Kể từ khi bốn người bạn mỗi người tự lo việc sắm sửa trang bị cho mình, giữa họ không còn những buổi họp mặt cố định nữa. Họ ăn tối riêng lẻ, bất cứ ở đâu có thể hoặc tình cờ ghé qua. Công vụ cũng chiếm một phần thời gian quý báu đang trôi đi vội vã ấy—chỉ là họ đã hẹn nhau mỗi tuần gặp mặt một lần, vào khoảng một giờ trưa, tại nhà của Athos, bởi vì anh, tuân theo lời thề mà mình đã tự đặt ra, không hề bước chân qua khỏi ngưỡng cửa.
Ngày hội ngộ này cũng chính là ngày Kitty đến tìm D’Artagnan. Ngay khi Kitty vừa rời đi, D’Artagnan liền rảo bước hướng về phố Férou.
Đến nơi, anh thấy Athos và Aramis đang đàm đạo chuyện triết lý. Aramis có chút ý định muốn quay lại với áo thầy tu. Còn Athos, theo nguyên tắc của mình, không hề khuyến khích cũng chẳng can ngăn. Athos tin rằng mỗi người nên được để cho tự do định đoạt ý muốn của bản thân. Anh chẳng bao giờ đưa ra lời khuyên trừ khi được hỏi, mà ngay cả khi ấy, anh còn đòi hỏi phải được hỏi đến hai lần.
— Nhìn chung, — anh nói, — người ta xin lời khuyên chỉ là để không làm theo nó; hoặc nếu có làm theo, thì là để có sẵn một kẻ đểổ lỗi vì đã đưa ra lời khuyên ấy.
Porthos đến chỉ một phút sau D’Artagnan. Bốn người bạn đã tề tựu đông đủ.
Bốn gương mặt thể hiện bốn tâm trạng khác nhau: Porthos thì thản nhiên, D’Artagnan tràn ngập hy vọng, Aramis bất an, còn Athos thì dửng dưng.
Sau vài phút trò chuyện, trong đó Porthos hé lộ rằng một quý bà có địa vị cao đã rủ lòng thương giúp anh thoát khỏi cảnh túng quẫn, Mousqueton bước vào. Hắn đến để thỉnh cầu chủ nhân mau trở về nhà, vì sự có mặt của ngài đang rất cấp bách, như lời hắn thảm thiết giãi bày.
— Có phải chuyện trang bị của ta không?
— Vâng cũng phải mà không phải ạ, — Mousqueton đáp.
— Ồ hay chớ, sao mày không nói rõ ra?
— Xin thưa ngài, mời ngài về rồi rõ.
Porthos đứng dậy, chào các bạn rồi theo chân Mousqueton. Chỉ một lát sau, Bazin xuất hiện ở ngưỡng cửa.
— Mày tìm ta có việc gì thế, hả bạn hiền? — Aramis lên tiếng với giọng điệu ôn hòa thường thấy ở anh mỗi khi tâm trí hướng về Giáo hội.
— Có một người muốn gặp thưa ngài tại nhà ạ, — Bazin đáp.
— Một người! Người nào?
— Một kẻ hành khất.
— Hãy bố thí cho hắn đi, Bazin, và bảo hắn cầu nguyện cho một kẻ tội lỗi nghèo hèn.
— Kẻ hành khất đó cứ nằng nặc đòi gặp ngài, và làm như thể ngài sẽ rất vui mừng khi gặp hắn.
— Hắn không gửi lời nhắn gì riêng cho ta à?
— Dạ có. Hắn bảo rằng: Nếu ngài Aramis còn do dự không muốn đến, hãy nói với ngài ấy rằng tôi đến từ Tours.
— Từ Tours ư! — Aramis kêu lên. — Xin ngài ngàn lần tha lỗi; nhưng chắc chắn người này mang đến cho tôi tin tức mà tôi đang hằng mong đợi. — Nói đoạn, anh cũng đứng dậy và bước đi với những sải chân thật nhanh. Lúc này chỉ còn lại Athos và D’Artagnan.
— Ta tin là mấy anh chàng này đã xoay sở xong việc của mình rồi. Cậu nghĩ sao, D’Artagnan? — Athos nói.
— Tôi biết Porthos đang tiến triển rất thuận lợi, — D’Artagnan đáp; — còn về phần Aramis, thú thật với anh, tôi chưa từng thực sự lo lắng cho cậu ấy. Nhưng còn anh, Athos thân mến—anh, người đã rộng lượng phân phát số tiền vàng pistole của tay quý tộc người Anh, vốn là tài sản hợp pháp của chúng ta—anh định làm gì đây?
— Tôi thấy thỏa mãn vì đã giết được tên gã đó rồi, cậu em ạ, bởi tiêu diệt một kẻ người Anh cũng giống như làm phước vậy; nhưng nếu tôi đút túi số tiền pistoles của hắn, chúng sẽ đè nặng lòng tôi chẳng khác nào một sự cắn rứt lương tâm.
— Thôi đi, Athos thân mến; anh lúc nào cũng có những ý nghĩ thật khó hiểu.
— Bỏ qua chuyện đó đi. Cậu nghĩ thế nào về việc Monsieur de Tréville đã nói với tôi, khi ông ấy ban ơn ghé thăm tôi hôm qua, rằng cậu đang qua lại với những kẻ người Anh đáng ngờ mà tên hồng y đang che chở?
— Ý ông ấy là tôi có lui tới với một phụ nữ người Anh—người mà tôi đã nhắc đến ấy.
— Ồ, ra vậy! người phụ nữ xinh đẹp mà vì cô ta tôi đã khuyên bảo cậu, nhưng tất nhiên là cậu chẳng thèm đếm xỉa đến.
— Tôi đã trình bày lý do với anh rồi mà.
— Phải; cậu tìm kiếm trang bị cho mình ở đó, tôi nghĩ cậu đã nói thế.
— Hoàn toàn không. Tôi đã nắm được chắc chắn một điều rằng người phụ nữ đó nhúng tay vào vụ bắt cóc Madame Bonacieux.
— Ừ, bây giờ thì tôi hiểu rồi: để tìm một người phụ nữ, cậu lại đi tán tỉnh một người phụ nữ khác. Đó là con đường vòng vèo nhất, nhưng chắc chắn cũng là thú vị nhất.
D’Artagnan suýt nữa thì kể hết mọi chuyện cho Athos nghe; nhưng có một mối bận tâm đã kìm chân anh lại. Athos là một quý ông, cực kỳ câu nệ những phép tắc danh dự; và trong kế hoạch mà chàng trai si tình của chúng ta đã vạch ra để đối phó với Milady, anh chắc chắn sẽ có những điều không được vị tu hành này đồng tình. Thế là anh giữ im lặng; và vì Athos là kẻ ít tò mò nhất trên đời, cuộc thổ lộ của D’Artagnan đành dừng lại ở đó. Do đó, chúng ta hãy tạm để hai người bạn chẳng còn chuyện gì quan trọng để nói với nhau này ở lại, và đi theo chân Aramis.
Ngay khi được thông báo rằng vị khách muốn gặp mình đến từ Tours, chúng ta đã thấy chàng thanh niên vội vã đuổi theo, hay đúng hơn là chạy trước cả Bazin như thế nào; anh chạy một mạch không nghỉ từ phố Férou đến phố Vaugirard. Vừa bước vào nhà, anh nhìn thấy một người vóc dáng thấp bé, đôi mắt tinh anh, nhưng trên người khoác những bộ rách rưới.
— Ngài tìm tôi đấy chứ? — Viên ngự lâm quân hỏi.
— Tôi muốn nói chuyện với Monsieur Aramis. Có phải ngài là người đó không thưa ngài?
— Chính là ta đây. Ngươi mang gì đến cho ta phải không?
— Vâng, nếu ngài cho tôi xem một chiếc khăn thêu nào đó.
— Nó đây, — Aramis nói, lấy từ ngực áo ra một chiếc chìa khóa nhỏ và mở một chiếc tráp bằng gỗ mun cẩn xà cừ nhỏ xíu, — nó đây. Ngươi xem đi.
— Đúng rồi, — kẻ hành khất đáp; — xin ngài hãy bảo người hầu lui ra.
Thực ra, vì quá tò mò muốn biết kẻ hành khất có chuyện gì với chủ nhân của mình, Bazin đã bám theo hắn sát nhất có thể, và cũng đến nơi gần như cùng lúc; nhưng sự nhanh chân ấy chẳng đem lại lợi ích gì cho hắn. Theo cái hiệu của kẻ hành khất, chủ nhân đã ra dấu cho hắn lui ra, và hắn buộc phải tuân lệnh.
Bazin vừa đi khuất, kẻ hành khất liền liếc nhanh xung quanh để chắc chắn không ai có thể nhìn hay nghe thấy mình, rồi hắn vạch chiếc áo rách rưới được giữ tạm bợ bằng một sợi dây da ra, bắt đầu rạch phần trên chiếc áo chẽn của mình, rút ra từ trong đó một bức thư.
Aramis thốt lên một tiếng reo vui khi nhìn thấy con dấu, anh hôn lên phần ngoài bức thư với vẻ tôn kính gần như thành kính, rồi bóc thư ra, bên trong có những dòng sau:
“Bạn của tôi ơi, ý trời muốn chúng ta còn phải xa cách nhau thêm một thời gian nữa; nhưng những ngày tháng tuổi trẻ tuyệt diệu đâu phải đã mất đi vĩnh viễn không ngày trở lại. Hãy làm tròn bổn phận của anh trong quân ngũ; em sẽ làm phần việc của mình ở nơi khác. Hãy nhận lấy những gì người mang thư trao cho anh; hãy tham gia chiến dịch như một trang nam nhi đích thực, và hãy nghĩ đến em, người đang âu yếm đặt nụ hôn lên đôi mắt đen của anh.
Vĩnh biệt; hay đúng hơn, hẹn gặp lại.”
Kẻ hành khất tiếp tục rạch lớp vải quần áo của mình; và lôi ra từ đống giẻ rách một trăm năm mươi đồng kép vàng pistole của Tây Ban Nha, đặt hết lên bàn; đoạn hắn mở cửa, cúi đầu chào rồi lùi ra ngoài trước khi chàng thanh niên, đang chết lặng vì bức thư, kịp cất lời với hắn.
Aramis lúc bấy giờ mới đọc lại bức thư một lần nữa, và nhận ra một lời tái bút:
Tái bút: Anh có thể cư xử lịch sự với người mang thư này, ngài ấy là một vị bá tước kiêm đại công tước xứ Tây Ban Nha đấy!
— Những giấc mơ vàng ngọc! — Aramis kêu lên. — Ôi cuộc đời tươi đẹp! Phải, chúng ta hãy còn trẻ; phải, chúng ta vẫn sẽ có những ngày tháng hạnh phúc! Tình yêu của anh, máu thịt của anh, cuộc đời của anh! Tất cả, tất cả, tất cả đều là của em, người tình tôn kính của anh!
Và anh say đắm hôn lên bức thư, thậm chí chẳng thèm liếc mắt nhìn đến đống vàng đang lấp lánh trên mặt bàn.
Bazin gõ cửa, và vì Aramis không còn lý do gì để từ chối nữa, anh liền bảo hắn bước vào.
Bazin há hốc mồm kinh ngạc khi thấy đống vàng, và quên béng mất mục đích đến đây là để thông báo về sự có mặt của D’Artagnan—người vì tò mò muốn biết kẻ hành khất là ai, nên đã sang tìm Aramis ngay khi vừa rời khỏi chỗ Athos.
Lúc này, vì D’Artagnan chẳng hề câu nệ khách sáo với Aramis, thấy Bazin quên xừ mất việc xướng danh, anh bèn tự xưng tên mình.
— Chaả chả! Aramis thân mến của tôi ơi, — D’Artagnan nói, — nếu đây là những quả mận được gửi từ Tours đến cho cậu, tôi xin cậu chuyển lời thăm hỏi hộ tôi đến người làm vườn đã hái chúng nhé.
— Cậu nhầm rồi, bạn D’Artagnan ạ, — Aramis nói, luôn tỏ ra dè chừng; — đây là tiền từ nhà xuất bản của tôi, họ vừa gửi trả tiền thù tác phẩm thơ viết bằng thể thơ một âm tiết mà tôi đã bắt đầu viết ở đằng kia.
— Ồ, vậy sao, — D’Artagnan nói. — Chà, nhà xuất bản của cậu thật quá đỗi hào phóng đấy, Aramis thân mến ạ, tôi chỉ có thể nói thế thôi.
— Sao cơ, thưa ngài! — Bazin kêu lên, — một bài thơ mà bán được giá đến thế này ư! Thật không thể tin nổi! Ôi thưa ngài, ngài cứ viết bao nhiêu tùy thích; ngài hoàn toàn có thể trở ngang hàng với Monsieur de Voiture và Monsieur de Benserade cho mà xem. Tôi thích thế đấy. Một nhà thơ cũng đáng giá chẳng kém gì một vị giáo sĩ đâu ạ. Ôi! Monsieur Aramis, xin ngài hãy trở thành nhà thơ đi thôi.
— Bazin, bạn hiền của ta, — Aramis nói, — ta tin là ngươi đang xía mũi vào chuyện trò chuyện của ta đấy.
Bazin nhận ra mình đã hớ lời; hắn cúi đầu rồi lùi ra ngoài.
— Ồ! — D’Artagnan mỉm cười nói, — cậu bán những tác phẩm văn chương của mình đúng bằng trọng lượng vàng cơ đấy. Cậu thật là may mắn, bạn tôi ạ; nhưng hãy cẩn thận kẻo làm rơi bức thư đang lấp ló ra từ chiếc áo chẽn của cậu kìa, mà chắc chắn nó cũng đến từ nhà xuất bản của cậu chứ gì.
Aramis đỏ bừng cả mặt đến tận mang tai, vội nhét thốc bức thư vào trong và cài lại cúc áo chẽn.
— D’Artagnan thân mến, — anh nói, — nếu cậu không phiền, chúng ta hãy sang nhập bọn với các bạn mình nhé; vì tôi đang giàu có, hôm nay chúng ta sẽ bắt đầu la cà ăn tối cùng nhau trở lại, trong lúc chờ đợi đến lượt cậu giàu lên đấy.
— Thề có chúa! — D’Artagnan hào hứng đáp. — Lâu lắm rồi chúng ta mới có một bữa tối ra trò; và phần tôi, tối nay tôi có một chuyến viễn chinh hơi mạo hiểm chút xíu, thú thật là tôi chẳng ngại ngần gì việc tự bồi dưỡng cho mình vài ly rượu vang Burgundy thượng hạng đâu.
— Nhất trí vụ rượu Burgundy thượng hạng nhé; tôi chẳng có ý kiến gì phản đối đâu, — Aramis nói, người mà bức thư và đống vàng đã quét sạch đi, như có phép thuật, mọi ý định tu hành đi tu.
Và sau khi nhét ba hoặc bốn đồng kép pistole vào túi để phục vụ cho nhu cầu trước mắt, anh cất số còn lại vào chiếc hộp gỗ mun cẩn xà cừ, nơi đang đựng chiếc khăn tay lừng danh dùng làm bùa hộ mệnh của mình.
Hai người bạn liền khởi hành sang nhà Athos, và anh, vốn giữ vững lời thề không bước chân ra ngoài, liền đứng ra nhận trách nhiệm sai người mang bữa tối đến cho họ. Vì vốn là kẻ sành sỏi đến từng chi tiết trong nghệ thuật ẩm thực, D’Artagnan và Aramis chẳng có lý do gì để phản đối việc ủy thác trọng trách quan trọng này cho anh.
Họ đi tìm Porthos, và ngay tại góc phố Bac thì chạm trán Mousqueton, gương mặt đang vô cùng thảm hại, lùa đi trước mặt một con la và một con ngựa.
D’Artagnan thốt lên một tiếng ngạc nhiên, trong đó không giấu nổi vẻ vui mừng.
— Ồ, con ngựa vàng khè của tôi đây mà, — anh kêu lên. — Aramis, nhìn con ngựa kìa!
— Chà, con quái vật xấu xí gì thế này! — Aramis nói.
— Ôi cậu bạn thân mến, — D’Artagnan đáp, — chính trên con ngựa này tôi đã đến Paris đấy.
— Sao cơ, ngài quen con ngựa này á? — Mousqueton hỏi.
— Nó mang một màu lông độc nhất vô nhị, — Aramis nói; — suốt đời tôi chưa từng thấy con nào có bộ da thế này.
— Tôi tin chắc là vậy rồi, — D’Artagnan đáp, — và đó cũng là lý do tôi bán được nó với giá ba đồng cắc. Chắc là người ta mua vì bộ da của nó thôi, chứ quả thực cái xác thối tha ấy chẳng đáng giá nổi mười tám livre. Nhưng mà làm sao con ngựa này lại rơi vào tay cậu thế, Mousqueton?
— Xin ngài, — gã gia nhân nói, — đừng nhắc đến nữa; đó là một trò chơi khăm kinh khủng của chồng vị nữ công tước nhà chúng tôi!
— Sao lại thế, Mousqueton?
— Thì là, chúng tôi đang lọt vào mắt xanh của một quý bà thuộc hàng quyền quý, Nữ công tước xứ—nhưng xin phép ngài; chủ nhân đã ra lệnh cho tôi phải kín miệng. Bà ấy đã bắt chúng tôi nhận một món quà nhỏ kỷ niệm, một con tuấn mã Tây Ban Nha tuyệt mỹ và một con la xứ Andalusia nom đẹp tuyệt trần. Chồng bà ấy hay tin; giữa đường, ông ta đã tịch thu hai con vật tuyệt đẹp vốn đang được gửi đến cho chúng tôi, rồi đổi lại bằng mấy con quái vật gớm ghiếc này đây.
— Mà mày đang mang trả lại cho ổng phỏng? — D’Artagnan hỏi.
— Chuẩn xác luôn! — Mousqueton đáp. — Các ngài cứ thử nghĩ xem liệu chúng tôi có thể nhận những con chiến mã thế này để thay cho những con đã được hứa hẹn không cơ chứ.
— Không đời nào, thưa ơn trên; mặc dù thú thật tôi rất muốn được nhìn thấy Porthos ngự trên lưng con ngựa vàng của mình. Điều đó sẽ cho tôi một hình dung về việc trông tôi thảm hại thế nào khi vừa đặt chân đến Paris. Nhưng thôi chúng tôi không làm mất thời gian của mày nữa, Mousqueton; cứ đi làm tròn lệnh của chủ đi. Ngài ấy có ở nhà không?
— Dạ có, thưa ngài, — Mousqueton nói, — nhưng đang trong tâm trạng vô cùng cáu bẳn. Đi mau lên nào!
Hắn tiếp tục lầm lũi hướng về phía Quai des Grands Augustins, trong khi hai người bạn rẽ sang bấm chuông nhà Porthos bất hạnh. Về phần Porthos, sau khi nhìn thấy họ băng qua sân, anh ta dại gì mà lên tiếng trả lời, thế là họ bấm chuông hoài trong vô vọng.
Trong khi đó, Mousqueton tiếp tục hành trình, băng qua cầu Pont Neuf, vẫn lùa hai con vật cọc cạch đi trước mặt, cuối cùng hắn đã đến phố aux Ours. Tới nơi, y y theo lệnh của chủ nhân, buộc cả ngựa lẫn la vào chiếc vòng đồng gõ cửa nhà viên biện lý; đoạn, chẳng thèm bận tâm đến số phận tương lai của chúng ra sao, hắn quay về báo cáo với Porthos rằng nhiệm vụ đã hoàn thành.
Chẳng mấy chốc, hai con vật tội nghiệp, vốn chẳng được hót miếng gì từ sáng tới giờ, liền gây ra thứ âm thanh inh ỏi bằng cách cứ liên tục nhấc lên rồi thả rơi chiếc vòng gõ cửa, khiến viên biện lý phải sai cậu bé sai vặt ra hàng xóm dò la xem con ngựa và con la này là của nhà ai.
Madame Coquenard ngay lập tức nhận ra món quà của mình, và thoạt đầu chẳng tài nào hiểu nổi vụ trả hàng này; nhưng chuyến viếng thăm của Porthos đã sớm làm sáng tỏ mọi chuyện. Cơn giận dữ đang bốc cháy trong đôi mắt của viên ngự lâm quân, bất chấp mọi nỗ lực nén nhịn của anh ta, đã khiến người tình nhạy cảm của anh hoảng sợ. Thực ra, Mousqueton đã chẳng giấu giếm gì chủ nhân việc hắn đã chạm trán D’Artagnan và Aramis, và rằng D’Artagnan trên con ngựa vàng đã nhận ra ngay con ngựa lùn xứ Béarn mà anh từng cưỡi đến Paris và đã bán đi với giá ba đồng cắc.
Porthos bỏ đi sau khi đã hẹn gặp vợ viên biện lý tại tu viện St. Magloire. Viên biện lý thấy anh ta sắp đi liền cất lời mời ở lại ăn tối—một lời mời bị viên ngự lâm quân lạnh lùng từ chối với một vẻ mặt đầy kiêu hãnh.
Madame Coquenard run lẩy bẩy bước đến tu viện St. Magloire, bởi bà ta đoán trước được những lời trách móc đang chờ đợi mình ở đó; thế nhưng bà ta vẫn hoàn toàn bị mê hoặc bởi dáng vẻ uy nghi lừng lững của Porthos.
Tất cả những gì mà một người đàn ông bị tổn thương lòng tự ái có thể tuôn ra dưới hình thức những lời nguyền rủa và trách móc giáng xuống đầu một người phụ nữ, Porthos đều trút hết lên cái đầu đang cúi gằm của vợ viên biện lý.
— Ôi, — bà ta nghẹn ngào nói, — em đã làm tất cả chỉ vì muốn tốt cho anh thôi mà! Một trong những khách hàng của chúng ta là một kẻ buôn ngựa; hắn đang nợ tiền công quỹ và khất lần chưa chịu trả. Em đã nhận con la và con ngựa ấy để trừ khoản nợ; hắn bảo đảm với em đó là hai con tuấn mã quý hiếm cơ mà.
— Này thưa phu nhân, — Porthos nói, — nếu hắn nợ bà quá năm đồng cắc, thì kẻ buôn ngựa của bà chẳng qua chỉ là một tên ăn cắp.
— Đâu có gì là sai khi cố gắng mua đồ với giá hời hả Monsieur Porthos, — vợ viên biện lý tìm cách thanh minh.
— Không, thưa phu nhân; nhưng những kẻ cứ chăm chăm đi mua đồ giá rẻ thì nên cho phép người khác tìm đến những người bạn hào phóng hơn mới phải. — Và Porthos quay ngoắt gót chân, bước đi một bước như muốn rời khỏi.
— Monsieur Porthos! Monsieur Porthos! — vợ viên biện lý gào lên. — Em đã sai; em nhận ra rồi. Đáng lẽ em không nên kì kèo mặc cả khi đó là để trang bị cho một trang tuấn kiệt như anh.
Porthos, không thèm đáp lời, lùi lại thêm bước thứ hai. Vợ viên biện lý tưởng tượng như đang nhìn thấy anh ẩn hiện trong một đám mây rực rỡ, xung quanh vây quanh bởi biết bao nữ công tước và hầu tước đang hoan hỉ ném những túi tiền dưới chân anh.
— Dừng lại, vì ơn trên, Monsieur Porthos! — bà ta khẩn khoản. — Dừng lại và chúng ta hãy cùng nói chuyện đi.
— Nói chuyện với bà chỉ mang lại cho tôi vận rủi thôi, — Porthos phũ phàng.
— Nhưng, xin anh hãy nói cho em biết, anh muốn gì nào?
— Chẳng muốn gì cả; bởi điều đó cũng bằng hòa với việc tôi xin bà một cái gì đó rồi.
Vợ viên biện lý lao đến níu chặt lấy tay Porthos, và trong cơn đau đớn tuyệt vọng, bà ta kêu lên: — Monsieur Porthos, em hoàn toàn dốt nát về những chuyện thế này! Làm sao em biết thế nào là ngựa chiến chứ? Làm sao em biết thế nào là yên cương trang bị cho ngựa chứ?
— Lẽ ra bà phải để mặc việc đó cho tôi, thưa phu nhân, người am hiểu tường tận về chúng; nhưng bà lại muốn chi li bủn xỉn, và hệ quả là cho vay nặng lãi.
— Em đã sai lầm, Monsieur Porthos; nhưng em lấy danh dự thề sẽ sửa chữa sai lầm đó.
— Bằng cách nào? — Viên ngự lâm quân hỏi.
— Nghe đây. Tối nay Monsieur Coquenard sẽ đến tư dinh của Quận công xứ Chaulnes, người đã cho người sang mời ông ấy. Đó là một buổi hội chẩn, sẽ kéo dài ít nhất là ba tiếng đồng hồ. Anh hãy đến! Chúng ta sẽ ở một mình và tha hồ giải quyết sổ sách.
— Thế mới được chứ. Giờ thì ăn nói ra điều lắm chứ, cưng ạ.
— Anh tha thứ cho em chứ?
— Để rồi xem đã, — Porthos ra chiều kiêu hãnh đáp; rồi cả hai quay lưng tách ra, không quên vói lại câu: — Hẹn gặp lại tối nay.
— Khỉ thật! — Porthos thầm nghĩ trong lúc sải bước bỏ đi, — xem ra cuối cùng thì mình cũng đã bén mảng đến được cái tráp đựng tiền của Monsieur Coquenard rồi đây.