Ngày xửa ngày xưa, có một vị vua sinh được ba người con gái. Chẳng may nhà vua phải xuất chinh ra trận, ngài bèn gọi các công chúa lại và dặn dò:
“Các con yêu dấu của ta, cha bắt buộc phải ra chiến trận. Kẻ thù đang tiến đến với một đại quân hùng hậu. Việc phải rời xa tất cả các con khiến lòng ta vô cùng đau đớn. Trong lúc cha vắng nhà, hãy tự chăm sóc bản thân, làm những đứa con ngoan; hãy cư xử đúng mực và trông nom mọi việc trong nhà. Các con có thể dạo chơi trong vườn, và vào bất cứ căn phòng nào trong cung điện, ngoại trừ căn phòng ở tận cùng góc bên phải phía sau; tuyệt đối không được bước vào đó, vì tai họa sẽ giáng xuống đầu các con.”
“Cha cứ yên tâm,” các nàng thưa. “Chúng con chưa bao giờ trái lời cha. Chúc cha lên đường bình an, và cầu mong trời Phật ban cho cha một chiến thắng vẻ vang!”
Khi mọi thứ đã sẵn sàng cho chuyến đi, nhà vua trao chìa khóa của tất cả các phòng cho các con và nhắc nhở thêm một lần nữa về những điều ngài vừa dặn. Các công chúa rưng rưng nước mắt hôn tay cha, chúc cha vạn sự hanh thông, rồi nhà vua trao chùm chìa khóa cho người chị cả.
Khi chỉ còn lại một mình, các nàng cảm thấy buồn chán đến mức chẳng biết phải làm gì. Thế là để giết thời gian, họ quyết định dành một phần trong ngày để làm việc, một phần để đọc sách, và một phần để dạo chơi trong khu vườn. Chừng nào còn giữ nếp sinh hoạt ấy thì mọi chuyện vẫn tốt đẹp. Nhưng khoảng thời gian hạnh phúc ấy chẳng kéo dài lâu. Ngày qua ngày, sự tò mò trong họ càng lớn dần, và rồi các con sẽ thấy kết cục của việc đó ra sao.
“Các em ạ,” cô công chúa cả nói, “suốt cả ngày chúng ta chỉ biết thêu thùa, kéo sợi và đọc sách. Chúng ta đã ở một mình ròng rã mấy ngày nay, và chẳng còn góc nào trong vườn mà chưa khám phá. Chúng ta đã bước vào mọi căn phòng trong cung điện của cha, và trầm trồ trước những món đồ nội thất nguy nga, lộng lẫy: cớ sao chúng ta lại không thể vào căn phòng mà cha đã cấm nhỉ?”
“Thưa chị,” cô út nói, “em không thể hiểu nổi sao chị lại xúi giục chúng ta phá vỡ lệnh của cha. Khi dặn chúng ta không được bước vào căn phòng đó, chắc chắn cha phải biết mình đang nói gì và có lý do chính đáng.”
“Trời chắc không sập xuống đầu chúng ta chỉ vì bước vào đó đâu,” cô công chúa thứ hai đáp. “Rồng hay những quái vật ăn thịt người nào có ẩn giấu trong phòng đâu nào. Hơn nữa, làm sao cha có thể biết được chúng ta đã bước vào đó chứ?”
Vừa trò chuyện, vừa khích lệ lẫn nhau như thế, họ đã đến trước cửa phòng; người chị cả cắm chìa khóa vào ổ, và tách! cánh cửa bật mở.
Ba nàng công chúa bước vào, và đố các con họ nhìn thấy gì?
Căn phòng hoàn toàn trống trải và chẳng có lấy một vật trang trí, nhưng ở chính giữa kê một chiếc bàn lớn phủ khăn sang trọng, trên đó đặt một cuốn sách dày đang mở.
Lúc bấy giờ, các nàng công chúa vô cùng tò mò muốn biết những gì được viết trong sách, nhất là cô chị cả, và đây là những gì nàng đọc được:
“Con gái lớn của vị vua này sẽ kết hôn với một hoàng tử phương Đông.”
Tiếp đó, cô thứ hai bước lên, lật trang sách và đọc:
“Con gái thứ hai của vị vua này sẽ kết hôn với một hoàng tử phương Tây.”
Các nàng vô cùng thích thú, cười khúc khích và trêu chọc lẫn nhau.
Thế nhưng cô công chúa út chẳng hề muốn đến gần chiếc bàn hay mở cuốn sách ấy ra. Tuy nhiên, hai người chị không để cho nàng yên, dù nàng chịu hay không, họ vẫn kéo thốc nàng đến bên bàn. Trong nỗi sợ hãi run rẩy, nàng lật trang sách và đọc:
“Con gái út của vị vua này sẽ kết hôn với một con heo phương Bắc.”
Lúc bấy giờ, giả như có một tia sét từ trên trời giáng xuống thì cũng chẳng thể khiến nàng khiếp sợ hơn thế.
Nàng gần như ngất lịm vì đau khổ, và nếu các chị không kịp đỡ lấy, nàng đã ngã quỵ xuống đất và đập đầu rách toác rồi.
Khi tỉnh lại sau cơn ngất vì hoảng loạn, các chị tìm cách an ủi nàng:
“Sao em lại có thể tin mấy chuyện nhảm nhí đó cơ chứ? Đã bao giờ có chuyện con gái một vị vua lấy heo bao giờ chưa?”
“Em thật là trẻ con!” người chị kia tiếp lời; “chẳng lẽ cha không có đủ binh lính để bảo vệ em, ngay cả khi cái sinh vật gớm ghiếc ấy có đến cầu hôn em đi chăng nữa?”
Công chúa út rất muốn để cho những lời của các chị thuyết phục và tin vào những gì họ nói, thế nhưng lòng nàng vẫn nặng trĩu. Tâm trí nàng cứ mãi hướng về cuốn sách, nơi tiên tri rằng hạnh phúc lớn lao đang chờ đón các chị, còn định mệnh dành cho nàng lại là một thứ chưa từng có ai trên đời phải gánh chịu.
Bên cạnh đó, ý nghĩ rằng mình đã phạm tội bất tuân lời cha cứ dằn vặt tâm can nàng. Nàng bắt đầu ngả bệnh, và chỉ trong vài ngày, nàng đổi khác đến mức khó mà nhận ra; trước kia nàng vốn hồng hào, vui tươi, nay lại xanh xao và chẳng gì có thể mang lại niềm vui cho nàng nữa. Nàng bỏ cả việc chơi đùa cùng các chị trong vườn, thôi không còn hái hoa cài lên mái tóc, và chẳng bao giờ cất tiếng hát khi họ cùng ngồi kéo sợi hay thêu thùa.
Trong khi ấy, nhà vua đã giành được một đại thắng. Sau khi đánh tan tác và quét sạch kẻ thù, ngài vội vã trở về bên những người con gái mà ngài hằng mong nhớ. Mọi người đổ ra đường chào đón ngài với chũm chọe, sáo và trống, khúc khải hoàn vang dội khắp chốn. Việc đầu tiên của nhà vua khi đặt chân về đến hoàng cung là tạ ơn Trời Phật vì đã ban cho ngài chiến thắng trước kẻ thù xâm lăng. Kế đó, ngài bước vào cung điện, và ba nàng công chúa bước ra chào đón ngài. Nhà vua vô cùng hạnh phúc khi thấy tất cả đều bình an, bởi cô út đã cố hết sức để tỏ ra không buồn bã.
Mặc dù vậy, chẳng bao lâu sau nhà vua vẫn nhận ra cô con gái thứ ba ngày càng gầy gò và tiều tụy. Và bỗng nhiên, ngài cảm thấy như có một thanh sắt nung đỏ đâm vào tâm can, bởi một ý nghĩ lóe lên trong đầu rằng nàng đã làm trái lời dặn của ngài. Ngài chắc mẩm là mình đoán đúng; nhưng để tường tận mọi chuyện, ngài cho gọi các con đến, tra hỏi và bắt họ phải nói sự thật. Các nàng thú nhận tất cả, nhưng rất khôn ngoan không hé lộ ai là kẻ đã khơi gợi sự tò mò cho hai người kia.
Nhà vua đau đớn vô cùng khi nghe chuyện, tưởng chừng ngài sắp gục ngã vì sầu muộn. Nhưng rồi ngài tự trấn an và tìm cách an ủi các con, những người đang trông sợ hãi đến chết khiếp. Ngài hiểu rằng chuyện gì đã xảy ra thì cũng đã xảy ra rồi, và dẫu có nói ngàn lời cũng chẳng thể thay đổi được mảy may.
Rồi những chuyện ấy cũng dần chìm vào quên lãng, cho đến một ngày đẹp trời nọ, một vị hoàng tử phương Đông xuất hiện tại triều đình và cầu xin nhà vua gả cô con gái lớn cho mình. Nhà vua vui vẻ ưng thuận. Một yến tiệc cưới hỏi linh đình được chuẩn bị, và sau ba ngày ăn mừng, đôi uyên ương được đưa tiễn ra biên giới trong tiếng trống chiêng rộn rã cùng muôn vàn lời chúc phúc.
Chẳng bao lâu sau, điều tương tự cũng đến với người con gái thứ hai, nàng được một vị hoàng tử phương Tây đem lòng yêu mến và cưới làm vợ.
Lúc này, khi thấy mọi chuyện diễn ra đúng y như những gì đã được viết trong sách, nàng công chúa út trở nên vô cùng buồn rầu. Nàng từ chối ăn uống, không chịu mặc áo đẹp hay ra ngoài dạo chơi, và tuyên bố thà chết chứ không chịu trở thành trò cười cho thiên hạ. Nhưng nhà vua không cho phép nàng làm điều dại dột ấy, và ngài dùng mọi cách có thể để an ủi nàng.
Thời gian cứ thế trôi qua, cho đến một ngày đẹp trời nọ, kìa lạ thay! một con heo khổng lồ từ phương Bắc nghênh ngang bước vào cung điện, đi thẳng tới chỗ nhà vua và cất tiếng: “Kính chào bệ hạ! Cầu mong cuộc đời ngài luôn thịnh vượng và rực rỡ như ánh bình minh trong một ngày trời trong gió mát!”
“Trẫm rất mừng khi thấy ngươi bình an, bạn hiếm,” nhà vua đáp, “nhưng ngọn gió nào đưa ngươi tới đây thế?”
“Ta đến để cầu hôn,” con Heo đáp.
Nhà vua vô cùng kinh ngạc khi nghe một con Heo nói năng lưu loát nhường ấy, và ngay lập tức ngài linh cảm có điều gì kỳ lạ đang xảy ra. Ngài rất muốn lái suy nghĩ của con Heo sang hướng khác, vì ngài chẳng hề muốn gả công chúa cho nó; thế nhưng khi nghe tin triều đình và cả ngoài phố đâu đâu cũng toàn là heo với heo thì ngài hiểu rằng mình chẳng thể trốn chạy được nữa, và buộc phải ưng thuận. Con Heo không thỏa mãn với những lời hứa suông, nó khăng khăng đòi tổ chức đám cưới trong vòng một tuần, và nhất quyết không chịu rời đi cho đến khi nhà vua thề một lời thề danh dự trước hoàng gia.
Nhà vua bèn cho gọi con gái đến, khuyên nàng hãy cúi đầu trước số phận bởi chẳng còn cách nào khác. Ngài nói thêm:
“Con gái yêu, lời ăn tiếng nói và toàn bộ cử chỉ của con Heo này hoàn toàn khác hẳn những loài heo khác. Bản thân cha không tin rằng từ trước tới nay nó vốn là một con heo. Chắc chắn có phép thuật hay bùa ng chú nào đó đã nhúng tay vào việc này. Hãy vâng lời nó và làm mọi điều nó muốn, cha tin chắc rằng Trời Phật sẽ sớm ban cho con sự giải thoát.”
“Nếu cha muốn con làm thế, thưa cha yêu quý, con xin vâng lời,” nàng đáp.
Trong khi đó, ngày cưới đã cận kề. Sau lễ cưới, con Heo cùng cô dâu lên xe hoa về nhà chú rể nằm trong một khu hoàng gia. Dọc đường, họ đi qua một đầm lầy lớn, con Heo ra lệnh dừng xe, trèo xuống và lăn lộn trong bùn nhão cho đến khi bê bết bùn đất từ đầu đến chân; sau đó nó leo lên xe và bảo vợ hãy hôn nó. Nàng công chúa tội nghiệp biết phải làm sao đây? Chợt nhớ lại lời cha dặn, nàng rút khăn tay ra, nhẹ nhàng lau chiếc mõm dính đầy bùn của con Heo rồi đặt lên đó một nách hôn.
Khi họ đến nơi ở của con Heo, vốn nằm sâu trong một khu rừng rậm, trời đã tối mịt. Hai vợ chồng ngồi nghỉ ngơi chốc lát vì mệt sau chặng đường dài; rồi họ cùng nhau ăn tối và đi ngủ. Nửa đêm hôm ấy, công chúa bỗng nhận ra con Heo đã biến thành một người đàn ông. Nàng không khỏi ngạc nhiên, nhưng nhớ đến lời dặn của cha, nàng lấy lại can đảm, quyết định chờ xem chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo.
Và rồi nàng nhận ra cứ đến đêm là con Heo lại hóa thành người, còn sáng sớm, trước khi nàng thức dậy, chàng lại biến thành một con Heo. Chuyện này lặp đi lặp lại suốt mấy đêm liền khiến công chúa chẳng tài nào hiểu nổi. Rõ ràng chồng nàng đã bị yểm bùa. Theo thời gian, nàng dần đem lòng yêu quý chàng, bởi chàng vô cùng tử tế và dịu dàng.
Một ngày đẹp trời nọ, khi đang ngồi một mình, nàng nhìn thấy một mụ phù thủy đi ngang qua. Cảm giác phấn chấn trào dâng trong lòng bởi đã lâu lắm rồi nàng chưa được gặp một con người bằng xương bằng thịt, nàng bèn gọi mụ già lại để trò chuyện. Trong số những chuyện trò, mụ phù thủy khoe rằng mụ thông thạo mọi thứ bùa chú, có thể đoán trước tương lai và biết rõ công dụng chữa bệnh của các loài thảo mộc.
“Bà cụ ơi, tôi sẽ mang ơn bà suốt đời,” công chúa nói, “nếu bà cho tôi biết chồng tôi đang mắc bệnh gì. Tại sao ban ngày chàng là một con heo mà ban đêm lại là con người?”
“Ta đang định nói cho con điều đó đây, con gái ạ, để con thấy ta là một thầy bói tài giỏi nhường nào. Nếu con thích, ta sẽ cho con một loại thảo dược để hóa giải lời nguyền.”
“Chỉ cần bà cho tôi,” công chúa thưa, “tôi sẽ dâng bất cứ thứ gì bà đòi hỏi, vì tôi không thể chịu đựng nổi khi nhìn thấy cảnh chàng ra thế này.”
“Vậy thì đây, con gái yêu của ta,” mụ phù thủy nói, “hãy cầm lấy sợi chỉ này, nhưng tuyệt đối không được để chồng con biết, vì nếu chàng biết nó sẽ mất đi phép lực chữa bệnh. Ban đêm, khi chàng đang ngủ, con hãy dậy thật khẽ, buộc sợi chỉ vào chân trái của chàng thật chặt vào; và con sẽ thấy vào buổi sáng, chàng sẽ không biến lại thành heo nữa mà vẫn giữ nguyên hình người. Ta chẳng cần phần thưởng nào cả. Ta đã được đền đáp xứng đáng khi biết rằng con được hạnh phúc. Nghĩ đến những gì con phải chịu đựng mà ta đứt từng khúc ruột, chỉ tiếc là ta không biết sớm hơn để đến cứu giúp con ngay lập tức.”
Sau khi mụ phù thủy đi khuất, công chúa cất giấu sợi chỉ vô cùng cẩn thận. Đến đêm, nàng rón rén thức dậy, tim đập thình thịch và nhẹ nhàng buộc sợi chỉ vào chân chồng. Đúng lúc nàng đang siết chặt nút thắt thì có tiếng “rắc” một cái, sợi chỉ đứt phăng vì đã mục.
Chồng nàng giật mình tỉnh giấc, quay sang trách móc: “Người phụ nữ bất hạnh, em đã làm cái gì thế này? Chỉ còn ba ngày nữa là lời nguyền tội lỗi này sẽ rời bỏ anh, vậy mà giờ đây, ai mà biết được anh còn phải mang cái hình hài gớm ghiếc này đi lang thang đến bao giờ? Anh phải rời đi ngay lập tức, và chúng ta sẽ không thể gặp lại nhau cho đến khi em mòn ba đôi giày sắt và làm cùn một chiếc gậy thép trên con đường đi tìm anh.” Nói dứt lời, chàng biến mất.
Lúc bấy giờ, khi chỉ còn trơ trọi một mình, công chúa bật khóc nức nở, tiếng khóc bi thảm đến não nề; nhưng khi thấy nước mắt và tiếng than van chẳng đem lại ích lợi gì, nàng đứng dậy, quyết tâm đi đến bất cứ nơi nào số mệnh đưa đẩy.
Khi đến một thị trấn, việc đầu tiên nàng làm là đặt làm ba đôi dép sắt cùng một cây gậy thép. Sau khi chuẩn bị xong xuôi cho chuyến hành trình gian khổ, nàng lên đường đi tìm chồng. Nàng cứ bước đi mãi, vượt qua chín vùng biển và chín châu lục; xuyên qua những khu rừng có thân cây to bằng cả thùng đựng bia; vấp ngã, va người vào những cành cây khô gãy đổ, rồi lại tự đứng dậy bước tiếp; cành cây quất vào mặt, gai góc cào rách đôi tay, thế nhưng nàng vẫn tiến bước và chẳng một lần ngoảnh lại. Cuối cùng, kiệt sức sau chặng đường dài đằng đẵng, tả tơi và rũ rượi vì đau khổ nhưng trong tim vẫn nhen nhóm niềm hy vọng, nàng đã đến được một ngôi nhà.
Đố các con biết ai sống ở đó? Chính là Nữ thần Mặt Trăng.
Công chúa gõ cửa, khẩn khoản xin vào nghỉ chân chốc lát. Thân mẫu của Mặt Trăng trông thấy cảnh ngộ thảm thương của nàng thì động lòng trắc ẩn vô hạn, bèn đón nàng vào nhà, tận tình chăm sóc và thuốc thang. Trong thời gian ở đây, công chúa hạ sinh một đứa con nhỏ.
Một ngày nọ, thân mẫu của Mặt Trăng hỏi nàng:
“Làm sao một phàm nhân như con lại có thể tìm đường đến được cung điện của Mặt Trăng thế này?”
Bấy giờ, nàng công chúa tội nghiệp mới kể lại toàn bộ cơ sự đã xảy ra với mình, rồi nói thêm: “Con sẽ mãi mãi tạ ơn Trời Phật đã dẫn lối đưa đường cho con đến đây, và vô cùng biết ơn mẹ vì đã thương xót mẹ con con, không bỏ mặc chúng con chết giữa đường. Giờ đây con xin tâu một điều ước cuối cùng; liệu con gái của mẹ, tức Mặt Trăng, có thể cho con biết chồng con đang ở đâu không?”
“Nó không thể nói cho con biết điều đó đâu, con gái ạ,” nữ thần đáp, “nhưng nếu con chịu khó đi về phía đông cho đến khi tới nơi ở của Mặt Trời, có lẽ ngài ấy sẽ chỉ cho con đôi điều.”
Nói rồi, bà đưa cho công chúa một con gà quay để ăn, đồng thời dặn dò nàng phải giữ gìn cẩn thận từng chiếc xương gà, bởi chúng có thể sẽ vô cùng hữu ích cho nàng sau này.
Sau khi gửi lời cảm ơn lần nữa vì sự hiếu khách cùng những lời khuyên bảo ân cần, công chúa vứt bỏ đôi giày đã rách tơi tả, xỏ chân vào đôi thứ hai, gói ghém cẩn thận bó xương gà vào một bọc nhỏ. Nàng bồng con trên tay, cầm gậy thép bước đi, lại bắt đầu cuộc hành trình lang thang.
Nàng cứ đi mãi, đi mãi qua những sa mạc cát khô cằn, nơi đường sá lầy lội đến mức cứ tiến lên hai bước nàng lại sụt lùi một bước; thế nhưng nàng vẫn nghiến răng vượt qua cho đến khi qua khỏi những đồng bằng hoang vu ấy. Tiếp đó, nàng băng qua những dãy núi đá cao chót vót, nhảy từmỏm đá này sang mỏm đá khác, từ đỉnh cao này sang đỉnh cao khác. Có lúc nàng dừng chân nghỉ chốc lát trên núi, rồi lại tiếp tục hành trình ngày càng xa hơn. Nàng phải lội qua những đầm lầy, trèo qua những đỉnh núi đầy đá lửa lởm chởm khiến chân tay, đầu gối và khuỷu tay rách tơi tả, máu chảy đầm đìa. Có khi gặp vực thẳm không tài nào nhảy qua nổi, nàng đành phải bò bằng cả bàn tay lẫn đầu gối, dùng cây gậy để chống đỡ thân mình. Cuối cùng, kiệt sức đến độ tàn hơi, nàng cũng đến được cung điện nơi Mặt Trời ngự trị. Nàng gõ cửa khẩn khoản xin vào. Thân mẫu của Mặt Trời ra mở cửa, vô cùng kinh ngạc khi trông thấy một phàm nhân đến từ chốn trần gian xa xôi, và bà đã rơi nước mắt xót xa khi nghe kể về những cay đắng mà nàng phải chịu đựng. Rồi sau khi hứa sẽ hỏi con trai mình về tung tích chồng của công chúa, bà giấu nàng xuống hầm rượu để Mặt Trời không hay biết gì khi trở về cung, bởi tính khí ngài vốn rất hay cáu bẳn mỗi khi bước chân về nhà vào ban đêm. Hôm sau, công chúa lo lắng rằng mọi chuyện sẽ chẳng suôn sẻ, vì Mặt Trời đã phát hiện có kẻ từ thế giới bên kia lẻn vào cung điện. Nhưng thân mẫu đã dùng những lời lẽ dịu dàng dỗ dành ngài, quả quyết rằng không có chuyện đó đâu. Nghe vậy, công chúa mới an tâm khi thấy mình được đối đãi tử tế, bèn cất tiếng hỏi:
“Nhưng cớ làm sao mà Mặt Trời lại hay nổi giận thế ạ? Ngài vốn rất đẹp và tốt bụng với con người cơ mà.”
“Chuyện là thế này,” thân mẫu của Mặt Trời đáp. “Vào buổi sáng khi đứng ở cổng thiên đàng, ngài cảm thấy hạnh phúc và mỉm cười với muôn loài, nhưng ban ngày ngài trở nên bực dọc vì phải chứng kiến biết bao việc ác của con người, và đó là lý do vì sao ánh nắng của ngài lại gay gắt đến thế; còn vào buổi chiều, ngài vừa buồn bã vừa tức giận, bởi ngài đang đứng trước cửa tử thần; đó là quy luật thường nhật của ngài. Từ nơi đó ngài lại trở về đây.”
Bà tiếp tục cho công chúa biết rằng bà đã dò hỏi về chồng nàng, nhưng con trai bà trả lời rằng ngài chẳng biết gì cả, và hy vọng duy nhất của nàng lúc này là đi tìm Gió để hỏi cho rõ lẽ.
Trước khi công chúa rời đi, thân mẫu của Mặt Trời lại cho nàng một con gà quay để ăn, và ân cần dặn dò phải giữ gìn cẩn thận đống xương, nàng liền vâng lời, gói gọn chúng vào một chiếc bọc. Sau đó, nàng vứt bỏ đôi giày thứ hai đã rách nát, một tay bồng con, tay kia chống gậy, tiếp tục lên đường đi tìm Gió.
Trong chuyến hành trình này, nàng còn phải đối mặt với nhiều gian truân khốn khổ hơn trước, bởi nàng phải vượt qua hết ngọn núi đá lửa này đến ngọn núi đá lửa khác, nơi những lưỡi lửa từ lòng đất liếm láp bốc lên ngùn ngụt; nàng băng qua những khu rừng rậm chưa từng có dấu chân người, và lội qua những cánh đồng băng tuyết cùng những trận lở tuyết kinh hoàng. Người phụ nữ tội nghiệp suýt mất mạng vì những thử thách khắc nghiệt ấy, nhưng nàng vẫn giữ vững can đảm, và cuối cùng cũng tới được một hang động khổng lồ nằm sườn một ngọn núi. Đó chính là nơi Gió ngự trị. Có một cánh cửa nhỏ nằm ở hàng rào phía trước hang, công chúa đến đó gõ cửa khẩn khoản xin vào. Thân mẫu của Gió động lòng thương xót nên đã đón nàng vào nghỉ chân chốc lát. Ở đây nàng lại được giấu kín để Gió không hay biết.
Sáng hôm sau, thân mẫu của Gió cho nàng biết rằng chồng nàng đang sống trong một khu rừng rậm, rậm đến mức chẳng chiếc rìu nào có thể chặt đứt nổi một lối đi; tại đó chàng đã tự dựng một thứ nhà cửa bằng cách xếp các thân cây chồng lên nhau và buộc chặt chúng bằng dây leo, và chàng sống thui thủi một mình ở đó, lánh xa loài người.
Sau khi thân mẫu của Gió đưa cho công chúa một con gà để ăn và dặn dò phải cất kỹ đống xương, bà khuyên nàng hãy đi theo con đường Ngân Hà, vốn vắt ngang bầu trời vào ban đêm, cứ thế bước đi cho tới khi đạt được mục đích.
Sau khi rưng rưng nước mắt cảm ơn mụ cụ vì lòng hiếu khách cùng tin vui vừa nhận được, công chúa lên đường, ngày đêm không dám nghỉ ngơi vì nỗi khát khao được gặp lại chồng quá đỗi thiết tha. Nàng cứ đi mãi, đi mãi cho đến khi đôi giày cuối cùng rách tả tơi thành từng mảnh nhỏ. Nàng đành vứt chúng đi và tiếp tục lê bước bằng đôi chân trần, chẳng màng đến những vũng lầy buốt giá, những chiếc gai nhọn đâm tứa máu hay những hòn đá sắc nhọn làm chân bầm dập. Cuối cùng, nàng cũng đến được một đồng cỏ xanh mướt tuyệt đẹp nằm rìa một khu rừng. Trái tim nàng như được sưởi ấm lại khi trông thấy những cánh hoa tươi thắm cùng thảm cỏ mềm mát rượi, nàng bèn ngồi xuống nghỉ chân chốc lát. Thế nhưng tiếng chim hót líu lo gọi bầy trên cành cao lại gợi lên trong lòng nỗi nhớ thương chồng da diết, nàng bật khóc nức nở, rồi bồng con trên tay, vác theo bói xương gà trên vai, bước vào trong rừng.
Suốt ba ngày ba đêm, nàng chật vật băng qua khu rừng rậm mà chẳng tìm thấy manh mối gì. Nàng kiệt sức vì đói khát và mệt mỏi, ngay cả cây gậy cũng chẳng thể giúp gì thêm cho nàng nữa, bởi qua bao dặm trường bôn ba, nó đã trở nên cùn mòn tự bao giờ. Nàng tưởng chừng đã buông xuôi trong tuyệt vọng, nhưng rồi dồn hết chút sức lực cuối cùng, nàng bất ngờ luồn lách qua một bụi rậm và chạm trán ngay ngôi nhà mà thân mẫu của Gió từng mô tả. Ngôi nhà không có cửa sổ, và lối ra vào lại nằm tuốt trên mái. Nàng đi vòng quanh nhà để tìm bậc thang nhưng chẳng thấy bóng dáng cái nào. Phải làm sao bây giờ? Làm thế nào để bước vào trong đây? Nàng trầm ngâm suy nghĩ, tìm mọi cách trèo lên cửa nhưng đều vô ích. Rồi bỗng nhiên, nàng sực nhớ đến đống xương gà mà mình đã nhọc nhằn mang theo suốt chặng đường dài đằng đẵng ấy, nàng tự nhủ: “Họ sẽ chẳng đời nào đồng lòng dặn dò mình phải giữ gìn cẩn thận đống xương này nếu chúng không có ý nghĩa gì. Biết đâu vào lúc dầu sôi lửa bỏng này, chúng lại hữu dụng với mình thì sao.”
Nàng bèn lấy đống xương ra khỏi bọc, ngẫm nghĩ một thoáng rồi chập hai đầu xương lại với nhau. Thật kinh ngạc, chúng dính chặt vào nhau như keo; nàng tiếp tục nối thêm những chiếc xương khác cho đến khi tạo được hai cây sào dài bằng chiều cao của ngôi nhà; nàng dựng chúng áp sát vào tường, cách nhau chừng một thước. Bắt ngang qua hai cây sào, nàng xếp từng khúc xương lên một cách ngay ngắn giống như những bậc thang. Cứ vừa làm xong một bậc là nàng lại đứng lên đó để làm tiếp bậc kế tiếp, rồi cứ thế leo dần lên cho đến khi sát cạnh cửa ra vào. Thế nhưng, ngay lúc đến gần đoạn chóp, nàng bỗng nhận ra chẳng còn chiếc xương nào thừa cho bậc thang cuối cùng cả. Phải làm sao bây giờ? Thiếu đi bậc thang cuối ấy thì toàn bộ cái thang coi như vô dụng. Chắc là nàng đã đánh rơi đâu đó một khúc xương rồi. Giữa lúc nguy cấp, một ý nghĩ lóe lên trong đầu nàng. Rút con dao nhỏ ra, nàng tự chặt đứt ngón út của mình đặt lên bậc thang cuối cùng, kỳ lạ thay, nó dính chặt lại y như những chiếc xương trước đó. Chiếc thang đã hoàn thiện, nàng bồng con trên tay và bước qua cánh cửa vào trong nhà. Mọi thứ bên trong đều ngăn nắp gọn gàng đến lạ lùng. Sau khi ăn chút ít lót dạ, nàng đặt con nằm ngủ vào chiếc máng gỗ đặt trên sàn nhà, rồi tự mình ngồi xuống nghỉ ngơi.
Khi con Heo, tức người chồng của nàng, trở về nhà, hắn vô cùng kinh ngạc trước cảnh tượng đập vào mắt. Thoạt đầu, hắn cứ ngỡ mình hoa mắt, trân trân nhìn chiếc thang bằng xương và chiếc ngón út đặt trên chóp đỉnh. Hắn linh cảm lại có thứ phép thuật mới nào đó đang nhúng tay vào, và trong cơn hoảng sợ, hắn suýt quay lưng bỏ chạy khỏi ngôi nhà; thế nhưng rồi một suy nghĩ khôn ngoan hơn chợt lóe lên, hắn bèn hóa thân thành một chú chim bồ câu để bất cứ thứ bùa chú nào cũng chẳng thể tác oai tác quái lên người mình, rồi vỗ cánh bay thẳng vào phòng mà không cần chạm đến chiếc thang. Tại đây, hắn nhìn thấy một người phụ nữ đang ngồi ru con. Khoảnh khắc trông thấy nàng, người giờ đây đã đổi khác, gầy gò tiều tụy đi nhiều vì những cay đắng mà nàng phải gánh chịu vì mình, trái tim hắn rung lên bởi một tình yêu thương sâu sắc, nỗi khát khao vô bờ bến cùng niềm xót xa tột độ, khiến hắn lập tức biến trở lại thành một người đàn ông.
Công chúa đứng phắt dậy khi trông thấy chàng, tim đập thình thịch vì sợ hãi, bởi nàng chẳng thể nhận ra chàng. Thế nhưng khi chàng cất tiếng nói rõ thân phận, niềm hạnh phúc vỡ òa khiến nàng quên sạch mọi đớn đau khổ ải, bỗng chốc chúng trở nên nhỏ bé chẳng đáng vào đâu. Chàng là một người đàn ông khôi ngô tuấn tú, dáng vóc cao ráo hiên ngang tựa cây tùng cây bách. Hai người ngồi bên nhau, nàng say sưa kể lại toàn bộ những cuộc phiêu lưu của mình, còn chàng thì rơi nước mắt xót xa theo từng câu chuyện. Rồi sau đó, chàng cũng kể cho nàng nghe về thân thế của bản thân.
“Anh là con trai của một nhà vua. Thuở ấy, khi phụ vương đang giao chiến với bầy rồng vốn là tai ương của đất nước, anh đã tiêu biểu chém chết con rồng út. Mẹ nó, vốn là một mụ phù thủy ác độc, đã yểm bùa và biến anh thành một con heo. Chính mụ ta, trong lớp cải trang thành một mụ già, đã đưa cho em sợi chỉ để buộc vào chân anh. Nhờ đó mà thay vì chỉ ba ngày là giải được lời nguyền, anh lại buộc phải mang thân phận con heo suốt ba năm trời ròng rã. Giờ đây, khi đôi ta đã cùng nhau trải qua cay đắng ngọt bùi và tìm lại được nhau, hãy cùng quên đi dĩ vãng đi em.”
Và trong niềm hạnh phúc ngập tràn, họ ôm lấy nhau thắm thiết.
Sáng hôm sau, họ sớm lên đường trở về vương quốc của phụ vương chàng. Muôn dân vui mừng khôn xiết khi trông thấy tung tích của thái tử và người vợ hiền; vua cha cùng hoàng hậu ôm chầm lấy cả hai trong niềm xúc động, và yến tiệc linh đình được tổ chức trong cung điện suốt ba ngày ba đêm.
Kế đó, họ lại lên đường sang thăm phụ vương của nàng. Vị vua già mừng đến phát cuồng khi được đoàn tụ với con gái cưng. Sau khi nghe nàng kể lại toàn bộ hành trình gian khổ, ngài ôn tồn bảo:
“Chẳng phải ta đã bảo với con rằng ta chắc chắn sinh vật đã cầu hôn và rước con về làm vợ ấy không phải sinh vật sinh ra đã là con heo đó sao? Con thấy chưa, con gái của ta, con thật khôn ngoan biết bao khi đã vâng lời dạy bảo của cha.”
Và vì nhà vua đã già yếu lại không có người nối dõi, ngài bèn nhường ngôi báu lại cho hai vợ chồng. Họ cai trị đất nước như cách mà chỉ những vị vua từng trải qua muôn vàn giông bão cuộc đời mới có thể làm được. Và nếu họ chưa qua đời thì giờ đây họ vẫn đang sống hạnh phúc và trị vì giang sơn.
[8]