Ba chàng ngự lâm

Lượt đọc: 377 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 11
TÌNH TIẾT CÀNG THÊM RẮC RỐI

❊ ❊ ❊

Sau khi từ tạ ngài de Tréville, chàng thanh niên đăm chiêu D’Artagnan liền đi vòng đường xa để trở về nhà.

D’Artagnan đang bận tâm điều gì mà lại đi lạc đường như thế, mắt đăm đăm nhìn những vì sao trên trời, lúc thì thở dài, khi lại mỉm cười?

Chàng đang nghĩ đến nàng Bonacieux. Đối với một chàng lính ngự lâm tập sự, người phụ nữ trẻ ấy gần như là hình mẫu lý tưởng của tình yêu. Xinh đẹp, đầy bí ẩn, lại thông thạo hầu như mọi bí mật chốn cung đình – điều đã phủ lên vẻ mặt duyên dáng của nàng một nét trang nghiêm vô cùng cuốn hút – nàng khiến người ta có thể đoán rằng trái tim nàng không phải hoàn toàn lạnh lùng; và đây chính là sức hấp dẫn không thể chối từ đối với những kẻ mới bước chân vào tình trường. Hơn thế nữa, D’Artagnan đã giải cứu nàng khỏi tay những kẻ ác tâm muốn tra khảo và hành hạ nàng; và ơn huệ trọng đại ấy đã vun đắp giữa họ một thứ tình cảm biết ơn vốn rất dễ chuyển hóa thành sự dịu dàng.

D’Artagnan đã sớm tưởng tượng ra cảnh – giấc mơ của chúng ta vốn bay lượn rất nhanh trên đôi cánh tưởng tượng – mình được tiếp đón bởi một sứ giả của người thiếu nữ, người mang đến cho cuộc gặp gỡ nào đó một bức thư hẹn hò, một sợi dây chuyền vàng, hay một viên kim cương. Chúng ta từng thấy những chàng kị sĩ trẻ nhận quà từ nhà vua mà chẳng chút ngượng ngùng. Hãy nói thêm rằng trong thời đại mà đạo đức có phần lỏng lẻo này, họ cũng chẳng mảy may câu nệ khi đối xử với các bóng hồng; và những người phụ nữ ấy hầu như luôn để lại cho họ những kỷ vật có giá trị và bền lâu, như thể họ đang cố gắng dùng sự vững chãi của những món quà để khỏa lấp đi sự mong manh trong tình cảm của mình.

Người ta có thể ngẩng cao đầu tiến thân trong xã hội nhờ vào những người phụ nữ sẵn sàng đỏ mặt. Những ai chỉ có nhan sắc thì dâng hiến nhan sắc, từ đó, chắc hẳn đã sinh ra câu tục ngữ: “Cô gái đẹp nhất trần đời cũng chỉ có thể cho đi những gì cô ấy có.” Những ai giàu có thì góp thêm một phần tiền bạc; và người ta có thể kể ra vô số anh hùng trong thời kỳ lãng mạn ấy mà nếu không nhờ chiếc túi tiền, dày mỏng khác nhau, được người tình cột vào khung yên ngựa, thì họ đã chẳng thể giành được chiếc cựa gà danh dự lúc ban đầu, cũng như chẳng thắng nổi trận chiến nào sau đó.

D’Artagnan chẳng có gì trong tay. Vẻ rụt rè có sẵn của kẻ ở tỉnh lẻ, chút lớp sơn mỏng manh, thứ hoa phù du, lớp tơ đào trên quả đào ấy, đã bay theo gió qua những lời khuyên rất đỗi chính thống mà ba người bạn ngự lâm đã dành cho chàng. D’Artagnan, noi theo thói quen kỳ lạ của thời đại, coi Paris như một chiến trường không hơn không kém, chẳng khác nào khi chàng ở Flanders – Tây Ban Nha ở đằng kia, đàn bà ở chốn này. Ở đâu cũng có kẻ thù phải đối đầu và những khoản cống nạp phải thu.

Nhưng, phải thừa nhận rằng, vào lúc này D’Artagnan đang bị chi phối bởi một cảm giác cao thượng và vị tha hơn rất nhiều. Người thợ sẻ đã nói rằng nàng giàu có; chàng trai có thể dễ dàng đoán ra điều đó khi nhìn một kẻ yếu đuối như ông Bonacieux; và vụ lợi gần như là thứ xa lạ đối với sự khởi đầu của mối tình vốn xuất phát từ biến cố ấy. Chúng ta nói là gần như, bởi vì ý nghĩ rằng một người phụ nữ trẻ trung, xinh xắn, tốt bụng và thông minh lại đồng thời giàu có chẳng những không làm giảm đi sự khởi đầu của tình yêu mà trái lại còn củng cố nó thêm.

Sự sung túc luôn đi kèm với muôn vàn mối bận tâm và thói kiêu kỳ quý phái vốn rất tôn lên nét đẹp của phụ nữ. Một đôi bít tất mỏng manh trắng ngần, chiếc áo lụa là, chiếc khăn ren quàng cổ, đôi giày xinh xắn dưới chân, chiếc nơ duyên dáng trên mái tóc không thể biến một người phụ nữ xấu thành đẹp, nhưng chúng lại làm cho một người phụ nữ đẹp càng thêm lộng lẫy, chưa kể đến đôi bàn tay – thứ mà nhờ tất cả những điều ấy mà trở nên kiều diễm; đôi bàn tay của phụ nữ, muốn được đẹp thì trước hết phải là đôi bàn tay nhàn rỗi.

Rồi D’Artagnan – như bạn đọc, kẻ mà chúng ta chưa hề giấu giếm tình trạng tài chính, đều rõ – D’Artagnan không phải là triệu phú; chàng hy vọng một ngày nào đó sẽ trở thành triệu phú, nhưng khoảng thời gian mà chàng tự đặt ra trong đầu cho sự thay đổi tốt đẹp ấy hãy còn xa lắm. Trong lúc chờ đợi, thật nản lòng làm sao khi thấy người mình yêu khao khát những thứ vụn vặt làm nên hạnh phúc của người phụ nữ mà bản thân lại không thể trao cho nàng những điều nhỏ nhặt ấy. Ít nhất, khi người phụ nữ giàu có còn người tình thì không, những gì chàng không thể dâng tặng thì nàng sẽ tự mua lấy cho mình; và mặc dù nàng thường dùng tiền của chồng để chuộc lấy niềm vui ấy, nhưng lòng biết ơn hiếm khi nào hướng về phía người chồng.

Thế rồi D’Artagnan, dẫu sẵn sàng trở thành một người tình ân cần nhất, đồng thời cũng là một người bạn vô cùng tận tụy. Giữa những dự tính ái tình dành cho vợ của người thợ sẻ, chàng không hề quên đi những chiến hữu của mình. Nàng Bonacieux xinh xắn chính là tuýp phụ nữ hoàn hảo để dạo bước cùng ở đồng bằng St. Denis hay hội chợ St. Germain, sánh vai bên Athos, Porthos và Aramis – những người mà D’Artagnan đã thường xuyên ca tụng điều này. Khi ấy, người ta có thể tận hưởng những bữa tối nhỏ xinh tuyệt vời, nơi một bên ta chạm tay vào người bạn, còn bên kia chạm chân vào người tình. Hơn thế nữa, trong những dịp cấp bách, những lúc ngặt nghèo nhất, D’Artagnan sẵn sàng trở thành vị cứu tinh của các chiến hữu.

Còn ông Bonacieux, kẻ mà D’Artagnan đã đẩy vào tay bọn lính canh, lớn tiếng chối bỏ dù đã thì thầm hứa hẹn sẽ cứu ông ta thì sao? Chúng ta buộc phải thừa nhận với bạn đọc rằng D’Artagnan chẳng mảy may nghĩ gì đến ông ta nữa; hoặc nếu có nghĩ tới, thì chàng chỉ tự nhủ rằng ông ta ở đâu thì cũng rất tốt ở đó, bất kể là nơi nào. Tình yêu chính là thứ ích kỷ nhất trong mọi thứ tình cảm.

Xin bạn đọc cứ yên tâm. Nếu D’Artagnan có quên mất người chủ nhà của mình, hoặc ra vẻ quên đi với lý do không biết ông ta đã bị áp giải đi đâu, thì chúng ta sẽ không quên ông ấy, và chúng ta biết ông ta đang ở đâu. Nhưng trước mắt, hãy cứ hành động như gàng lảnh mạn người Gascon; chúng ta sẽ tính đến người thợ sẻ đáng thương ấy sau.

D’Artagnan, vừa ngẫm nghĩ về những mối tình tương lai của mình, vừa cất tiếng trò chuyện với màn đêm tươi đẹp và mỉm cười với các vì sao, bước lên phố Rue Cherish-Midi, hay còn gọi là Chase-Midi theo cách gọi thời bấy giờ. Khi nhận ra mình đang ở khu vực Aramis sinh sống, chàng chợt nảy ra ý định đến thăm người bạn để giải thích những động cơ đã khiến chàng sai Planchet mang thư yêu cầu Aramis đến ngay cái bẫy chuột. Giờ đây, nếu Aramis có nhà khi Planchet đến nơi, chắc hẳn anh ta đã vội vã chạy đến phố Rue des Fossoyeurs, và ở đó chẳng thấy ai ngoài hai người bạn kia, có lẽ họ sẽ chẳng thể tài nào hiểu nổi tất cả những chuyện này có ý nghĩa gì. Sự bí ẩn này đòi hỏi một lời giải đáp; ít nhất, D’Artagnan đã tự nhủ với lòng mình như thế.

Chàng cũng nghĩ rằng đây là cơ hội để bàn về nàng Bonacieux xinh xắn – người mà tâm trí, nếu chưa phải trái tim chàng, đã sớm ngập tràn hình bóng. Ta không bao giờ nên tìm kiếm sự kín đáo ở mối tình đầu. Tình đầu luôn đi kèm với niềm vui sướng tột độ đến mức nếu không để niềm vui ấy trào dâng, nó sẽ bóp nghẹt lấy bạn.

Paris từ hai tiếng trước đã chìm trong bóng tối và trông như một vùng đất hoang vu. Chuồng đồng hồ ở khắp các ngả Faubourg St. Germain đồng loạt điểm mười một giờ. Thời tiết thật tuyệt vời. D’Artagnan đang đi dọc theo một con hẻm nằm ở vị trí nay là phố Rue d’Assas, hít hà hương thơm ngào ngạt theo gió thổi tới từ phố Rue de Vaugirard, tỏa ra từ những khu vườn được làm mát bởi sương sớm và gió đêm. Từ đằng xa vẳng lại tiếng hát của những kẻ say sưa đang vui thú trong các quán rượu rải rác khắp vùng đồng bằng, dẫu đã bị những cánh cửa chớp dày dặn làm cho chìm khuất bớt. Ra đến cuối con hẻm, D’Artagnan rẽ trái. Ngôi nhà mà Aramis ở nằm giữa phố Rue Cassette và Rue Servandoni.

D’Artagnan vừa đi qua phố Rue Cassette và đã nhìn thấy cánh cửa nhà người bạn, được che khuất bởi một vòm cây sung dâu và hoa leo tạo thành một cái vòm rộng lớn ngay đối diện mặt tiền, thì chàng chợt nhận ra thứ gì đó giống như một cái bóng đang bước ra từ phố Rue Servandoni. Thứ đó được quấn trong một chiếc áo choàng, và thoạt đầu D’Artagnan tưởng đó là một đàn ông; nhưng nhìn vóc dáng nhỏ nhắn, dáng đi chần chừ và những bước chân ngập ngừng, chàng nhanh chóng nhận ra đó là một phụ nữ. Hơn nữa, người phụ nữ ấy, như thể không chắc chắn về ngôi nhà mình đang tìm kiếm, liền ngẩng đầu nhìn quanh, dừng lại, lùi bước rồi lại tiến lên. D’Artagnan bối rối.

“Ta có nên đến ngỏ lời giúp đỡ nàng không?” chàng thầm nghĩ. “Nhìn dáng đi thì chắc hẳn nàng còn trẻ; biết đâu lại là một mỹ nhân. Ồ, đúng thế! Nhưng một người phụ nữ lang thang ngoài đường vào giờ này thì chỉ có thể ra ngoài để gặp người tình. Nếu ta quấy rầy một cuộc hẹn hò, thì đó không phải là cách hay để bắt đầu làm quen.”

Trong khi đó, người phụ nữ trẻ vẫn tiếp tục bước tới, vừa đi vừa đếm số nhà và cửa sổ. Việc này chẳng lấy gì làm dài dòng hay khó khăn. Chỉ có ba dinh thự lớn ở đoạn đường này; và chỉ có hai ô cửa sổ hướng ra mặt đường, một cái nằm ở dãy nhà phụ song song với khu Aramis ở, cái còn lại thuộc về chính căn hộ của Aramis.

“Pardieu!” D’Artagnan tự nhủ, trong tâm trí bỗng hiện về hình ảnh cô cháu gái của vị học giả nọ, “pardieu, thật là nực cười nếu cô bồ câu lỡ độ đường này lại đang đi tìm nhà của bạn ta. Nhưng có chúa chứng giám, trông có vẻ đúng là thế rồi. À, Aramis thân mến của ta, lần này thì ta sẽ tóm được anh.” Và D’Artagnan, cố thu mình nhỏ lại hết mức có thể, bèn nấp vào góc tối nhất của con phố, ngay gần chiếc ghế đá đặt ở phần lõm vào của bức tường.

Người phụ nữ trẻ vẫn tiến về phía trước; và bên cạnh những bước chân nhẹ nhàng đã tố cáo nàng, nàng còn phát ra một tiếng ho khẽ khàng gợi lên một chất giọng ngọt ngào. D’Artagnan tin rằng tiếng ho này chính là một tín hiệu.

Tuy thế, chẳng biết là tiếng ho đã được đáp lại bằng một tín hiệu tương tự giúp dập tắt sự do dự của kẻ đang đi tìm kiếm trong đêm, hay là dẫu không có sự trợ giúp ấy, nàng nhận ra mình đã đi đến tận cùng hành trình, nàng dứt khoát tiến lại gần khung cửa chớp của Aramis và gõ ba nhịp đều đặn bằng ngón tay khum lại.

“Mọi chuyện hay ho thật đấy, Aramis thân mến,” D’Artagnan lẩm bẩm. “À, hỡi tên giả hình, giờ thì ta hiểu anh nghiên cứu thần học kiểu gì rồi đấy.”

Ba tiếng gõ vừa dứt thì tấm rèm che bên trong được kéo ra và một ánh đèn lọt qua các ô kính của lớp cửa chớp bên ngoài.

“A ha!” kẻ nghe lén thốt lên, “không đi cửa chính mà đi đằng cửa sổ! A, chuyến viếng thăm này đã được chờ đợi từ trước. Chúng ta sắp được thấy cửa sổ mở ra và quý cô kia leo tường vào rồi đây. Thú vị phết nhỉ!”

Nhưng trái ngược hoàn toàn với sự kinh ngạc của D’Artagnan, khung cửa chớp vẫn đóng kín. Hơn thế nữa, ánh sáng vừa lóe lên trong chốc lát đã biến mất, và mọi thứ lại chìm vào màn đêm tịch mịch.

D’Artagnan nghĩ rằng tình trạng này sẽ không kéo dài lâu, và chàng tiếp tục căng trừng đôi mắt để quan sát cùng đôi tai để lắng nghe.

Chàng đã đoán đúng; chỉ vài giây sau, hai tiếng gõ sắc gọn vang lên từ bên trong. Người phụ nữ ngoài phố đáp lại bằng một tiếng gõ đơn độc, và cánh cửa chớp được hé mở một chút.

Có thể tưởng tượng xem D’Artagnan đã dán mắt và rỏng tai theo dõi với sự háo hức đến nhường nào. Đáng tiếc là ngọn đèn đã được chuyển đi nơi khác trong căn phòng; nhưng đôi mắt của chàng thanh niên vốn đã quen với bóng tối. Hơn nữa, người ta vẫn đồn rằng đôi mắt của những kẻ xứ Gascon, cũng giống như loài mèo, có khả năng nhìn thấu màn đêm.

D’Artagnan bấy giờ nhìn thấy người phụ nữ trẻ rút từ trong túi ra một vật màu trắng, nhanh chóng mở nó ra và vật ấy mang hình dáng của một chiếc khăn tay. Nàng ra hiệu cho người đối thoại chú ý đến góc của chiếc khăn đã được mở ra ấy.

Điều này lập tức gợi nhắc trong tâm trí D’Artagnan chiếc khăn tay mà chàng đã tìm thấy dưới chân nàng Bonacieux, thứ từng khiến chàng nhớ đến chiếc khăn mà chàng đã kéo ra từ dưới chân Aramis.

“Quỷ tha ma bắt thế nào mà chiếc khăn ấy lại có ý nghĩa gì nhỉ?”

Đứng ở vị trí của mình, D’Artagnan không thể nhìn thấy khuôn mặt của Aramis. Chúng ta gọi là Aramis, bởi chàng thanh niên không mảy may nghi ngờ rằng chính người bạn của mình đang đối thoại từ bên trong với người phụ nữ ở bên ngoài. Sự tò mò đã lấn át tính thận trọng; và tận dụng thời điểm sự chú ý của hai nhân vật đang dồn vào chiếc khăn tay, chàng rón rén rời khỏi chỗ ẩn nấp, nhanh như chớp nhưng bước đi cực kỳ cẩn trọng, chàng chạy đến nấp sát vào góc tường để từ đó tầm mắt có thể xuyên thấu vào bên trong căn phòng của Aramis.

Khi đạt được vị trí thuận lợi ấy, D’Artagnan suýt thốt lên một tiếng ngạc nhiên; kẻ đang trò chuyện với vị khách ban đêm không phải là Aramis, mà là một người phụ nữ! Tuy nhiên, D’Artagnan chỉ có thể nhìn đủ để nhận ra hình dáng y phục của nàng, chứ không đủ để phân biệt các nét trên khuôn mặt.

Ngay khoảnh khắc đó, người phụ nữ ở bên trong rút ra chiếc khăn tay thứ hai từ túi áo và đổi lấy chiếc vừa được đưa cho mình. Rồi một vài lời được cất lên giữa hai người phụ nữ. Cuối cùng, cánh cửa chớp đóng lại. Người phụ nữ đứng bên ngoài cửa sổ quay người bước đi, lướt qua cách chỗ D’Artagnan chừng bốn bước chân, vừa kéo sụp chiếc mũ áo choàng xuống; nhưng sự cẩn trọng ấy đã quá muộn, D’Artagnan đã sớm nhận ra nàng Bonacieux.

Nàng Bonacieux! Sự hoài nghi rằng đó chính là nàng đã từng thoáng qua tâm trí D’Artagnan khi nàng rút chiếc khăn tay ra khỏi túi; nhưng làm sao có chuyện nàng Bonacieux – người vừa cho gọi ông M. Laporte để được đưa về cung điện Louvre – lại đang lang thang trên những con phố Paris lúc mười một giờ rưỡi đêm, bất chấp rủi ro có thể bị bắt cóc thêm lần nữa cơ chứ?

Vậy thì đây chắc hẳn là một việc vô cùng quan trọng; và đâu là việc quan trọng nhất đối với một người phụ nữ tuổi đôi mươi? Tình yêu.

Nhưng liệu nàng bất chấp những hiểm nguy nhường ấy là vì chính bản thân mình, hay là vì một ai khác? Đây là câu hỏi mà chàng thanh niên – kẻ lúc này đã bị con quỷ ghen tuông gặm nhấm tâm can, dẫu xét về tình cảm thì chẳng khác gì một người tình đã được chấp thuận – đang tự hỏi chính mình.

Có một cách rất đơn giản để biết chắc nàng Bonacieux đang đi đâu; đó chính là bám theo nàng. Phương pháp này đơn giản đến mức D’Artagnan đã áp dụng nó một cách hoàn toàn tự nhiên và theo bản năng.

Nhưng ngay khi nhìn thấy chàng thanh niên tách khỏi bức tường như một bức tượng bước ra từ hốc đá, và nghe tiếng bước chân dội lại sau lưng, nàng Bonacieux liền phát ra một tiếng kêu nhỏ rồi hoảng hốt bỏ chạy.

D’Artagnan liền cắm cổ đuổi theo. Chẳng có gì khó khăn để chàng bắt kịp một người phụ nữ đang vướng víu bởi chiếc áo choàng. Chàng đuổi kịp nàng trước khi nàng đi hết một phần ba con đường. Người phụ nữ bất hạnh đã kiệt sức, không phải vì mệt mỏi mà vì khiếp sợ, và khi D’Artagnan đặt tay lên vai nàng, nàng liền khuỵu xuống một chân, nghẹn ngào cất tiếng khóc: “Muốn giết thế nào tùy anh, còn lâu anh mới biết được gì!”

D’Artagnan liền đỡ nàng đứng dậy bằng cách vòng tay ôm lấy eo nàng; nhưng khi cảm nhận qua trọng lượng cơ thể rằng nàng sắp ngất đi, chàng vội vã trấn an nàng bằng những lời thề thốt lòng trung thành. Những lời thề non hẹn biển ấy chẳng có ý nghĩa gì với nàng Bonacieux, bởi những lời lẽ đó người ta có thể thốt ra với những tâm địa tồi tệ nhất trần đời; thế nhưng giọng nói thì lại có tất cả. Nàng Bonacieux dường như nhận ra âm sắc quen thuộc ấy; nàng mở bừng mắt, liếc nhanh về phía kẻ vừa gieo rắc sự kinh hoàng cho mình, và lập tức nhận ra đó chính là D’Artagnan, nàng liền thốt lên một tiếng kêu vui sướng: “Ôi, là anh, chính là anh! Tạ ơn Chúa, tạ ơn Chúa!”

“Đúng, là anh đây,” D’Artagnan nói, “chính là anh, người được Chúa phái đến để bảo vệ em.”

“Có phải với dụng ý đó mà anh bám theo em không?” người phụ nữ trẻ hỏi với một nụ cười đầy vẻ điệu đà, mang theo chút giọng điệu trêu chọc thường thấy, và nỗi sợ hãi trong lòng nàng đã tan biến ngay khoảnh khắc nhận ra một người bạn trong thân hình kẻ mà nàng từng lầm tưởng là kẻ thù.

“Không,” D’Artagnan đáp; “không, anh xin thú nhận. Chỉ là tình cờ đưa đẩy anh vướng vào đường đi của em; anh nhìn thấy một người phụ nữ gõ cửa sổ nhà một người bạn của anh.”

“Một người bạn của anh ư?” nàng Bonacieux ngắt lời.

“Hiển nhiên rồi; Aramis là một trong những người bạn thân nhất của anh.”

“Aramis! Anh ta là ai chứ?”

“Thôi nào, đừng có bảo với anh là em không biết Aramis nhé?”

“Đây là lần đầu tiên trong đời em nghe thấy cái tên đó được thốt lên đấy.”

“Vậy đây là lần đầu tiên em đặt chân đến ngôi nhà đó sao?”

“Chắc chắn rồi.”

“Và em không hề biết rằng nơi đó do một chàng trai trẻ sinh sống ư?”

“Không hề.”

“Bởi một tên ngự lâm quân?”

“Quả thực là không!”

“Vậy ra người em đến tìm không phải là anh ta ư?”

“Không mảy may là thế. Hơn nữa, chắc hẳn anh phải thấy rằng người mà em nói chuyện cùng là một phụ nữ chứ.”

“Đúng là thế; nhưng người phụ nữ đó lại là bạn của Aramis—”

“Em chẳng biết gì sất.”

“—vậy sao nàng ta lại ở trọ cùng anh ta chứ.”

“Điều đó chẳng can dự gì đến em.”

“Nhưng nàng ta là ai?”

“Ồ, đó không phải là bí mật của em.”

“Nàng Bonacieux thân mến của anh, em thật vô cùng quyến rũ; nhưng đồng thời em cũng là một trong những người phụ nữ bí hiểm nhất đấy.”

“Em bị thiệt thòi vì điều đó chắc?”

“Không; trái lại, em vô cùng đáng yêu.”

“Vậy thì cho em vịện cánh tay của anh đi.”

“Rất sẵn lòng. Rồi sao nữa?”

“Bây giờ hãy hộ tống em.”

“Đi đâu?”

“Đến nơi em đang định tới.”

“Nhưng em đang định đi đâu thế?”

“Rồi anh sẽ thấy, vì anh sẽ phải để em lại ngoài cửa.”

“Anh có cần đợi em không?”

“Việc đó thừa thãi lắm.”

“Vậy là em sẽ tự mình quay về ư?”

“Có thể có, mà cũng có thể không.”

“Nhưng liệu kẻ tháp tùng em lúc sau sẽ là nam hay nữ đây?”

“Em vẫn chưa biết.”

“Nhưng anh sẽ tự mình tìm hiểu cho ra lẽ!”

“Bằng cách nào chứ?”

“Anh sẽ đứng đợi cho đến khi em bước ra.”

“Nếu vậy thì vĩnh biệt anh.”

“Tại sao lại thế?”

“Em không cần đến anh.”

“Nhưng em vừa mới đòi hỏi—”

“Sự giúp đỡ của một trang nam tử, chứ không phải sự kèm cặp của một tên thám tử.”

“Từ ngữ có vẻ nặng nề quá đấy.”

“Thế người ta gọi những kẻ bám theo người khác dẫu người ta không muốn là gì nào?”

“Đó là những kẻ vô ý tứ.”

“Từ đó vẫn còn quá nhẹ nhàng.”

“Thôi được rồi, thưa phu nhân, anh nhận ra mình phải làm theo ý em vậy.”

“Sao nãy giờ anh không chịu tự tước bỏ cái công lao làm theo ý em ngay từ đầu đi cho rồi?”

“Chẳng lẽ sự ăn năn hối cải lại không đáng một xu sao?”

“Và anh thực sự biết hối lỗi rồi chứ?”

“Chính anh cũng chẳng rõ nữa. Nhưng điều anh biết chắc là anh hứa sẽ làm mọi điều em muốn nếu em cho phép anh đi cùng đến nơi em đến.”

“Và sau đó anh sẽ rời đi chứ?”

“Đúng thế.”

“Không đợi em bước ra nữa nhé?”

“Vâng.”

“Lấy danh dự mà thề đi?”

“Bằng đức tin của một kị sĩ. Nào, vịện tay anh đi, chúng ta đi thôi.”

D’Artagnan đưa tay cho nàng Bonacieux, nàng vui vẻ khoác lấy, nửa buồn cười nửa sợ hãi, và cả hai cùng tiến đến đầu phố Rue de la Harpe. Khi đến nơi, người phụ nữ trẻ dường như chần chừ, y hệt như lúc nãy ở phố Rue de Vaugirard. Tuy nhiên, qua một vài dấu hiệu, nàng dường như đã nhận ra một cánh cửa, và tiến lại gần đó, nàng cất lời: “Bây giờ thì, thưa ngài, đây là nơi em phải giải quyết công chuyện; ngàn lần cảm ơn sự đồng hành cao thượng của ngài đã giúp em thoát khỏi mọi hiểm nguy khi phải đi một mình. Nhưng đã đến lúc ngài phải giữ lời hứa rồi; em đã đến đích.”

“Và em sẽ không phải lo sợ gì trên đường về chứ?”

“Em chẳng sợ gì ngoài bọn cướp.”

“Và điều đó chẳng đáng sợ sao?”

“Chúng có thể cướp đi cái gì ở em cơ chứ? Em chẳng có nổi một xu dính túi đây này.”

“Em quên chiếc khăn tay thêu gia huy xinh đẹp kia rồi à.”

“Khăn nào cơ?”

“Cái mà anh tìm thấy dưới chân em, và đã nhét lại vào túi cho em ấy.”

“Câm miệng ngay, đồ kẻ ngốc không biết suy nghĩ! Anh muốn hại chết em chắc?”

“Em thấy rõ ràng là vẫn còn hiểm nguy rình rập em đấy thôi, vì chỉ một lời nói cũng khiến em run rẩy; và em đã thú nhận rằng nếu lời nói đó lọt ra ngoài, em sẽ tiêu đời. Nào, nào, thưa phu nhân!” D’Artagnan kêu lên, nắm lấy đôi bàn tay nàng và đăm đăm nhìn nàng bằng ánh mắt nồng nhiệt, “nào, hãy rộng lượng hơn đi. Hãy tin tưởng ở anh. Chẳng lẽ em không đọc được trong mắt anh rằng trong tim anh chỉ toàn là sự tận tụy và đồng cảm hay sao?”

“Vâng,” nàng Bonacieux đáp; “thế nên, anh cứ hỏi những bí mật của chính em đi, em sẽ thổ lộ hết cho anh; nhưng còn bí mật của người khác – đó lại là chuyện hoàn toàn khác.”

“Được rồi,” D’Artagnan nói, “anh sẽ tự mình tìm ra chúng; vì những bí mật này có thể ảnh hưởng đến cuộc đời em, nên chúng bắt buộc phải trở thành bí mật của anh.”

“Hãy cẩn thận với những gì anh đang làm đấy!” người phụ nữ trẻ thốt lên, với một giọng điệu nghiêm túc đến mức khiến D’Artagnan giật mình dẫu chẳng muốn thế. “Ồ, đừng nhúng tay vào bất cứ chuyện gì liên quan đến em. Đừng tìm cách giúp em trong việc em đang làm. Em cầu xin anh điều đó vì lợi ích mà em dành cho anh, vì ơn huệ mà anh đã ban cho em và em sẽ không bao giờ quên chừng nào em còn sống. Thà rằng anh hãy đặt niềm tin vào những gì em nói. Đừng bận tâm gì đến em nữa; em không còn tồn tại đối với anh, giống như thể anh chưa từng gặp em vậy.”

“Liệu Aramis có phải cư xử như thế không, thưa phu nhân?” D’Artagnan hỏi, vô cùng phật ý.

“Đây là lần thứ hai hoặc thứ ba anh lặp lại cái tên đó rồi đấy, ngài ạ, trong khi em đã nói với anh là em không hề quen biết hắn ta cơ mà.”

“Em không biết kẻ mà em vừa gõ cửa sổ nhà hắn ta sao? Thật đấy, thưa phu nhân, em coi thường sự cả tin của anh quá đấy!”

“Anh hãy thú nhận đi rằng cốt để bắt em phải nói chuyện nên anh mới bịa ra câu chuyện này và dựng lên nhân vật đó đúng không.”

“Anh không bịa đặt gì hết, thưa phu nhân; anh cũng chẳng dựng chuyện. Anh chỉ nói hoàn toàn sự thật.”

“Và anh nói rằng một người bạn của anh sống trong ngôi nhà đó ư?”

“Anh nói thế, và anh xin lặp lại lần thứ ba; ngôi nhà đó là nơi người bạn của anh ở, và người bạn ấy chính là Aramis.”

“Rồi tất cả chuyện này sẽ được làm sáng tỏ vào một ngày mai nào đó thồi,” người phụ nữ trẻ lẩm bẩm; “thôi nào, thưa ngài, hãy giữ im lặng đi.”

“Nếu em có thể nhìn thấu trái tim anh,” D’Artagnan nói, “em sẽ đọc được trong đó sự tò mò lớn đến mức em sẽ phải động lòng thương hại, và tình yêu sâu sắc đến mức em sẽ lập tức thỏa mãn sự tò mò của anh. Chúng ta chẳng có gì phải sợ những kẻ yêu thương chúng ta cả.”

“Anh mở miệng ra là nói đến chuyện yêu đương nhanh thế, ngài ạ,” người phụ nữ trẻ vừa nói vừa lắc đầu.

“Đó là bởi vì tình yêu đã ập đến với anh một cách đột ngột, và là lần đầu tiên trong đời; và bởi vì anh mới chỉ đôi mươi.”

Người phụ nữ trẻ liếc nhìn trộm chàng.

“Lắng nghe này; anh đã bắt đầu đánh hơi được manh mối rồi đấy,” D’Artagnan tiếp lời. “Khoảng ba tháng trước, anh suýt có một trận đấu kiếm với Aramis chỉ vì một chiếc chiếc khăn tay giống hệt cái mà em vừa đưa cho người phụ nữ trong nhà hắn – chắc chắn là một chiếc khăn tay được thêu ký hiệu y hệt như thế.”

“Thưa ngài,” người phụ nữ trẻ nói, “em quả thật rất phiền lòng với những câu hỏi của anh đấy.”

“Nhưng còn em, thưa phu nhân, dù cẩn trọng đến đâu, em hãy nghĩ xem, nếu em bị bắt giữ cùng với chiếc khăn tay đó, và chiếc khăn bị tịch thu, chẳng phải em sẽ bị liên lụy sao?”

“Liên lụy kiểu gì chứ? Các chữ cái viết tắt đó chỉ là của riêng em thôi – C.B., Constance Bonacieux.”

“Hoặc Camille de Bois-Tracy.”

“Câm miệng, thưa ngài! Lại một lần nữa, câm miệng ngay! À, vì những hiểm nguy mà em phải gánh chịu cho chính mình không thể ngăn cản anh, thì hãy nghĩ đến những rủi ro mà chính anh có thể vướng vào đi!”

“Anh ư?”

“Đúng vậy; việc quen biết em tiềm ẩn nguy cơ bị tống giam, thậm chí là đánh đổi cả tính mạng đấy.”

“Vậy thì anh sẽ không rời xa em đâu.”

“Thưa ngài!” người phụ nữ trẻ van nài, chắp hai tay lại với nhau, “thưa ngài, vì ơn trên, vì danh dự của một người lính, vì sự lịch thiệp của một kị sĩ, xin ngài hãy rời đi! Kìa, kìa, chuông điểm nửa đêm rồi! Đó là giờ mà người ta đang chờ em.”

“Thưa phu nhân,” chàng thanh niên vừa cúi đầu vừa nói; “anh không thể từ chối bất cứ điều gì được cầu xin như thế. Hãy yên tâm; anh sẽ đi.”

“Nhưng anh sẽ không bám theo em chứ? Anh sẽ không theo dõi em chứ?”

“Anh sẽ quay về nhà ngay lập tức.”

“À, em biết ngay anh là một chàng trai vừa tốt bụng lại vừa can đảm mà,” nàng Bonacieux nói, đưa tay ra cho chàng, đồng thời đặt tay kia lên tay nắm cửa của một cánh cửa nhỏ bị khuất gần như hoàn toàn trong bức tường.

D’Artagnan chộp lấy bàn tay được đưa ra và nhiệt thành đặt lên đó một nụ hôn.

“Ái chà! Ước gì ta chưa từng gặp em!” D’Artagnan thốt lên, với cái vẻ thô mộc đầy chân thành mà phụ nữ thường ưa thích hơn những sự giả tạo lịch thiệp, bởi nó phơi bày tận đáy lòng và chứng minh rằng tình cảm đã lấn át cả lý trí.

“Thôi được rồi!” nàng Bonacieux đáp lại với một giọng điệu gần như mơn trớn, siết chặt bàn tay D’Artagnan – người vẫn chưa buông tay nàng ra, “thôi được: em sẽ không nói nặng lời với anh như thế nữa; những gì mất đi ngày hôm nay chưa chắc đã mất vĩnh viễn đâu. Ai mà biết được, khi em được tự do, có lẽ em sẽ thỏa mãn sự tò mò của anh thì sao?”

“Và em có đưa ra lời hứa tương tự cho tình yêu của anh không?” D’Artagnan kêu lên, vui sướng đến mức quên cả trời đất.

“Ồ, về chuyện đó thì em không dám hứa trước đâu. Nó còn tùy thuộc vào tình cảm mà anh có thể khơi gợi trong lòng em nữa.”

“Vậy thì ngày hôm nay, thưa phu nhân—”

“Ồ, hôm nay thì em mới chỉ dừng lại ở lòng biết ơn thôi.”

“Chao ôi! Em thật quá đỗi đáng yêu,” D’Artagnan rầu rĩ nói; “và em đang lạm dụng tình cảm của anh đấy.”

“Không, em chỉ đang tận dụng sự hào phóng của anh thôi, thế thôi mà. Nhưng cứ vui lên đi; với một số người, mọi thứ rồi sẽ đâu vào đấy cả thôi.”

“Ồ, em đã biến anh thành người đàn ông hạnh phúc nhất trên đời! Đừng quên buổi tối nay nhé – đừng quên lời hứa đó đấy.”

“Hãy yên tâm đi. Vào đúng thời điểm và địa điểm, em sẽ ghi nhớ mọi thứ. Giờ thì đi đi, đi đi, vì ơn trên! Em đã bị trông đợi đúng vào khoắc mười hai giờ đêm, và em đã trễ giờ rồi.”

“Trễ có năm phút thôi mà.”

“Đúng; nhưng trong một số hoàn cảnh nhất định thì năm phút dài đằng đẵng như năm thời kỳ vậy.”

“Khi người ta yêu.”

“Thế á! Và ai bảo với anh là em không có chuyện bận tâm với người tình cơ chứ?”

“Lại sắp sửa tranh cãi nữa rồi phải không!” nàng Bonacieux nói, với một nụ cười nửa miệng phảng phất chút thiếu kiên nhẫn.

“Không, không; anh đi đây, anh khởi hành ngay đây! Anh tin em, và anh xin nhận hết mọi công lao của sự tận tụy dẫu cho sự tận tụy ấy có là ngu ngốc đi chăng nữa. Vĩnh biệt phu nhân, vĩnh biệt!”

Và như thể chàng phải dùng đến một nỗ lực dữ dội mới có đủ sức dứt khoát buông bàn tay đang cầm ra, chàng bật người chạy vọt đi, trong khi nàng Bonacieux gõ ba tiếng nhẹ nhàng và đều đặn lên cánh cửa y như gõ vào ô cửa chớp ban nãy. Khi đã ra đến góc phố, chàng quay đầu nhìn lại. Cánh cửa đã được mở ra rồi khép lại; người vợ xinh đẹp của người thợ sẻ đã biến mất.

D’Artagnan tiếp tục rảo bước. Chàng đã hứa danh dự là sẽ không theo dõi nàng Bonacieux, và dẫu cho sinh mạng của chàng có phụ thuộc vào việc nàng đang đi đâu hay kẻ tháp tùng nàng là ai đi nữa, D’Artagnan vẫn sẽ quay về nhà, bởi chàng đã hứa như thế. Năm phút sau, chàng đã có mặt ở phố Rue des Fossoyeurs.

“Tội nghiệp Athos!” chàng tự nhủ; “anh ấy sẽ chẳng bao giờ đoán được tất cả chuyện này có ý nghĩa gì. Chắc anh ấy đã thiếp đi trong lúc chờ ta, hoặc đã quay về nhà để rồi bàng hoàng phát hiện ra có một phụ nữ từng ghé qua. Một người phụ nữ ở cùng Athos ư! Xét cho cùng,” D’Artagnan tiếp lời, “chẳng phải cũng từng có một bóng hồng ở bên Aramis đó sao. Mọi chuyện thật quá đỗi kỳ lạ; và ta đang rất tò mò muốn biết cái kết của nó sẽ ra sao đây.”

“Hỏng bét rồi thưa ngài, hỏng bét hết rồi!” một giọng nói vang lên mà chàng thanh niên nhận ra ngay là của Planchet; bởi vì vừa lẩm bẩm một mình dọc đường như những kẻ đang có tâm sự nặng nề, chàng ta đã bước vào căn hẻm mà tận cùng là chiếc cầu thang dẫn lên căn phòng của mình.

“Hỏng bét là sao? Mày đang ám chỉ cái gì thế hả cái đồ ngốc này?” D’Artagnan hỏi. “Đã có chuyện gì xảy ra vậy?”

“Đủ mọi thứ tai họa trên đời xuất hiện rồi ạ.”

“Cái gì cơ?”

“Trước tiên là ngài Athos đã bị bắt giữ.”

“Bị bắt giữ! Athos bị bắt giữ ư? Vì tội gì chứ?”

“Người ta tìm thấy ngài ấy trong phòng của ngài; họ tưởng ngài ấy là ngài.”

“Và ai là kẻ đã bắt giữ ngài ấy?”

“Bọn lính canh do mấy tên mặc áo đen mà ngài vừa cho rượt chạy té khói dẫn đường ạ.”

“Tại sao ngài ấy không khai tên thật? Tại sao ngài ấy không nói với chúng rằng ngài ấy chẳng dính líu gì đến vụ này cơ chứ?”

“Ngài ấy thừa khôn ngoan để không làm thế chứ ạ, thưa ngài; trái lại, ngài ấy còn tiến lại gần con và bảo rằng: ‘Chính chủ nhân của ngươi mới là kẻ đang cần được tự do vào lúc này chứ không phải ta, bởi ngài ấy thì nắm rõ mọi chuyện trong khi ta chẳng biết tẻ te gì. Bọn chúng sẽ tưởng ngài ấy bị bắt, và điều đó sẽ câu giờ cho ngài ấy; ba ngày nữa ta sẽ khai thân phận thật, và chắc chắn chúng sẽ phải thả ta ra’.”

“Bravo, Athos! Trái tim cao cả!” D’Artagnan lẩm bẩm. “Ta thừa hiểu con người anh ấy mà! Thế còn đám quan quân thì sao?”

“Bốn tên đã áp giải ngài ấy đi đâu đó con chẳng rõ – chắc là đến ngục Bastille hoặc pháo đài l’Evêque. Hai tên ở lại cùng đám mặc áo đen lục soát khắp ngõ ngách và gom toàn bộ giấy tờ đi. Hai tên cuối cùng đứng gác cửa trong suốt quá trình lùng sục đó; rồi khi xong việc, chúng chuồn thẳng, để lại căn nhà trống hoác và rộng cửa đón gió.”

“Còn Porthos và Aramis đâu?”

“Con không tài nào tìm được họ; họ không đến.”

“Nhưng thế nào họ cũng tới thôi, chẳng phải mày đã nhắn lại là ta đang đợi họ đấy sao?”

“Vâng, thưa ngài.”

“Vậy thì cứ rà soát ở lại đây, đừng có nhúc nhích; nếu họ tới, hãy kể lại mọi chuyện vừa xảy ra. Bảo họ đợi ta ở quán Pomme-de-Pin. Ở đây lúc này rất nguy hiểm; ngôi nhà có lẽ đang bị mật thám theo dõi đấy. Ta phải phi ngay đến chỗ ngài de Tréville để báo cáo toàn bộ sự việc, rồi sẽ hội quân với họ ở đó.”

“Vâng, thưa ngài,” Planchet đáp.

“Nhưng mày phải ở lại đây đấy; không sợ hãi gì chứ?” D’Artagnan vừa quay người lại vừa dặn dò để củng cố tinh thần cho tên đầy tớ.

“Cứ yên tâm đi thưa ngài,” Planchet nói; “ngài vẫn chưa hiểu hết về con đâu. Con thừa can đảm khi đã quyết định làm gì đó. Vạn sự khởi đầu nan mà. Hơn nữa, con là người vùng Picardy cơ mà.”

“Thế thì quyết định vậy nhé,” D’Artagnan nói; “mày thà chịu chết chứ nhất định không bỏ vị trí đúng không?”

“Vâng, thưa ngài; và chẳng có gì là con không dám làm để chứng minh cho ngài thấy con trung thành với ngài nhường nào đâu ạ.”

“Tốt lắm!” D’Artagnan thầm nghĩ. “Xem ra phương pháp mà ta áp dụng với thằng bé này quả thực là tuyệt vời nhất. Ta sẽ lại dùng đến nó khi có dịp.”

Và với toàn bộ tốc độ của đôi chân dẫu đã mỏi nhừ vì những chuyến ngao du suốt cả ngày dài, D’Artagnan hướng thẳng bước chân về phía dinh thự của ngài de Tréville.

Ngài de Tréville không có nhà. Đại đội của ông đang túc trực làm nhiệm vụ ở cung điện Louvre; ông đang ở Louvre cùng với đội quân của mình.

Bằng giá nào cũng phải gặp được ngài de Tréville; việc thông báo cho ông biết những gì đang diễn ra là vô cùng cấp bách. D’Artagnan quyết định thử đột nhập vào Louvre.

Bộ trang phục lính ngự lâm thuộc đại đội của ngài Dessessart hẳn sẽ là tấm thông hành tốt nhất cho chàng.

Thế là chàng rảo bước xuống phố Rue des Petits Augustins, tiến ra bến tàu để sang Cầu Mới. Ban đầu chàng định qua sông bằng đò; nhưng khi ra đến bờ sông, chàng vô tình thọc tay vào túi và chợt nhận ra mình chẳng còn một cắc để trả tiền vé qua đò.

Khi vừa đặt chân đến đầu phố Rue Guénegaud, chàng nhìn thấy hai người vừa bước ra từ phố Rue Dauphine với vẻ ngoài đập vào mắt chàng vô cùng ấn tượng. Trong hai kẻ hợp thành tốp người đó, một là đàn ông và người kia là phụ nữ. Người phụ nữ có vóc dáng y hệt nàng Bonacieux; còn người đàn ông thì trông giống Aramis đến mức dễ bị nhận nhầm là anh ta.

Hơn thế nữa, người phụ nữ khoác chiếc áo choàng đen mà D’Artagnan vẫn còn thấy thấp thoáng trên khung cửa chớp ở phố Rue de Vaugirard và trước cánh cửa ở phố Rue de la Harpe; thêm vào đó, người đàn ông lại mặc bộ đồng phục của một lính ngự lâm.

Chiếc mũ trùm đầu của người phụ nữ được kéo sụp xuống, còn người đàn ông thì dùng khăn tay che kín mặt. Cả hai, đúng như sự cẩn trọng gấp đôi ấy biểu hiện, đều có chung một nỗi sợ bị nhận diện.

Họ bước lên cầu. Đó cũng chính là đường đi của D’Artagnan trên đường tới Louvre. D’Artagnan liền bám theo họ.

Chàng chưa đi được hai mươi bước thì đã đoan chắc rằng người phụ nữ đích thị là nàng Bonacieux và kẻ kia chính là Aramis.

Vào khoảnh khắc đó, chàng cảm thấy mọi sự hoài nghi của lòng ghen tuông đang cào xé tâm can. Chàng thấy mình bị phản bội gấp hai lần, bởi người bạn thân và bởi cả người mà chàng đã thầm yêu thương như một người tình. Nàng Bonacieux từng thề độc trước tất cả các vị thần rằng nàng không hề quen biết Aramis; thế mà chỉ mười lạng rưỡi sau lời khẳng định đó, chàng lại bắt gặp nàng đang khoác tay hắn tình tứ.

D’Artagnan quên bẵng mất rằng chàng mới chỉ quen biết người vợ xinh đẹp của người thợ sẻ vỏn vẹn có ba tiếng đồng hồ; rằng nàng chẳng nợ nần gì chàng ngoài một chút lòng biết ơn vì đã giải thoát nàng khỏi đám người áo đen muốn bắt cóc nàng, và rằng nàng chưa hề hứa hẹn bất cứ điều gì với chàng. Chàng tự coi mình là một người tình bị lăng mục, phản bội và biến thành trò hề. Máu nóng và sự giận dữ dồn bừng lên mặt; chàng quyết tâm phải bóc trần sự thật đằng sau bức màn bí mật này.

Cả chàng trai lẫn cô gái đều nhận ra họ đang bị theo dõi, liền rảo nhanh bước chân hơn nữa. D’Artagnan đã định liệu xong xuôi cách hành xử. Chàng vượt lên trước họ, rồi vòng ngược lại để chặn đầu họ ngay trước trạm Samaritaine – nơi đang được thắp sáng rực rỡ bởi một ngọn đèn hắt ánh hào quang bao trùm toàn bộ đoạn cầu đó.

D’Artagnan dừng bước ngay trước mặt họ, và họ cũng buộc phải đứng khựng lại.

“Ngài muốn gì đây?” vị lính ngự lâm vừa lùi lại một bước vừa cất tiếng hỏi, với một âm hưởng ngoại tộc đã chứng minh cho D’Artagnan thấy rằng chàng đã đoán sai một trong những phỏng đoán của mình.

“Không phải Aramis!” chàng thốt lên.

“Không, thưa ngài, không phải Aramis; và qua tiếng kêu của ngài, ta nhận ra ngài đã nhầm ta với người khác, ta tha thứ cho ngài đấy.”

“Ngài tha thứ cho tôi ư?” D’Artagnan kêu lên.

“Đúng vậy,” người lạ mặt đáp. “Vậy xin hãy nhường đường cho ta đi tiếp, vì người ngài cần tìm không phải là ta.”

“Ngài nói đúng, thưa ngài, kẻ tôi cần tìm không phải là ngài; mà chính là Phu nhân đây.”

“Với Phu nhân ư! Ngài chẳng hề quen biết nàng đâu,” người lạ mặt lạnh lùng đáp.

“Ngài lầm rồi đấy, thưa ngài; tôi biết rất rõ là đằng khác.”

“Ôi,” nàng Bonacieux cất lời với giọng đầy trách móc, “ôi, thưa ngài, em đã trót trao cho anh lời hứa của một người lính và danh dự của một kị sĩ rồi cơ mà. Em đã hy vọng có thể tin tưởng vào điều đó chứ.”

“Còn anh nữa, thưa phu nhân!” D’Artagnan ngượng ngùng thốt lên; “em đã hứa với anh là—”

“Hãy vịện cánh tay tôi đi em, thưa phu nhân,” người lạ mặt nói, “chúng ta tiếp tục lên đường thôi.”

Tuy nhiên, D’Artagnan, chết trân, suy sụp và hoàn toàn tan nát trước mọi chuyện vừa diễn ra, vẫn đứng trơ ra đó với hai tay khoanh trước ngực, chắn ngang đường vị lính ngự lâm và nàng Bonacieux.

Vị lính ngự lâm bước tiến hai bước, dùng tay đẩy mạnh D’Artagnan sang một bên. D’Artagnan liền lùi lại một bước rồi rút kiếm ra. Cùng lúc đó, với tốc độ nhanh như chớp, người lạ mặt cũng rút thanh kiếm của mình ra khỏi vỏ.

“Nhân danh Chúa, thưa Ngài!” nàng Bonacieux thét lên, lao mình vào giữa hai kẻ quyết đấu và dùng tay không chộp lấy lưỡi kiếm.

“Thưa Ngài!” D’Artagnan kêu lên, bỗng bừng tỉnh trước một ý nghĩ lóe lên trong đầu, “Thưa Ngài! Xin ngài tha tội, thưa ngài không phải là—”

“Công tước xứ Buckingham đấy!” nàng Bonacieux thì thầm; “và giờ thì anh có thể hại tất cả chúng tôi tiêu đời rồi đấy.”

“Thưa Ngài, thưa Phu nhân, tôi xin ngàn lần tạ tội! Nhưng vì tôi yêu nàng, thưa Ngài, và tôi đã nổi ghen. Ngài thừa hiểu cảm giác khi yêu là thế nào mà, thưa Ngài. Xin hãy tha thứ cho tôi, rồi bảo tôi phải làm sao để đánh cược tính mạng phục vụ cho ân huệ của Ngài đây?”

“Ngài là một chàng trai quả cảm,” Buckingham nói, đưa tay ra cho D’Artagnan – người đang cung kính siết chặt lấy nó. “Ngài vừa ngỏ lời dâng hiến dịch vụ cho ta; ta cũng xin hoan hỉ đón nhận với sự thẳng thắn tương tự. Hãy bám theo chúng tôi ở khoảng cách hai mươi bước chân cho đến tận Louvre, và nếu có bất kẻ nào dám theo dõi chúng ta, hãy hạ sát hắn ngay lập tức!”

D’Artagnan kẹp thanh kiếm trần truồng vào nách, nhường cho vị công tước và nàng Bonacieux bước lên trước hai mươi bước, rồi lầm lũi bám theo sau, sẵn sàng tuân thủ triệt để mọi chỉ thị từ vị đại thần hào hoa và quyền quý của Charles I.

May mắn thay, chàng chẳng có cơ hội nào để chứng minh lòng trung thành đó với vị công tước, và người phụ nữ trẻ cùng vị lính ngự lâm tuấn tú đã bước vào cung điện Louvre qua lối cửa ngách Echelle mà không vấp phải bất kỳ sự cản trở nào.

Về phần D’Artagnan, chàng ngay lập tức quay lại quán rượu Pomme-de-Pin, nơi Porthos và Aramis đang chờ đợi. Chàng chẳng thèm giải thích gì về sự hoảng hốt hay phiền toái mà mình đã gây ra cho họ, mà chỉ thông báo rằng chàng đã tự mình giải quyết xong xuôi vụ việc mà thoạt đầu chàng tưởng sẽ phải nhờ đến sự trợ giúp của họ.

Trong lúc đó, bị cuốn đi theo dòng sự kiện của câu chuyện, chúng ta đành phải để ba người bạn tự lo liệu lấy phần mình, và tiếp tục bước chân theo chân Công tước xứ Buckingham cùng người dẫn đường của ông xuyên qua những mê cung chốn Louvre.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 19 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.