Thay vì trở thẳng về nhà, d’Artagnan xuống ngựa trước cửa nhà ông de Tréville và nhanh nhẹn bước lên gác. Lần này anh đã quyết định kể lại mọi chuyện đã xảy ra. Chắc chắn ông de Tréville sẽ cho anh những lời khân sáng suốt về toàn bộ vụ việc. Hơn nữa, vì ông de Tréville hầu như ngày nào cũng diện kiến hoàng hậu, rất có thể ngài sẽ dò hỏi được từ vương hậu một vài tin tức về cô gái trẻ tội nghiệp nọ, người mà chắc chắn đang phải gánh chịu những đòn trả thù đắt giá cho lòng trung thành dành cho nữ chủ nhân của mình.
Ông de Tréville lắng nghe lời kể của chàng thanh niên với vẻ nghiêm nghị, chứng tỏ ngài nhìn nhận ra phía sau cuộc phiêu lưu này không chỉ là một chuyện tình ái thông thường. Khi d’Artagnan vừa dứt lời, ngài liền bảo: “Chà! Tất cả những điều này phảng phất mùi vị của đức hồng y từ cách xa cả dặm.”
“Nhưng phải làm gì bây giờ?” d’Artagnan hỏi.
“Không làm gì cả, hoàn toàn không làm gì cả vào lúc này, ngoại trừ việc rời khỏi Paris như ta đã dặn, càng sớm càng tốt. Ta sẽ diện kiến hoàng hậu; ta sẽ thuật lại cho người nghe chi tiết về sự biến mất của người phụ nữ tội nghiệp này, điều mà chắc chắn ngài chưa hề hay biết. Những chi tiết ấy sẽ định hướng cho ngài, và khi cậu trở về, rất có thể ta sẽ có một vài tin tức tốt lành để báo cho cậu. Hãy tin tưởng ở ta.”
D’Artagnan thừa biết rằng, dẫu mang dòng máu xứ Gascogne, ông de Tréville không có thói quen hứa suông, và một khi ngài đã tình cờ hứa hẹn thì chắc chắn ngài sẽ làm nhiều hơn lời hứa. Anh bèn cúi đầu chào ngài, lòng đầy biết ơn cho quá khứ lẫn tương lai; và vị đại úy đáng kính, người về phần mình cũng dành thiện cảm sâu sắc cho chàng thanh niên dũng cảm và kiên quyết này, đã ân cần siết chặt tay anh, chúc anh có một chuyến đi thuận lợi.
Quyết định thực hiện ngay những lời khuyên của ông de Tréville, d’Artagnan liền hướng thẳng về phố des Fossoyeurs để giám sát việc thu dọn hành lý. Khi đến gần ngôi nhà, anh trông thấy ông Bonacieux trong trang phục mặc nhà đang đứng ngay ngưỡng cửa. Toàn bộ những điều mà người đầy tớ thận trọng Planchet đã kể cho anh vào tối hôm trước về bản chất nham hiểm của lão già bỗng ùa về trong tâm trí d’Artagnan, khiến anh nhìn lão chăm chú hơn trước. Quả thực, bên cạnh sắc da vàng vọt, bệnh hoạn cho thấy dịch mật đã ngấm vào máu, vốn có thể chỉ là tình cờ, d’Artagnan còn nhận thấy điều gì đó đầy ác ý ẩn giấu trong những nếp nhăn trên khuôn mặt lão. Một kẻ gian trá không bao giờ cười giống như một người lương thiện; một kẻ đạo đức giả không rơi những giọt nước mắt của một người có lòng dạ chân thành. Mọi sự giả dối đều là một chiếc mặt nạ; và dù chiếc mặt nạ đó có được làm khéo léo đến đâu, chỉ cần chú ý một chút là ta luôn có thể phân biệt được nó với khuôn mặt thật.
Do đó, d’Artagnan có cảm giác rằng ông Bonacieux đang đeo mặt nạ, và hơn thế nữa, chiếc mặt nạ ấy vô cùng chướng mắt. Vì niềm ghê tởm này, anh định cứ thế bước qua mà không thèm nói một lời, nhưng cũng giống như hôm trước, ông Bonacieux lại là người cất lời trước.
“Này chàng trai trẻ,” lão lên tiếng, “xem chừng chúng ta trải qua những đêm khá vui vẻ nhỉ! Bảy giờ sáng! Chà chà! Trông anh có vẻ đi ngược lại với thông lệ bình thường, toàn về nhà vào cái giờ mà người ta đang dắt díu nhau đi ra.”
“Chẳng ai có thể trách ông điều tương tự đâu, thưa ông Bonacieux,” chàng thanh niên đáp; “ông đúng là hình mẫu cho những kẻ sống có khuôn phép. Quả thực, khi một người sở hữu người vợ vừa trẻ vừa đẹp, anh ta chẳng cần phải tìm kiếm hạnh phúc ở đâu khác. Hạnh phúc tự tìm đến với anh ta cơ mà, phải không thưa ông Bonacieux?”
Bonacieux tái mặt đi như người sắp chết và nặn ra một nụ cười nhợt nhạt, ghê rợn.
“À, à!” Bonacieux nói, “anh thật là một tay hay nói đùa! Nhưng quỷ tha ma bắt thế nào mà tối qua cậu lại đi lang thang ở đâu thế, hỡi cậu chủ trẻ? Mấy ngã tư đường trông có vẻ không được sạch sẽ cho lắm thì phải.”
D’Artagnan liếc xuống đôi bốt của mình, đầy những bùn là bùn; nhưng chính cái liếc mắt ấy lại rơi vào đôi giày và đôi bít tất của tay thợ vải, và người ta có thể thề rằng chúng vừa được nhúng vào cùng một đống bùn. Cả hai đều lấm tấm những vết bùn bắn tung tóe y hệt nhau.
Lúc đó một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu d’Artagnan. Hắn đàn ông lùn đậm người, tuổi đã cao, thứ cận vệ mặc y phục tối màu, kẻ bị đối xử chẳng chút khách khí bởi đám người đeo kiếm tạo thành hộ vệ đoàn ấy, chính là Bonacieux. Người chồng đã nhúng tay vào vụ bắt cóc vợ mình.
Một sự thúc giục khủng khiếp trỗi dậy trong lòng d’Artagnan muốn túm lấy cổ họng gã thợ vải và bóp cổ hắn; nhưng như chúng ta đã biết, anh là một thanh niên rất thận trọng nên đã kìm chế lại được. Tuy nhiên, sự biến đổi hiện rõ trên khuôn mặt anh lại rành rành đến mức Bonacieux hoảng sợ thực sự, liền cố lùi lại một hoặc hai bước; nhưng vì đang đứng ngay trước cánh cửa đóng một nửa, vật cản buộc hắn phải đứng yên một chỗ.
“Ơ kìa, hóa ra anh chỉ đang nói đùa thôi, người anh em đáng kính ạ!” d’Artagnan nói. “Tôi thấy rằng nếu đôi bốt của tôi cần một miếng bọt biển, thì đôi bít tất và giày của ông cũng cần một cái bàn chải không kém. Hay là ông cũng vừa đi lăng nhăng đâu đó một chút đấy, thưa ông Bonacieux? Ồ, lạy chúa! Điều đó thật không thể tha thứ được đối với một người ở tuổi của ông, lại thêm việc sở hữu một người vợ xinh đẹp nhường ấy.”
“Trời đất quỷ thần ơi! Không hề có chuyện đó,” Bonacieux đáp, “nhưng ngày hôm qua tôi đến St. Mandé để dò hỏi thông tin về một tên đầy tớ, vì tôi không thể sống thiếu người hầu được; và đường sá thì quá ư tồi tệ nên tôi mới mang về đống bùn đất này, mà tôi vẫn chưa có thời gian để cọ rửa.”
Địa điểm mà Bonacieux nêu ra là mục đích chuyến đi của lão lại là một bằng chứng mới củng cố cho những nghi ngờ mà d’Artagnan vừa nhen nhóm. Bonacieux đã nhắc đến Mandé bởi vì Mandé nằm ở hướng ngược lại hoàn toàn so với St. Cloud. Xác suất này mang lại cho anh niềm an ủi đầu tiên. Nếu Bonacieux biết vợ mình đang ở đâu, người ta có thể dùng những biện pháp mạnh để ép gã thợ vải phải cạy răng ra và thốt lên bí mật của hắn. Vấn đề lúc bấy giờ là làm thế nào để biến xác suất này thành sự thật hiển nhiên.
“Xin lỗi, thưa ông Bonacieux thân mến, nếu tôi có chút đường đột,” d’Artagnan nói, “nhưng chẳng có gì khiến người ta khát nước bằng việc thiếu ngủ cả. Cổ họng tôi khô khốc đây này. Cho phép tôi xin một cốc nước trong phòng của ông nhé; ông biết là láng giềng với nhau thì người ta chẳng bao giờ từ chối chuyện đó đâu.”
Không đợi sự cho phép của chủ nhà, d’Artagnan nhanh chóng bước vào trong nhà và đưa mắt liếc nhanh về phía chiếc giường. Nó chưa hề được động đến. Bonacieux không hề nằm ngủ trên giường. Hắn chỉ mới về nhà trước đó một hoặc hai tiếng; hắn đã hộ tống vợ mình đến nơi giam giữ, hoặc ít nhất cũng đến trạm đổi ngựa đầu tiên.
“Cảm ơn ông, thưa ông Bonacieux,” d’Artagnan nói khi cạn sạch cốc nước, “tôi chỉ cần có thế ở ông thôi. Giờ tôi sẽ lên phòng của mình đây. Tôi sẽ bảo Planchet cọ rửa đôi bốt; và khi làm xong, nếu ông thích, tôi sẽ sai nó sang cọ giày giúp ông.”
Anh rời khỏi gã thợ vải trong khi hắn đang đứng ngẩn người vì lời chào tạm biệt kỳ lạ và tự hỏi không biết bản thân có vừa hành động thiếu suy nghĩ nào không.
Ngay trên chiếu nghỉ cầu thang, anh bắt gặp Planchet đang vô cùng hoảng hốt.
“Ôi, thưa ngài!” Planchet kêu lên vừa lúc nhận ra chủ nhân, “lại có rắc rối nữa rồi. Tôi cứ tưởng ngài chẳng bao giờ quay về nữa chứ.”
“Lại chuyện gì nữa thế, hả Planchet?” d’Artagnan hỏi.
“Ồ! Thưa ngài, tôi cho ngài đoán một trăm, thậm chí một nghìn lần đấy, về vị khách vừa đến thăm trong lúc ngài vắng nhà.”
“Khi nào?”
“Khoảng nửa tiếng trước, trong lúc ngài đang ở nhà ông de Tréville.”
“Ai đã đến đây? Thôi nào, nói mau.”
“Ông de Cavois.”
“Ông de Cavois ư?”
“Chính ngài ấy.”
“Đội trưởng đội Cận vệ của hồng y á?”
“Đích thân hắn.”
“Hắn đến để bắt tôi phăng-te-di à?”
“Tôi dám cá là thế đấy, thưa ngài, mặc cho cái điệu bộ ngọt ngào của hắn.”
“Hắn tỏ ra ngọt ngào lắm cơ à?”
“Quả thật, hắn ngọt ngào như mía lùi ấy chứ, thưa ngài.”
“Thế cơ à!”
“Hắn bảo hắn đến theo lệnh của đức hồng y, người hằng quan tâm đến ngài, để khẩn khoản mời ngài theo hắn đến Palais-Royal*.
*Nơi này từng được gọi là Palais-Cardinal trước khi Richelieu hiến nó cho nhà vua.
“Rồi cậu trả lời hắn thế nào?”
“Rằng điều đó là bất khả thi, vì ngài có ở nhà đâu, và ngài ấy cũng thấy rõ điều đó.”
“Ừm, thế hắn nói gì tiếp?”
“Rằng ngài nhất định phải đến yết kiến ngài ấy trong ngày hôm nay; rồi hắn nói nhỏ thêm rằng: ‘Hãy bảo với chủ nhân của anh rằng đức hồng y rất có thiện cảm với ông ấy, và vận mệnh của ông ấy có lẽ phụ thuộc vào cuộc gặp này đấy.’”
“Cái bẫy này xem chừng hơi kém khôn ngoan đối với đức hồng y,” chàng thanh niên mỉm cười đáp.
“Ồ, tôi thừa sức nhìn ra cái bẫy ấy, và tôi đã trả lời rằng ngài sẽ vô cùng tuyệt vọng khi quay về cho mà xem.”
“‘Hắn đi đâu rồi?’ ông de Cavois hỏi.”
“‘Đến Troyes, vùng Champagne,’ tôi đáp.”
“‘Và hắn khởi hành khi nào?’”
“‘Tối hôm qua.’”
“Planchet, bạn tôi ơi,” d’Artagnan ngắt lời, “cậu quả là một báu vật.”
“Ngài thừa hiểu đấy, thưa ngài, tôi nghĩ vẫn còn kịp thời gian nếu ngài muốn gặp ông de Cavois để phủ nhận lời tôi và nói rằng ngài chưa hề đi đâu cả. Khi ấy lời nói dối sẽ thuộc về phía tôi, và vì tôi không phải là quý tộc, tôi được phép nói dối cơ mà.”
“Cứ vững tâm đi, Planchet, cậu sẽ giữ được tiếng tăm là một người trung thực. Chỉ một khắc nữa là chúng ta lên đường.”
“Đó cũng là lời khuyên mà tôi định dâng lên ngài; thế chúng ta sẽ đi đâu đây, nếu tôi được phép hỏi mà không mang tiếng là tò mò quá mức?”
“Pardieu! Đi theo hướng ngược lại với hướng mà cậu vừa bảo là tôi đã đi. Hơn nữa, chẳng lẽ cậu không sốt sắng muốn biết tin tức về Grimaud, Mousqueton, và Bazin giống như tôi muốn biết điều gì đã xảy ra với Athos, Porthos, và Aramis hay sao?”
“Vâng, thưa ngài,” Planchet nói, “và tôi sẽ lên đường bất cứ lúc nào ngài muốn. Quả thật, tôi nghĩ không khí ở các tỉnh thành lúc này sẽ hợp với chúng ta hơn nhiều so với không khí ở Paris. Vậy thì—”
“Vậy thì, hãy thu dọn hành lý đi, Planchet, và chúng ta lên đường thôi. Về phần mình, tôi sẽ thọc tay vào túi quần đi ra ngoài để không ai mảy may nghi ngờ. Cậu có thể nhập bọn với tôi tại chuồng ngựa của Hôtel des Gardes. Nhân tiện đây, Planchet, tôi nghĩ cậu đã phán chuẩn xác về lão chủ nhà của chúng ta, rằng lão đích thị là một gã đê tiện đáng sợ.”
“Ồ, thưa ngài, ngài cứ tin tưởng ở tôi khi tôi đã nói điều gì. Tôi là một chuyên gia nhân tướng học đấy, tôi đảm bảo thế.”
D’Artagnan bước ra trước như đã thỏa thuận. Sau đó, để không còn điều gì phải áy náy, anh hướng bước chân lần cuối cùng đến dinh thự của ba người bạn. Không có bất kỳ tin tức nào về họ; chỉ có một bức thư được ướp nước hoa thơm phức, viết bằng những nét chữ nhỏ tinh tế được gửi đến cho Aramis. D’Artagnan tiện tay cầm lấy nó. Mười phút sau, Planchet đã bắt kịp anh tại khu chuồng ngựa của Hôtel des Gardes. Để không lãng phí thời gian, chính d’Artagnan đã tự tay yên cương cho con ngựa của mình.
“Tốt lắm,” anh bảo Planchet khi tên gia nhân chất thêm chiếc túi hành lý lên yên. “Giờ hãy yên cương cho ba con ngựa còn lại đi.”
“Thưa ngài, ngài có nghĩ rằng chúng ta sẽ đi nhanh hơn nếu mỗi người cưỡi hai con ngựa không?” Planchet hỏi với vẻ mặt ranh mãnh.
“Không đâu, đồ hề ạ,” d’Artagnan đáp; “nhưng với bốn con ngựa này, chúng ta có thể mang ba người bạn của mình trở về, nếu chúng ta may mắn tìm thấy họ còn sống.”
“Đó là một xác suất rất mong manh,” Planchet đáp, “nhưng chúng ta không được phép tuyệt vọng trước lòng thương xót của Chúa.”
“Amen!” d’Artagnan nói và trèo lên yên.
Khi rời khỏi Hôtel des Gardes, họ tách ra, đi về hai phía đối diện của con phố, một người rời Paris qua ngả Barrière de la Villette và người kia qua ngả Barrière Montmartre, để rồi hội quân ở phía bên kia St. Denis — một cuộc hành quân chiến lược được thực hiện với độ chính xác tuyệt đối và mang lại kết quả vô cùng mỹ mãn. D’Artagnan và Planchet cùng nhau tiến vào Pierrefitte.
Phải thừa nhận rằng Planchet ban ngày gan dạ hơn ban đêm. Tuy nhiên, sự thận trọng vốn có chưa bao giờ rời bỏ hắn dẫu chỉ một khắc. Hắn không quên bất kỳ sự cố nào trong chuyến đi đầu tiên, và nhìn bất cứ ai gặp trên đường như một kẻ thù. Hệ quả là chiếc mũ trên đầu hắn cứ chực chờ rớt khỏi tay, mang lại cho hắn những lời quở trách nghiêm khắc từ d’Artagnan, kẻ luôn lo sợ rằng sự lịch thiệp thái quá ấy sẽ khiến người ta nghĩ hắn là gia nhân của một kẻ vô tích sự.
Mặc dù vậy, dù là vì những người qua đường thực sự cảm động trước sự lịch thiệp của Planchet hay vì lần này không có kẻ nào mai phục trên đường đi của chàng thanh niên, hai lữ khách của chúng ta đã đến Chantilly mà không gặp bất kỳ tai tụ nào, và dừng chân tại quán trọ Great St. Martin, chính là nơi họ từng ghé qua trong chuyến đi đầu tiên.
Gã chủ quán, khi trông thấy một chàng thanh niên đi sau là một tên gia nhân dắt theo hai con ngựa phụ trội, liền cung kính bước ra cửa. Bây giờ, tính ra họ đã đi được mười một dặm đường, d’Artagnan cho rằng đã đến lúc dừng chân, dù Porthos có hay không có mặt ở quán trọ này. Có lẽ sẽ không khôn ngoan chút nào nếu hỏi ngay ngọn ngành xem viên Ngự lâm quân đã đi đâu về đâu. Hệ quả của những suy tính ấy là d’Artagnan, chẳng thèm gặng hỏi bất kỳ thông tin gì, liền xuống ngựa, giao phó đám ngựa cho tên gia nhân chăm sóc, bước vào một căn phòng nhỏ chuyên dành cho những ai muốn có không gian riêng, rồi gọi chủ quán mang lên một chai rượu ngon nhất cùng một bữa điểm tâm thật thịnh soạn — một yêu cầu càng củng cố thêm ấn tượng tốt đẹp mà chủ quán đã dành cho vị lữ khách ngay từ cái nhìn đầu tiên.
Do đó, d’Artagnan được phục vụ với tốc độ nhanh đến thần kỳ. Trung đoàn Cận vệ vốn được tuyển mộ từ những bậc quyền quý hàng đầu vương quốc; và d’Artagnan, dẫu chỉ mặc bộ quân phục giản dị nhưng lại có gia nhân hầu hạ và du hành cùng bốn con ngựa tráng kiện, chắc chắn sẽ tạo nên tiếng vang lớn. Gã chủ quán ngỏ ý muốn tự tay phục vụ anh; nhận ra điều đó, d’Artagnan bèn gọi mang ra hai chiếc cốc và bắt đầu câu chuyện.
“Thưa ngài chủ quán thân mến, thề có Chúa,” d’Artagnan vừa nói vừa rót đầy hai chiếc cốc, “tôi đã gọi một chai rượu thượng hạng của nhà hàng, và nếu ông dám lừa dối tôi, ông sẽ bị trừng phạt chính bằng cái tội mà ông phạm phải; vì tôi vốn ghét uống rượu một mình, nên ông sẽ phải uống cùng tôi. Nào, hãy nâng cốc lên và cạn chén thôi. Nhưng chúng ta sẽ cạn vì điều gì đây để không làm tổn thương sự nhạy cảm của bất kỳ ai nhỉ? Hãy uống vì sự thịnh vượng của cơ ngơi này vậy.”
“Đại nhân quá khen,” chủ quán đáp, “và tôi xin chân thành cảm ơn thiện ý của ngài.”
“Nhưng đừng hiểu lầm nhé,” d’Artagnan nói, “ẩn chứa trong lời chúc của tôi có phần nhiều sự vụ lợi hơn là ông tưởng — bởi vì chỉ ở những cơ ngơi làm ăn phát đạt thì người ta mới được tiếp đãi tử tế. Ở những quán trọ đang lụi tàn, mọi thứ đều hỗn độn, và lữ khách sẽ trở thành nạn nhân cho những bề bộn của chủ nhà. Nay tôi phải đi lại rất nhiều, đặc biệt là trên con đường này, và tôi luôn muốn thấy mọi chủ quán đều phất lên thành triệu phú.”
“Tôi có cảm giác rằng,” chủ quán thưa, “đây không phải là lần đầu tiên tôi có vinh hạnh được đón tiếp ngài.”
“Ồ, tôi đã đi qua Chantilly có lẽ đến mười lần, và trong số mười lần đó thì ít nhất cũng có ba bốn lần tôi dừng chân tại quán của ông. Thậm chí tôi vừa ở đây cách đây mười hay mười hai ngày thôi. Khi đó tôi đang hộ tống vài người bạn, đều là Ngự lâm quân, mà nhân tiện có một người trong số họ đã có cuộc tranh chấp với một kẻ lạ mặt — một kẻ cố tình gây sự với anh ta vì cái quái gì chẳng rõ.”
“Chính xác là thế ạ,” chủ quán nói; “tôi nhớ rất rõ. Không lẽ vị đại nhân muốn nhắc đến ông Porthos sao?”
“Đúng vậy, đó chính là tên người bạn đồng hành của tôi. Lạy Chúa, chủ quán thân mến, hãy nói cho tôi biết liệu có chuyện chẳng lành nào xảy ra với anh ấy không?”
“Chắc ngài đại nhân cũng nhận thấy rằng ông ấy không thể tiếp tục hành trình.”
“Ừ thì, rõ ràng là anh ấy hứa sẽ hội quân cùng chúng tôi, nhưng rồi chẳng thấy bóng dáng đâu.”
“Ngài ấy đã rủ lòng thương ở lại đây với chúng tôi.”
“Sao cơ, anh ấy đã rủ lòng thương ở lại đây á?”
“Vâng, thưa ngài, ngay tại căn nhà này; và thú thực chúng tôi cũng đang có chút lo lắng—”
“Về chuyện gì?”
“Về một số khoản chi phí mà ngài ấy đã tạo ra.”
“Chà, nhưng dù là chi phí gì đi nữa, tôi chắc chắn rằng anh ấy hoàn toàn có khả năng thanh toán.”
“Ồ, thưa ngài, ngài vừa tưới dòng mật ngọt vào huyết quản của tôi đấy. Chúng tôi đã ứng trước khá nhiều tiền; và ngay sáng nay vị bác sĩ đã tuyên bố rằng nếu ông Porthos không trả tiền cho ông ấy, ông ấy sẽ đòi trực tiếp từ tôi, vì chính tôi là người đã đi mời ông ấy đến.”
“Thế là Porthos bị thương ư?”
“Tôi không dám chắc, thưa ngài.”
“Sao cơ! Anh không thể nói cho tôi biết ư? Chắc chắn anh phải là người rõ hơn bất kỳ ai chứ.”
“Vâng; nhưng trong hoàn cảnh của chúng tôi, không phải mọi điều biết được đều có thể nói ra — đặc biệt khi chúng tôi đã được cảnh báo rằng cái tai của chúng tôi sẽ phải chịu trách nhiệm cho cái lưỡi của mình.”
“Thế tôi có thể gặp Porthos không?”
“Hoàn toàn được chứ, thưa ngài. Hãy rẽ theo cầu thang bên phải; lên tầng lầu đầu tiên và gõ cửa phòng Số Một. Chỉ có điều hãy báo trước cho ngài ấy biết là ngài đến.”
“Tại sao tôi lại phải làm thế?”
“Bởi vì, thưa ngài, có thể sẽ có tai họa giáng xuống đầu ngài đấy.”
“Tai họa kiểu gì quỷ tha ma bắt thế hả?”
“Ông Porthos có thể tưởng nhầm ngài là người trong nhà, và trong cơn thịnh nộ, ngài ấy có thể phóng gươm xuyên qua người ngài hoặc thổi bay óc ngài đấy.”
“Thế các người đã làm gì anh ấy nào?”
“Chúng tôi đến đòi tiền ngài ấy.”
“Khỉ thật! À, tôi có thể hiểu được. Đó là một yêu cầu khiến Porthos nổi lôi đình khi hắn đang không có tiền trong túi; nhưng tôi biết hiện tại chắc chắn hắn phải có chứ.”
“Chúng tôi cũng từng nghĩ thế, thưa ngài. Vì quán trọ của chúng tôi hoạt động rất có quy củ và chúng tôi thanh toán hóa đơn mỗi tuần một lần, nên khi tròn tám ngày, chúng tôi đã mang hóa đơn đến; nhưng hóa ra chúng tôi lại chọn nhầm thời điểm, bởi vì ngay từ câu nói đầu tiên về vấn đề đó, ngài ấy đã tống cổ chúng tôi xuống mười tám tầng địa ngục. Sự thật là hôm trước đó ngài ấy vừa mới đánh bạc xong.”
“Đánh bạc vào hôm trước á! Thế chơi cùng ai?”
“Trời ạ, ai mà biết được, thưa ngài? Chơi với một vị quý tộc nào đó đang đi ngang qua đây, người mà ngài ấy đã rủ làm vài ván bài lansquenet.”
“Thế thì rõ rồi, và tên ngốc nghếch ấy đã nướng sạch mọi thứ hắn có à?”
“Thậm chí cả con ngựa nữa, thưa ngài; bởi vì khi vị quý tộc kia chuẩn bị lên đường, chúng tôi nhận ra rằng tên đầy tớ của hắn đang yên cương cho cả con ngựa của ông Porthos lẫn ngựa của chủ nhân hắn. Khi chúng tôi nhắc nhở ông ấy về điều đó, ngài ấy bảo tất cả chúng tôi hãy lo chuyện bao đồng của chính mình, vì con ngựa đó thuộc về ngài ấy. Chúng tôi cũng thông báo cho ông Porthos biết sự việc đang diễn ra; nhưng ngài ấy bảo chúng tôi là lũ khốn nạn khi dám hoài nghi lời của một quý tộc, và vì ngài ấy nói con ngựa đó là của mình, thì chắc chắn nó phải là của mình.”
“Đúng chất Porthos rồi còn gì,” d’Artagnan lẩm bẩm.
“Rồi sau đó,” chủ quán tiếp lời, “tôi đáp lại rằng từ thời điểm mà chúng tôi dường như không thể tìm được tiếng nói chung về vấn đề thanh toán, tôi hy vọng ngài ấy ít ra cũng có lòng tốt ban ân huệ chuyển sang trọ bên người đồng nghiệp của tôi ở quán Đại Bàng Vàng; nhưng ông Porthos đáp rằng, vì quán của tôi là tốt nhất, ngài ấy sẽ tiếp tục ở lại đây. Câu trả lời này quá ư nịnh hót khiến tôi không thể khăng khăng đòi ngài ấy rời đi. Vậy nên tôi đành tự hạn chế bằng cách nài nỉ ngài ấy nhường lại căn phòng này, vốn là căn đẹp nhất khách sạn, và bằng lòng với một căn phòng nhỏ xinh xắn ở tầng ba; nhưng đáp lại lời nài nỉ đó, ông Porthos chẳng thèm nhọc công tranh luận với tôi, ngài ấy cầm lấy một khẩu súng lục, đặt nó lên bàn ngày lẫn đêm, và tuyên bố rằng chỉ cần có ai thốt ra dù chỉ một lời về việc di dời, dù là trong nhà hay ra ngoài, ngài ấy sẽ thổi bay óc kẻ nào dám cả gan xía vào chuyện chỉ liên quan đến một mình ngài ấy. Kể từ lúc đó, thưa ngài, chẳng một ai bén mảng vào phòng ngài ấy ngoại trừ tên đầy tớ.”
“Sao cơ! Mousqueton ở đây cơ à?”
“Ồ, vâng, thưa ngài. Năm ngày sau khi ngài rời đi, hắn đã quay lại, và trong một tình trạng cũng thê thảm không kém. Hình như hắn cũng gặp những rắc rối tương tự trên đường đi. Đáng tiếc là hắn còn lanh lẹ hơn cả chủ nhân của mình; thế nên vì lợi ích của chủ, hắn đè bẹp tất cả chúng tôi dưới chân, và vì nghĩ rằng chúng tôi có thể từ chối những gì hắn đòi hỏi, hắn cứ tự tiện lấy tất cả những gì hắn muốn mà chẳng thèm hỏi han câu nào.”
“Thực tế là,” d’Artagnan nói, “tôi luôn nhận thấy ở Mousqueton mức độ thông minh và lòng trung thành rất cao.”
“Điều đó có thể đúng, thưa ngài; nhưng giả sử tôi phải chạm trán, dù chỉ bốn lần một năm, với sự thông minh và lòng trung thành kiểu đó — chắc tôi sạt nghiệp mất thôi!”
“Không đâu, vì Porthos sẽ trả tiền cho anh mà.”
“Hừm!” chủ quán phát ra một âm thanh đầy hoài nghi.
“Kẻ sủng ái của một vị phu nhân quyền quý sẽ không đời nào bị để cho khốn đốn vì một khoản tiền cỏn con mà hắn nợ ông đâu.”
“Giá mà tôi dám nói ra những gì mình tin tưởng về vấn đề đó—”
“Điều ông tin tưởng ư?”
“Đúng ra tôi nên nói là những gì tôi biết.”
“Những gì ông biết ư?”
“Và thậm chí là những gì tôi hoàn toàn chắc chắn.”
“Và ông chắc chắn về điều gì?”
“Tôi muốn nói rằng tôi biết vị phu nhân quyền quý này.”
“Ông á?”
“Vâng; chính tôi.”
“Và ông biết bả bằng cách nào?”
“Ồ, thưa ngài, nếu tôi có thể tin rằng mình được phép đặt trọn niềm tin vào sự kín miệng của ngài.”
“Nói đi! Lấy danh dự của một quý tộc, tôi hứa ông sẽ không phải hối hận vì đã tin tưởng tôi đâu.”
“Vâng, thưa ngài, ngài cũng hiểu là sự lo lắng buộc người ta phải làm nhiều điều mà.”
“Ông đã làm gì?”
“Ồ, chẳng có gì là không đúng đắn trong tư cách của một chủ nợ cả.”
“Rồi sao?”
“Ông Porthos đã đưa cho chúng tôi một bức thư gửi cho nữ công tước của ngài ấy, và ra lệnh cho chúng tôi đem bỏ vào hòm thư. Lúc đó tên đầy tớ của ngài ấy chưa quay lại. Vì không thể rời khỏi phòng, ngài ấy buộc phải giao phó sứ mệnh này cho chúng tôi.”
“Và sau đó?”
“Thay vì thả bức thư vào hòm thư công cộng vốn chẳng bao giờ an toàn, tôi đã chớp lấy cơ hội có một cậu chân chạy của tôi về Paris, và ra lệnh cho nó tận tay trao bức thư ấy cho nữ công tước. Như thế là hoàn thành trọn vẹn ý nguyện của ông Porthos, kẻ từng dặn chúng tôi phải hết sức cẩn trọng với bức thư này, phải không thưa ngài?”
“Gần như thế.”
“Vâng, thưa ngài, ngài có biết vị phu nhân quyền quý ấy là ai không?”
“Không; tôi chỉ nghe Porthos nhắc đến bà ta, thế thôi.”
“Ngài có biết mụ nữ công tước giả mạo ấy là ai không?”
“Tôi nhắc lại là tôi không biết bà ta.”
“Bà ta chính là người vợ già của một tay chưởng khế* ở Châtelet, thưa ngài, tên là Madame Coquenard, dù đã ít nhất năm mươi tuổi rồi nhưng vẫn thích bày đặt ghen tuông. Tôi thấy thật kỳ lạ khi một nàng công chúa lại đi ở trên phố Rue aux Ours.”
*Luật sư
“Nhưng sao ông lại biết rõ tất cả những điều này?”
“Bởi vì bà ta đã nổi trận lôi đình khi nhận được bức thư, vừa mắng chửi ông Porthos là kẻ cả thèm chóng chán vừa khẳng định chắc nịch rằng chính vì một mụ đàn bà nào khác mà ngài ấy mới rước lấy vết thương này.”
“Thế ra anh ấy bị thương thật à?”
“Ồ, lạy Chúa tôi! Tôi vừa lỡ miệng nói gì thế này?”
“Ông vừa nói Porthos nhận một nhát kiếm.”
“Vâng, nhưng ngài ấy đã nghiêm khắc cấm tôi không được hé răng cơ mà.”
“Và tại sao lại thế?”
“Khỉ thật, thưa ngài! Bởi vì ngài ấy từng khoác lác rằng sẽ đâm thủng người gã lạ mặt mà ngài để lại để tranh chấp; trong khi trái lại, bất chấp mọi lời ba hoa khoác lác, gã lạ mặt ấy đã nhanh chóng quật ngã ngài ấy nằm ngửa. Vì ông Porthos là một kẻ rất hay khoe khoang, ngài ấy khăng khăng bắt mọi người phải giữ bí mật về vết thương này, ngoại trừ vị nữ công tước, người mà ngài cố tình khơi gợi lòng thương cảm bằng cách kể lể về cuộc phiêu lưu của mình.”
“Đó là một vết thương giữ chân anh ấy trên giường bệnh ư?”
“À, và còn là một cú đánh chí mạng nữa đấy, tôi dám đảm bảo với ngài. Cái thali của bạn ngài chắc phải bám dính lấy cơ thể lắm mới chịu nổi đấy.”
“Lúc đó ông có mặt ở đấy à?”
“Thưa ngài, tôi tò mò đi theo dõi nên đã chứng kiến trận đấu mà hai người họ không hề hay biết sự hiện diện của tôi.”
“Và chuyện gì đã xảy ra?”
“Ồ! Vụ đấu kiếm chẳng kéo dài lâu đâu, tôi xin đảm bảo với ngài. Họ vào thế thủ; gã lạ mặt tung ra một đòn nhử rồi lao tới đâm một nhát nhanh đến nỗi khi ông Porthos đưa kiếm lên đỡ thì ba tấc thép đã ngập sâu trong lồng ngực ngài ấy rồi. Ngài ấy ngã ngửa ra ngay lập tức. Gã lạ mặt đặt mũi kiếm vào cổ họng ngài ấy; và ông Porthos, thấy mình rơi vào cảnh cá nằm trên thớt, đành thừa nhận thất bại. Ngay sau đó gã lạ mặt hỏi tên, và khi biết đó là Porthos chứ không phải d’Artagnan, hắn đã đỡ ngài ấy đứng dậy, dìu về quán trọ, nhảy lên ngựa và biến mất.”
“Hóa ra kẻ mà gã lạ mặt đó muốn gây sự lại chính là ông d’Artagnan ư?”
“Xem chừng là thế ạ.”
“Và ông có biết tung tích hiện giờ của hắn không?”
“Không, tôi chưa bao giờ gặp lại hắn kể từ khoảnh khắc đó.”
“Rất tốt; tôi đã biết mọi điều mình cần biết. Phòng của Porthos, như ông nói, nằm ở tầng một, phòng Số Một phải không?”
“Vâng, thưa ngài, căn phòng đẹp nhất trong quán trọ — một căn mà tôi có thể cho thuê lại mười lần rồi ấy chứ.”
“Thôi nào! Hãy cứ yên tâm đi,” d’Artagnan cười lớn, “Porthos sẽ trả tiền cho ông bằng hầu bao của Nữ công tước Coquenard.”
“Ồ, thưa ngài, dù là vợ chưởng khế hay nữ công tước đi nữa, chỉ cần mụ ta chịu nới hầu bao thì kết quả cũng thế cả thôi; nhưng mụ ta đã trả lời một cách phũ phàng rằng mụ đã quá mệt mỏi với những đòi hỏi vô lý lẫn thói trăng hoa của ông Porthos rồi, và mụ sẽ chẳng thèm gửi cho ngài ấy lấy một đồng xu cắc ké nào đâu.”
“Và ông có truyền đạt câu trả lời đó cho vị khách của mình không?”
“Chúng tôi còn lâu mới dám làm thế; ngài ấy mà biết cách chúng tôi thực hiện sứ mệnh thì thể nào chúng tôi cũng toi mạng.”
“Thế nghĩa là ngài ấy vẫn đang ngóng chờ tiền gửi đến?”
“Ôi, chúa ơi, vâng chứ thưa ngài! Hôm qua ngài ấy lại viết thư; nhưng lần này chính tên đầy tớ mới là kẻ đem bức thư ra hòm công cộng.”
“Ông bảo mụ vợ chưởng khế vừa già vừa xấu cơ à?”
“Ít nhất cũng phải năm mươi, thưa ngài, và qua lời kể của Pathaud thì chẳng có chút nhan sắc nào.”
“Trong trường hợp đó, ông cứ hoàn toàn yên tâm; mụ ta sẽ sớm mềm lòng thôi. Hơn nữa, Porthos chẳng thể nợ ông quá nhiều đâu.”
“Sao cơ, không nhiều á! Hai mươi đồng pistole ngon lành rồi đấy, chưa tính tiền bác sĩ đâu nhé. Ngài ấy chẳng chịu kiêng dè thứ gì; nhìn vào là thấy ngay ngài ấy vốn quen sống vương giả rồi.”
“Không sao cả; nếu tình nhân bỏ rơi anh ấy, anh ấy sẽ tìm được những người bạn khác, tôi xin đảm bảo. Thế nên, hỡi chủ quán kính mến, đừng lo lắng gì cả và hãy tiếp tục chăm sóc chu đáo cho ngài ấy đúng như tình trạng bệnh trạng yêu cầu nhé.”
“Ngài đã hứa là sẽ không hé răng nửa lời về vụ mụ vợ chưởng khế cũng như không nói gì về vết thương rồi đấy nhé?”
“Thống nhất thế đi; ông có lời hứa của tôi rồi.”
“Ồ, ngài ấy sẽ giết tôi mất!”
“Đừng sợ; hắn chẳng phải ác quỷ như bề ngoài đâu.”
Nói dứt lời, d’Artagnan bước lên lầu, để lại gã chủ quán với tâm trạng đã khá hơn đôi chút về hai vấn đề mà hắn vô cùng quan tâm — khoản nợ và cái mạng của hắn.
Ngay trên chiếu nghỉ của tầng lầu, trên cánh cửa nổi bật nhất hành lang, một con số “1” khổng lồ được tô bằng mực đen. D’Artagnan gõ cửa, và sau tiếng hô mời vào vọng ra từ bên trong, anh bước vào phòng.
Porthos đang nằm trên giường, tay cầm bài chơi lansquenet với Mousqueton để giữ phong độ; trong khi một chiếc vỉ nướng chất đầy những con chim đa đa đang quay tít trước lò sưởi, và hai bên lò sưởi lớn, đặt trên hai chiếc bếp lò nhỏ là hai cái chảo đang sôi sùng sục, tỏa ra thứ mùi thơm phức pha trộn giữa thịt thỏ và cá hầm, kích thích khứu giác đến tột cùng. Ngoài ra, anh còn nhận thấy trên nóc tủ quần áo và mặt đá của chiếc tủ chạn đều chất đầy những vỏ chai không.
Vừa thoáng thấy người bạn cũ, Porthos liền cất tiếng kêu vang đầy sung sướng; còn Mousqueton, cung kính đứng dậy, nhường chỗ cho anh rồi chạy đi kiểm tra hai cái chảo mà hắn có nhiệm vụ giám sát đặc biệt.
“Ồ, pardieu! Cậu đấy phỏng?” Porthos chào d’Artagnan. “Hoan nghênh cậu đến chơi. Tha lỗi cho tớ vì không ra tận cửa đón tiếp; nhưng,” Porthos nói thêm, nhìn d’Artagnan với một chút lo lắng ngầm, “cậu biết chuyện gì xảy ra với tớ rồi chứ?”
“Không.”
“Thế chủ quán chưa kể gì cho cậu nghe à?”
“Tớ chỉ hỏi thăm về cậu rồi chạy thẳng lên đây ngay khi có thể.”
Porthos có vẻ trút được một gánh nặng.
“Thế đã có chuyện gì xảy ra với cậu thế, Porthos thân mến?” d’Artagnan tiếp lời.
“Ầy, trong lúc tung ra một đòn dứt điểm đối thủ, kẻ mà tớ đã đâm trúng ba nhát và định kết liễu ở nhát thứ tư, tớ vô tình dẫm phải một viên đá, trượt chân và bị căng cơ đầu gối.”
“Thật thế á?”
“Thề có danh dự! May ơn cho tên khốn đó đấy, chứ không thì tớ đã để hắn chết ngắc tại chỗ rồi, xin đảm bảo với cậu.”
“Thế còn hắn đi đâu rồi?”
“Ồ, tớ chịu; hắn chắc đã lãnh đủ rồi và chuồn thẳng chẳng thèm đợi phần còn lại. Thế còn cậu, d’Artagnan thân mến, có chuyện gì xảy ra với cậu thế?”
“Thế ra cái vụ căng đầu gối ấy,” d’Artagnan tiếp tục, “Porthos thân mến ạ, lại giữ chân cậu trên giường bệnh cơ à?”
“Chúa tôi, chỉ có thế thôi. Tớ sẽ lại đi lại bình thường được trong vài ngày nữa ấy mà.”
“Sao cậu không chịu thuê người cáng về Paris? Cậu hẳn phải buồn chán phát điên khi ở đây chứ.”
“Tớ cũng có ý định đó; nhưng, người anh em thân mến ạ, tớ có chuyện này phải thú nhận với cậu.”
“Chuyện gì thế?”
“Ấy là vì tớ cảm thấy chán ngấy như cậu vừa nói, và trong túi lại đang có sẵn bảy mươi lăm đồng pistole mà cậu vừa phân phát cho tớ, nên để giải khuây, tớ đã mời một vị quý tộc đang đi ngang qua đây vào phòng và gạ gẫm vài ván súc sắc. Hắn nhận lời thách đấu, và thề có Chúa, bảy mươi lăm đồng pistole của tớ đã bay sạch từ túi tớ sang túi hắn, chưa tính cả con ngựa mà hắn tiện tay hốt luôn làm quà khuyến mãi. Thế còn cậu, d’Artagnan thân mến?”
“Cậu còn trông mong gì nữa, Porthos thân mến; làm người thì chẳng ai hoàn mỹ được tất cả mọi bề,” d’Artagnan nói. “Cậu biết câu tục ngữ rồi đấy ‘Đen bạc đỏ tình’ mà. Cậu gặp quá nhiều may mắn trong chuyện tình duyên thì việc thua bạc cũng là để bù trừ thôi. Những trò đùa cợt của vận may có sá gì với cậu? Chẳng lẽ cậu không có — cái gã may mắn sát gái này — chẳng lẽ cậu không có bà nữ công tước của mình, người chắc chắn sẽ chạy đến cứu trợ cho cậu sao?”
“Thì đấy, cậu thấy đấy, d’Artagnan thân mến, tay vận son đỏ của tớ xui xẻo đến mức nào,” Porthos đáp với vẻ mặt bất cần đời nhất trên đời. “Tớ đã viết thư cho bà ấy để xin dăm mươi louis gì đấy, thứ mà tớ đang cực kỳ cần kíp vì cái tai nạn ngớ ngẩn này.”
“Rồi sao?”
“Thì, chắc bả đang ở điền trang dưới quê rồi, nên chẳng thấy hồi âm gì cả.”
“Thật á?”
“Không; thế nên hôm qua tớ lại gửi cho bả một bức thư khác, còn giục giã hơn cả bức đầu tiên. Nhưng cậu đã ở đây rồi, người anh em ạ, hãy nói về chuyện của cậu đi. Tớ thú nhận là tớ bắt đầu thấy lo lắng cho cậu lắm rồi đấy.”
“Nhưng ngài chủ quán đối xử với cậu rất tử tế đấy chứ, Porthos thân mến,” d’Artagnan hướng sự chú ý của người bệnh đến những cái chảo đầy ắp đồ ăn và đống vỏ chai không.
“Tạm ổn,” Porthos đáp. “Chỉ độ ba bốn ngày trước, cái tên ranh con hỗn xược ấy dám mang hóa đơn đến tống vào mặt tớ, và tớ buộc phải tống cổ cả hắn lẫn cái tờ hóa đơn ấy ra khỏi cửa; thế nên tớ đang ở đây theo kiểu một kẻ chinh phạt, chiếm cứ vị trí của mình như một chiến lợi phẩm vậy. Cậu thấy đấy, vì lúc nào cũng sợ bị đánh vung khỏi vị trí này, nên tớ vũ trang tận răng luôn.”
“Dẫu vậy,” d’Artagnan cười lớn nói, “tớ có cảm giác là thỉnh thoảng cậu vẫn phải tổ chức các chiến dịch xuất kích đấy chứ.” Và anh lại chỉ vào đống chai lọ cùng mấy cái chảo.
“Đâu có, ngặt nỗi là không đấy chứ!” Porthos kêu lên. “Cái vụ căng cơ chết tiệt này cứ giữ chân tớ trên giường; nhưng Mousqueton vẫn đi tuần tiễu và mang lương thảo về. Này Mousqueton, cậu thấy đấy chúng ta vừa có viện binh, thế nên khẩu phần tiếp tế phải được nhân lên nhé.”
“Mousqueton,” d’Artagnan bảo, “cậu phải làm ơn giúp tớ một việc.”
“Việc gì thế, thưa ngài?”
“Cậu phải truyền thụ lại bí kíp của mình cho Planchet. Có thể đến lượt tớ sẽ bị vây hãm, và tớ không phiền nếu nó cũng học được cách giúp tớ tận hưởng những đặc quyền y hệt như cách cậu đang phục vụ chủ nhân của mình đâu.”
“Trời ạ, thưa ngài! Chẳng có gì dễ hơn thế” Mousqueton khiêm tốn đáp. “Chỉ cần nhanh trí một chút là được thôi ạ. Tôi lớn lên ở vùng nông thôn, và cha tôi hồi rỗi việc cũng hay đi săn trộm lắm.”
“Thế thời gian còn lại ông ấy làm gì?”
“Thưa ngài, ông ấy làm một nghề mà tôi vẫn luôn thấy là khá thỏa đáng.”
“Nghề gì thế?”
“Vì đó là thời kỳ chiến tranh giữa người Công giáo và phỉ Tin Lành, và khi ông ấy thấy người Công giáo tàn sát người Tin Lành rồi người Tin Lành tàn sát người Công giáo — tất cả đều nhân danh tôn giáo — ông ấy bèn theo một thứ đức tin linh hoạt cho phép lúc thì làm người Công giáo, lúc lại làm tín đồ Tin Lành. Hằng ngày, ông ấy thường vác súng săn trên vai, đi dọc theo những hàng rào ven đường, và khi thấy một tín đồ Công giáo đi một mình, đạo Tin Lành ngay lập tức trỗi dậy trong tâm trí ông ấy. Ông ấy hạ nòng súng hướng về phía lữ khách; rồi khi chỉ còn cách mười bước chân, ông ấy bắt đầu trò chuyện, và hầu như lúc nào câu chuyện cũng kết thúc bằng việc vị lữ khách phải bỏ lại hầu bao để đổi lấy mạng sống. Khỏi phải nói cũng biết khi thấy một tín đồ Tin Lành đi tới, ông ấy cảm thấy tràn ngập lòng nhiệt thành Công giáo mãnh liệt đến mức không hiểu nổi tại sao chỉ một phần tư tiếng trước mình lại có thể mảy may nghi ngờ sự vượt trội của thánh giáo chúng ta. Về phần tôi, thưa ngài, tôi theo đạo Công giáo — còn cha tôi, trung thành với nguyên tắc của mình, đã cho người anh cả theo đạo Tin Lành.”
“Và kết cục của người đàn ông đáng kính ấy thế nào?” d’Artagnan hỏi.
“Ồ, vô cùng bi thảm, thưa ngài. Một hôm nọ, ông ấy bị tóm gọn trên một con đường vắng giữa một tín đồ Tin Lành và một người Công giáo, cả hai người này trước kia đều từng giao dịch với ông và đều nhận ra mặt ông; thế là họ hợp sức lại treo cổ ông lên cây. Rồi họ kéo nhau đến quán rượu ở ngôi làng bên cạnh để khoe khoang về chiến tích lẫy lừng đó, đúng lúc tôi và anh trai đang ngồi uống rượu ở đó.”
“Thế hai cậu đã làm gì?” d’Artagnan hỏi.
“Chúng tôi để họ kể hết câu chuyện,” Mousqueton đáp. “Rồi khi họ rời quán trọ và đi theo hai hướng khác nhau, anh tôi mai phục trên con đường của gã Công giáo, còn tôi phục kích đường của gã Tin Lành. Hai tiếng sau, mọi chuyện đã xong xuôi; chúng tôi đã giải quyết gọn gàng cả hai tên, và vô cùng thán phục sự lo xa của người cha tội nghiệp, người từng cẩn trọng nuôi dưỡng mỗi đứa chúng tôi theo một tôn giáo khác nhau.”
“Thôi được, tớ phải công nhận như cậu nói, cha cậu quả là một tay cực kỳ khôn ngoan. Và cậu bảo lúc rảnh rỗi ông cụ nhà cậu làm nghề săn trộm à?”
“Vâng, thưa ngài, chính ông đã dạy tôi cách đặt bẫy và giăng câu dưới nước. Hành vi đó dẫn đến việc khi tôi thấy khẩu phần của chúng ta không đáp ứng được cái dạ dày mong manh của hai cậu chủ đây, tôi đành phải quay lại với chút nghề nghiệp cũ thuở nhỏ. Khi lảng vảng gần khu rừng của ngài de Le Prince, tôi đặt vài chiếc bẫy sẵn dọc lối mòn; còn lúc ngả lưng bên những hồ nước của điện hạ, tôi thả vài đường câu xuống ao cá của ngài ấy. Thế nên giờ đây, ơn Chúa, chúng ta chẳng thiếu thứ gì, như ngài có thể thấy rõ, từ chim đa đa, thỏ rừng, cá chép cho đến cá trình — toàn những món ăn thanh đạm, lành mạnh, rất phù hợp cho người bệnh.”
“Nhưng còn rượu vang,” d’Artagnan hỏi, “ai cung cấp rượu vang thế? Chủ quán của các cậu à?”
“Nói sao nhỉ, vừa phải vừa không ạ.”
“Vừa phải vừa không là thế nào?”
“Hắn cung cấp thật đấy, nhưng ngặt nỗi hắn chẳng hề hay biết mình đang có vinh hạnh đó.”
“Giải thích nghe xem nào, Mousqueton; câu chuyện của cậu lúc nào cũng tràn ngập những bài học mang tính giáo dục cao.”
“Chuyện là thế này, thưa ngài. Tình cờ trong những chuyến phiêu bạt, tôi gặp một tay người Tây Ban Nha từng đi qua rất nhiều xứ sở, trong đó có cả Tân Thế Giới.”
“Tân Thế Giới thì liên quan quái gì đến đống chai lọ đang bày trên tủ chạn với tủ quần áo chứ?”
“Xin kiên nhẫn, thưa ngài, mọi chuyện rồi sẽ đâu vào đấy thôi.”
“Gã người Tây Ban Nha đó có mang theo một tên gia nhân từng cùng hắn lênh đênh sang tận Mexico. Tên gia nhân ấy là đồng hương của tôi; và chúng tôi càng trở nên tâm đầu ý hợp hơn khi cả hai có rất nhiều điểm tương đồng về tính cách. Cả hai chúng tôi đều mê tít mọi thể loại săn bắn trên đời; thế là hắn kể cho tôi nghe ở những vùng đồng bằng Pampas, thổ dân thường săn hổ và bò tót bằng những chiếc vòng thòng lọng đơn giản được ném đi từ khoảng cách hai mươi hoặc ba mươi bước với độ chính xác đến từ đầu sợi dây; thoạt nghe thì khó tin, nhưng trước thực tế nhãn tiền tôi buộc phải thừa nhận câu chuyện ấy là thật. Bạn tôi đặt một cái chai cách xa đúng ba mươi bước, và mỗi cú ném hắn đều quăng trúng cổ chai bằng chiếc vòng thòng lọng của mình. Tôi bắt đầu luyện tập trò này, và vì bẩm sinh cũng có chút hoa tay, giờ đây tôi có thể văng dây thòng lọng chẳng thua kém bất kỳ ai trên thế giới này. Nào, ngài đã hiểu chưa, thưa ngài? Chủ quán của chúng ta có một hầm rượu hảo hạng với chiếc chìa khóa không bao giờ rời khỏi thân hắn; chỉ có điều cái hầm rượu ấy lại có một lỗ thông gió. Và qua cái lỗ thông gió đó, tôi quăng dây thòng lọng của mình vào, vì giờ đây tôi đã nắm rõ vị trí những chai rượu ngon nhất nằm ở góc nào trong hầm. Ngài thấy đấy, Tân Thế Giới hóa ra lại liên quan mật thiết đến đống chai đang bày trên tủ chạn và tủ quần áo là vậy đấy. Giờ ngài có muốn nếm thử rượu của chúng tôi và công tâm cho nhận xét không?”
“Cảm ơn bạn hiền, cảm ơn nhé; ngặt nỗi tớ vừa mới điểm tâm xong.”
“Thế thì,” Porthos nói, “hãy dọn bàn đi, Mousqueton, và trong lúc chúng ta ăn điểm tâm, d’Artagnan sẽ kể cho chúng ta nghe những gì đã xảy ra với cậu ta trong mười ngày xa cách vừa qua.”
“Rất sẵn lòng,” d’Artagnan đáp.
Trong lúc Porthos và Mousqueton đang ngấu nghiến bữa điểm tâm với sự thèm ăn của những kẻ vừa hồi phục sau cơn trọng bệnh cùng thứ tình cảm huynh đệ gắn kết những con người hoạn nạn, d’Artagnan lần lượt kể lại chuyện Aramis bị thương nên buộc phải dừng chân ở Crèvecœur, chuyện anh đã để lại Athos đang quyết đấu tại Amiens với bốn tên cáo buộc lão là kẻ làm tiền giả, và chuyện bản thân anh, d’Artagnan, đã buộc phải đâm một nhát kiếm xuyên qua người Bá tước de Wardes để có thể đặt chân đến nước Anh.
Nhưng niềm tin cậy của d’Artagnan chỉ dừng lại ở đó. Anh chỉ hé lộ thêm rằng khi trở về từ Đại Anh, anh đã mang theo bốn con ngựa tráng kiện — một cho mình và ba con còn lại cho ba người bạn; rồi anh thông báo cho Porthos biết con ngựa dành riêng cho hắn hiện đã yên vị trong chuồng ngựa của quán trọ.
Đúng lúc đó Planchet bước vào, thông báo với chủ nhân rằng lũ ngựa đã được nghỉ ngơi đầy đủ và họ hoàn toàn có thể kịp đến Clermont trước khi trời tối.
Vì d’Artagnan đã tương đối yên tâm về tình hình của Porthos, lại đang nóng lòng muốn thu thập tin tức về hai người bạn còn lại, anh bèn đưa tay ra bắt người bị thương, thông báo rằng mình sắp sửa lên đường tiếp tục cuộc hành trình tìm kiếm. Dù sao đi nữa, vì anh tính toán sẽ quay về theo tuyến đường cũ trong vòng bảy hoặc tám ngày tới, nên nếu Porthos vẫn còn tá túc tại quán Great St. Martin, anh sẽ ghé qua đón hắn trên đường về.
Porthos đáp rằng với cái đầu gối bị bong gân thế này, rất có thể hắn chưa thể dịch chuyển đi đâu được trong một thời gian ngắn tới. Hơn nữa, hắn vẫn cần phải ở lại Chantilly để chờ đợi phản hồi từ nữ công tước của mình.
D’Artagnan chúc cho câu trả lời ấy sẽ đến thật nhanh chóng và thuận lợi; và sau khi một lần nữa phó thác Porthos cho sự chăm sóc của Mousqueton, đồng thời thanh toán hóa đơn sòng phẳng với gã chủ quán, anh cùng Planchet tiếp tục lên đường, nhẹ nhõm hơn khi bớt đi được một con ngựa dắt theo.