôi không dám lấp đầy những chỗ trống trong văn bản này.
6. Cư dân đồng đạo. Bản dịch ở đây tất yếu mang tính phỏng đoán. Nhưng tôi hiểu "cư dân đồng đạo" (συμπολῖται) là những người cùng ngụ trong thành phố mà người quá cố đã nói trong chương 17: "Ta đến được thành phố của riêng ta." Và thành phố này được giải thích bởi các học giả cổ đại là "Chân trời [hoặc, như cách dịch chính xác hơn của Lepsius là ‘der Sonnenberg’ - Núi Mặt trời] của cha ta, thần Tmu." Đây không phải là một thành phố trần thế, mà là một thành phố vĩnh hằng.



92. Tôi nhân cơ hội này để đính chính bản dịch trước đây của mình, nơi mà giới từ xuất hiện hai lần trong đoạn văn, cả hai đều được dịch bởi cùng một từ, "từ". Nhưng ý nghĩa của một giới từ thực sự phụ thuộc vào động từ đi sau nó. Cùng một từ tiếng Anh sẽ không phù hợp cho từ "de" trong tiếng Pháp ở cả hai trường hợp "s’approcher de" (tiến lại gần) và "s’éloigner de" (rời xa).
