Sách Thần Tiên Màu Đỏ

Lượt đọc: 83 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Người Bắt Chuột

❊ ❊ ❊

Từ rất lâu rồi, thị trấn Hamel ở nước Đức đã bị xâm chiếm bởi những bầy chuột, loài chuột mà trước đó chưa từng ai thấy và sau này cũng chẳng bao giờ gặp lại.

Chúng là những sinh vật đen sì, to lớn, hiên ngang chạy nhảy giữa ban ngày trên đường phố và lúc nhúc khắp các ngôi nhà, khiến người ta cuối cùng chẳng thể đặt chân hay đặt tay xuống bất cứ đâu mà không chạm phải một con. Khi mặc quần áo vào buổi sáng, họ tìm thấy chúng trong quần và váy, trong túi áo và trong ủng; và khi muốn ăn một miếng lót dạ, lũ ác thú phàm ăn ấy đã quét sạch mọi thứ từ dưới hầm rượu lên tận gác mái. Ban đêm thậm chí còn tồi tệ hơn. Ngay khi đèn tắt, những kẻ gặm nhấm không biết mệt mỏi ấy bắt đầu công việc. Và khắp mọi nơi, trên trần nhà, dưới sàn nhà, trong tủ chén, ngoài cửa ra vào, đâu đâu cũng diễn ra những cuộc săn đuổi, lục lọi, cùng với thứ âm thanh đinh tai nhức óc của khoan, kìm và cưa, đến nỗi một kẻ điếc cũng chẳng thể yên giấc nổi dù chỉ một giờ.

Cả mèo lẫn chó, thuốc độc hay bẫy rập, lời cầu nguyện hay nến thắp cho tất cả các vị thánh — chẳng có cách nào xi nhê. Càng tiêu diệt thì chúng càng xuất hiện nhiều hơn. Và cư dân Hamel bắt đầu lâm vào bước đường cùng, thì vào một ngày thứ Sáu, có một kẻ mặt kỳ dị xuất hiện trong thị trấn, thổi kèn túi và hát điệp khúc này:

‘Qui vivra verra:

Le voilà,

Le preneur des rats.’

Hắn là một gã cao kều, gầy đét và rám nắng, với chiếc mũi khoằm, bộ ria mép dài như đuôi chuột, đôi mắt vàng to lớn vừa sắc bén vừa nhạo bùng, ẩn dưới chiếc vành mũ nỉ rộng được điểm xuyết bằng chiếc lông gà trống đỏ rực. Hắn mặc chiếc áo khoác màu xanh lá cây thắt đai da cùng chiếc quần màu đỏ, dưới chân đi dép xăng-đan buộc bằng những dải dây quấn quanh ống chân theo kiểu người Digan.

Đó là hình ảnh của hắn mà người ta vẫn có thể thấy cho đến tận ngày nay, được vẽ trên một khung cửa kính của nhà thờ chính tòa Hamel.

Hắn dừng chân ở quảng trường lớn trước tòa thị chính, quay lưng về phía nhà thờ và tiếp tục tấu khúc nhạc của mình, vừa thổi vừa hát:

‘Ai sống sẽ thấy:

Đây chính là hắn,

Kẻ bắt chuột đây.’

Hội đồng thị trấn vừa nhóm họp để cân nhắc một lần nữa về thảm họa Ai Cập này, thứ mà không ai có thể cứu thị trấn thoát khỏi.

Người lạ mặt liền gửi lời nhắn đến các vị hội đồng rằng, nếu họ chịu trả công xứng đáng, hắn sẽ dọn sạch toàn bộ lũ chuột cho họ trước khi trời tối, không sót lấy một con.

‘Thế thì hắn là một tên phù thủy!’ — các công dân đồng thanh kêu lên — ‘chúng ta phải đề phòng hắn.’

Viên Ủy viên hội đồng thị trấn, người được coi là thông khôn, bèn trấn an họ.

Ông ta nói: ‘Phù thủy hay không thì mặc kệ, nếu gã thổi kèn túi này nói thật, chính hắn đã thả đám sâu bọ gớm ghiếc này vào thị trấn ta để rồi hôm nay đòi tiền công chuộc lại. Chà, chúng ta phải học cách bắt quỷ bằng chính cạm bẫy của nó. Cứ để mặc tôi.’

‘Cứ để mặc viên Ủy viên hội đồng lo,’ người dân rỉ tai nhau.

Và người lạ mặt được dẫn tới trước mặt họ.

‘Trước khi trời tối,’ hắn nói, ‘tôi sẽ thanh toán gọn gàng mọi con chuột ở Hamel, với điều kiện các ông trả tôi một gros cho mỗi cái đầu.’

‘Một gros cho mỗi cái đầu!’ các công dân la lên, ‘nhưng thế thì lên tới hàng triệu đồng florin mất!’

Viên Ủy viên hội đồng chỉ nhún vai và bảo người lạ mặt:

‘Thành giao! Vào việc đi; lũ chuột sẽ được trả công một gros một con đúng như anh đòi hỏi.’

Gã thổi kèn túi thông báo rằng hắn sẽ ra tay ngay trong buổi tối hôm đó khi trăng lên. Hắn dặn thêm rằng vào giờ đó, cư dân phải dọn sạch đường phố, chỉ nên đứng nhìn qua cửa sổ xem sự việc diễn ra, và đó sẽ là một màn trình diễn thú vị. Khi người dân Hamel nghe về thỏa thuận đó, họ cũng kêu lên: ‘Một gros một con! thế thì tốn kém của chúng ta khối tiền đấy!’

‘Cứ để mặc viên Ủy viên hội đồng lo,’ hội đồng thị trấn đáp với vẻ đầy mưu mẹo. Và những người lương thiện ở Hamel lại lặp lại cùng các vị hội đồng của họ rằng, ‘Cứ để mặc viên Ủy viên hội đồng lo.’

Khoảng chín giờ đêm, gã thổi kèn túi xuất hiện trở lại ở quảng trường. Hắn quay lưng về phía nhà thờ như lần đầu, và ngay khoảnh khắc vầng trăng nhô lên đường chân trời, ‘Trarira, trari!’ tiếng kèn túi vang lên.

Đó trước hết là một âm thanh chậm rãi, mơn trớn, rồi ngày càng sống động, giục giã, vang dội và nhức nhối đến mức len lỏi tận vào những con hẻm và xó xỉnh xa xôi nhất của thị trấn.

Chẳng mấy chốc, từ tận đáy hầm rượu, trên đỉnh gác mái, từ gầm các món đồ đạc, từ mọi ngóc ngách trong nhà, lũ chuột túa ra, tìm cửa, lao thẳng ra đường, và cộp, cộp, cộp, bắt đầu chạy thành hàng dài hướng về phía trước tòa thị chính, chúng chen chúc nhau đến mức phủ kín mặt đường như những con sóng của một dòng thác lũ.

Khi quảng trường đã chật ních, gã thổi kèn túi quay người lại, và miệng vẫn thổi kèn rộn rã, hắn hướng về phía dòng sông chảy sát chân tường thành Hamel.

Đến nơi, hắn quay lại; lũ chuột vẫn đang lũ lượt bám theo sau.

‘Nhảy mau! nhảy mau!’ hắn thét lớn, ngón tay chỉ thẳng ra giữa dòng nước đang cuộn xoáy và hút xuống như qua một chiếc phễu. Và nhảy nào! nhảy nào! không một chút do dự, lũ chuột lao mình xuống, bơi thẳng đến tâm phễu, chúi đầu cắm cổ lao xuống rồi biến mất.

Cảnh tượng lao mình xuống nước cứ thế tiếp diễn không ngừng nghỉ cho đến tận nửa đêm.

Cuối cùng, lê bước một cách khó nhọc, một con chuột già to lớn, lông trắng phau vì tuổi tác xuất hiện và dừng lại bên bờ.

Đó chính là vua của cả bầy.

‘Đã đủ mặt chưa, bằng hữu Blanchet?’ gã thổi kèn túi cất tiếng hỏi.

‘Đã đủ cả rồi,’ bằng hữu Blanchet đáp.

‘Và chúng có bao nhiêu con tất cả?’

‘Chín trăm chín mươi nghìn, chín trăm chín mươi chín con.’

‘Đã đếm kỹ chưa?’

‘Đã đếm kỹ.’

‘Vậy thì đi đoàn tụ với chúng đi, lão bệ hạ, và hẹn gặp lại nhé.’

Thế rồi con chuột già màu trắng cũng tung mình nhảy xuống sông, bơi đến vũng nước xoáy và biến mất.

Khi gã thổi kèn túi đã hoàn tất công việc của mình như thế, hắn lui về quán trọ đi ngủ. Và lần đầu tiên trong suốt ba tháng trời, người dân Hamel đã có một giấc ngủ trọn vẹn yên bình suốt đêm.

Sáng hôm sau, lúc chín giờ, gã thổi kèn túi đến tòa thị chính, nơi hội đồng thị trấn đang chờ hắn.

‘Tất cả lũ chuột của các ông đã nhảy xuống sông ngày hôm qua rồi,’ hắn nói với các vị hội đồng, ‘và tôi bảo đảm không một con nào quay lại cả. Chúng có chín trăm chín mươi nghìn, chín trăm chín mươi chín con, tính ra một gros một đầu. Hãy tính tiền đi!’

‘Chúng ta hãy đếm số cái đầu trước đã. Một gros một đầu tức là một cái đầu đổi lấy một gros. Đầu chuột đâu?’

Người bắt chuột không ngờ lại gặp phải cú lật lọng này. Hắn tái mặt vì tức giận và đôi mắt lóe lên những tia lửa.

‘Đầu á!’ hắn hét lên, ‘nếu các ông thực sự quan tâm đến chúng, hãy ra sông mà tìm.’

‘Thế nghĩa là,’ viên Ủy viên hội đồng đáp, ‘anh từ chối tuân thủ các điều khoản trong thỏa thuận của chúng ta ư? Bản thân chúng tôi hoàn toàn có thể từ chối trả tiền cho anh. Nhưng anh đã giúp ích cho chúng tôi, và chúng tôi sẽ không để anh ra đi mà không có chút đền ơn,’ và ông ta chìa ra năm mươi đồng vương miện.

‘Hãy giữ lấy phần thưởng của các ông đi mà dùng,’ người bắt chuột ngạo nghễ đáp. ‘Nếu các ông không trả tiền cho tôi, tôi sẽ bắt những người thừa kế của các ông trả thay.’

Nói đoạn, hắn sụp vành mũ xuống che kín mắt, hầm hầm bước ra khỏi sảnh đường, rồi rời khỏi thị trấn mà không thèm nói chuyện với bất kỳ ai.

Khi người dân Hamel nghe kể về cái kết của vụ việc, họ xoa tay đắc ý, và chẳng hềáy náy hơn vị Ủy viên hội đồng của họ, họ cười nhạo gã bắt chuột, kẻ mà theo họ đã tự mắc bẫy do chính mình giăng ra. Nhưng điều khiến họ cười lớn nhất chính là lời đe dọa đòi tiền những kẻ thừa kế của họ. Hả! họ ước gì mình suốt đời có được những chủ nợ như thế.

Ngày hôm sau, vốn là Chủ nhật, tất cả bọn họ vui vẻ đi đến nhà thờ, bụng bảo dạ rằng sau lễ thánh, cuối cùng họ cũng được thưởng thức những món ngon lành chưa từng bị lũ chuột nếm qua trước mặt mình.

Họ hoàn toàn không ngờ tới cú sốc khủng khiếp đang chờ đón khi trở về nhà. Chẳng thấy bóng dáng trẻ con đâu cả, tất cả bọn chúng đã biến mất sạch sành sanh!

‘Con cái chúng ta đâu rồi! những đứa con tội nghiệp của chúng ta đâu rồi?’ tiếng kêu khóc vang lên khắp các con phố.

Rồi từ cánh cửa phía đông của thị trấn, ba cậu bé nhỏ bước vào, vừa đi vừa khóc lóc thảm thiết, và đây là những gì chúng kể lại:

Trong lúc cha mẹ chúng đang ở nhà thờ, một thứ âm thanh kỳ diệu bỗng vang lên. Chẳng mấy chốc, toàn bộ các bé trai và bé gái bị bỏ lại ở nhà đã kéo ra ngoài, bị thu hút bởi những giai điệu ma thuật, rồi ù ù kéo nhau ra quảng trường lớn. Tại đó, họ tìm thấy gã thổi kèn túi đang thổi kèn ở chính cái chỗ như chiều hôm trước. Sau đó, người lạ mặt bắt đầu rảo bước thật nhanh, và lũ trẻ đã lũ lượt đi theo, vừa chạy, vừa ca hát và nhún nhảy theo tiếng nhạc, đi tuốt đến tận chân ngọn núi mà người ta vẫn nhìn thấy mỗi khi tiến vào Hamel. Khi chúng đến gần, ngọn núi bỗng hé mở một chút, và gã thổi kèn túi đã dẫn chúng đi vào trong, sau đó ngọn núi khép lại như cũ. Chỉ có ba đứa nhỏ kể lại câu chuyện này là ở lại bên ngoài, giống như một phép lạ. Một đứa bị tật chân vòng kiềng nên không chạy nhanh bằng người khác; đứa thứ hai, do rời nhà vội vã nên một chân mang giày còn chân kia để trần, đã va phải một hòn đá lớn nên đi lại vô cùng khó khăn; đứa thứ ba đến kịp lúc, nhưng vì quá hấp tấp muốn đi vào cùng những đứa khác nên đã đâm sầm vào vách núi mạnh đến mức ngã ngửa ra phía sau đúng khoảnh khắc ngọn núi khép lại trước mặt các bạn mình.

Nghe xong câu chuyện này, các bậc cha mẹ càng thêm phần gào khóc thảm thiết. Họ cầm theo giáo mác và cuốc thuổng chạy đến ngọn núi, tìm kiếm cho đến tận chiều tối để mong tìm thấy khe núi nơi những đứa con của họ đã biến mất, nhưng đành bất lực chẳng thể tìm ra. Cuối cùng, khi màn đêm buông xuống, họ tuyệt vọng quay trở lại Hamel.

Nhưng kẻ bất hạnh nhất trong số đó chính là viên Ủy viên hội đồng, bởi vì ông ta đã mất đi ba cậu con trai nhỏ cùng hai cô con gái xinh xắn, và trớ trêu thay, người dân Hamel còn trút lên đầu ông ta vô số lời trách móc, quên bẵng đi mất rằng vào chiều tối hôm trước, chính tất cả bọn họ cũng đồng lõa với ông ta.

Rốt cuộc số phận của tất cả những đứa trẻ tội nghiệp ấy đã ra sao?

Các bậc cha mẹ vẫn luôn nuôi hy vọng rằng chúng chưa chết, và rằng gã bắt chuột — kẻ chắc chắn đã bước ra từ trong ngọn núi — đã đưa chúng theo cùng về quê hương của hắn. Đó là lý do vì sao trong suốt nhiều năm trời, họ đã cử người đi tìm kiếm chúng ở khắp các xứ sở khác nhau, nhưng chẳng một ai từng dò ra được tung tích của những đứa trẻ tội nghiệp ấy.

Mãi cho đến tận sau này người ta mới có được tin tức về chúng.

Khoảng một trăm rưỡi năm sau sự kiện đó, khi mà những người cha, người mẹ, anh chị em của thời kỳ ấy chẳng còn lại một ai trên cõi đời này, một buổi tối nọ, có một nhóm thương gia thành Bremen trên đường trở về từ phương Đông đã đến Hamel, xin được yết kiến các bô lão trong thị trấn. Họ kể rằng trong lúc băng qua xứ Hungary, họ đã dừng chân tại một vùng đất núi non hiểm trở mang tên Transylvania, nơi cư dân chỉ nói tiếng Đức, trong khi tất cả vùng xung quanh chẳng ai dùng ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng Hungary. Những con người nơi đây cũng khẳng định rằng họ có gốc gác từ nước Đức, nhưng chẳng rõ vì cơ duyên nào mà lại lưu lạc đến vùng đất xa lạ này. ‘Giờ thì,’ các thương gia thành Bremen kết luận, ‘những người Đức kia đích thị là hậu duệ của những đứa trẻ thất lạc ở Hamel.’

Người dân Hamel không mảy may nghi ngờ điều đó nữa; và kể từ ngày ấy, họ vẫn đinh ninh xem những người Transylvania ở Hungary chính là đồng bào của mình, những kẻ mà tổ tiên khi còn là những đứa trẻ đã bị gã bắt chuột dẫn dụ đến đó. Trên đời vẫn còn những chuyện khó tin hơn thế nhiều.[16]

[16]

Ch. Marelles.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.