Ngày xửa ngày xưa, có hai vợ chồng nọ sinh được một cậu con trai tên là Halvor. Từ bé, cậu đã chẳng chịu làm lụng gì cả, suốt ngày chỉ ngồi cào bới đống tro tàn trong lò sưởi. Cha mẹ gửi cậu đi học nghề hết chỗ này đến chỗ khác, nhưng Halvor chẳng ở đâu được lâu; cứ đi độ hai ba ngày là cậu lại trốn chủ, chạy một mạch về nhà và tiếp tục ngồiì lì bên góc bếp để bới tro.
Thế rồi, có một ngày nọ, một vị thuyền trưởng đến hỏi Halvor xem cậu có muốn cùng ông ra khơi, đi đây đi đó để ngắm nhìn những xứ sở xa xôi hay không. Halvor nghe thấy liền đâm thích, thế là cậu chuẩn bị hành lý lên đường chẳng chút chần chừ.
Họ đã lênh đênh trên biển bao lâu thì tôi không rõ, chỉ biết rằng sau một khoảng thời gian rất dài, một trận bão khủng khiếp đã ập đến. Khi cơn bão qua đi và biển cả lặng yên trở lại, họ chẳng còn biết mình đang ở đâu nữa, bởi con thuyền đã bị sóng đánhạt đến một bờ biển xa lạ mà không một ai trong đoàn từng hay biết.
Vì gió biển đã lặng ngắt, con thuyền cứ thế trôi dạt rồi nằm im lìm một chỗ. Halvor bèn xin thuyền trưởng cho phép mình lên bờ dạo chơi, bởi cậu thà làm điều đó còn hơn cứ nằm lì trên tàu mà ngủ.
– Cậu nghĩ mình diện mạo thế này mà dám đi đến nơi có người nhìn thấy sao? – thuyền trưởng bảo. – Trên người cậu chẳng có lấy một bộ đồ ra hồn ngoài mấy mảnh giẻ rách đang mặc kìa!
Halvor cứ nài nỉ mãi, cuối cùng cũng được gật đầu đồng ý, với điều kiện phải quay lại ngay lập tức nếu gió bắt đầu nổi lên.
Thế là cậu lên bờ. Đó là một vùng đất vô cùng tươi đẹp; đi đến đâu cậu cũng thấy những đồng bằng rộng lớn với những cánh đồng và đồng cỏ bát ngát, nhưng bóng dáng con người thì tuyệt nhiên chẳng thấy một ai. Gió bắt đầu thổi mạnh, song Halvor nghĩ rằng mình vẫn chưa ngắm nghía đã đời, và cậu muốn đi dạo thêm chút nữa để xem có gặp được ai không. Đi một hồi, cậu bắt gặp một con đường cái quan lớn, phẳng đến mức người ta có thể lăn một quả trứng trên đó mà không sợ vỡ. Halvor cứ thế bước đi theo con đường ấy, và khi chiều tà buông xuống, cậu nhìn thấy đằng xa xa có một lâu đài to lớn đang sáng rực ánh đèn. Vì đã đi bộ suốt cả ngày trời mà lại chẳng mang theo chút thức ăn nào bên mình, cậu đói cồn cào. Mặc dầu vậy, càng tiến gần đến lâu đài, lòng cậu lại càng sinh ra sợ hãi.
Trong lâu đài có đốt lửa, Halvor bèn bước thẳng vào nhà bếp. Nơi đây lộng lẫy hơn bất cứ căn bếp nào mà cậu từng thấy trước đó. Có vô số vật dụng bằng vàng với bằng bạc bày la liệt, nhưng bóng người thì hoàn toàn không có. Sau khi đứng ngóng một hồi lâu mà chẳng thấy ai bước ra, Halvor liền tiến đến đẩy cửa bước vào trong, và bắt gặp một nàng công chúa đang ngồi quay tơ.
– Ái chà! – nàng kêu lên. – Phàm nhân sao mà dám gan dạ bước chân đến chốn này? Tốt nhất là ngươi hãy mau biến đi, bằng không Yêu Tinh sẽ ăn thịt ngươi mất. Ở đây có một con Yêu Tinh ba đầu lận đấy.
– Trừ phi nó mọc thêm bốn cái đầu nữa, chứ chừng ấy thì tôi lại càng mừng vì đang tò mò muốn diện kiến đây, – chàng trai trẻ đáp. – Và tôi sẽ chẳng đi đâu cả, bởi tôi có làm điều gì quấy đâu. Nhưng cô phải cho tôi cái gì mà ăn chứ, tôi đói lả đi rồi đây.
Sau khi Halvor đã ăn uống no nê, nàng công chúa liền bảo cậu thử xem có nhấc nổi thanh gươm đang treo trên vách tường kia không, nhưng cậu chẳng cách nào sử dụng nổi, thậm chí còn không nhấc nó lên được.
– Thôi được, vậy anh phải uống một ngụm từ cái bình treo bên cạnh kia, bởi đó là việc mà con Yêu Tinh vẫn thường làm mỗi khi nó ra ngoài và muốn dùng đến thanh gươm, – nàng công chúa bảo.
Halvor bèn uống một ngụm, và chỉ trong chớp mắt, cậu đã có thể vung vẩy thanh gươm một cách vô cùng nhẹ nhàng, dễ dàng. Cậu nghĩ rằng đây là lúc thích hợp nhất để con Yêu Tinh xuất hiện, và quả nhiên ngay lúc ấy, nó đã thình lình bước vào, thở phì phò hổn hển.
Halvor liền nấp ra sau cánh cửa.
– Hừ tê tu! – con Yêu Tinh vừa thò đầu qua cửa vừa rít lên. – Sao mà có mùi máu phàm nhân thoang thoảng thế này nhỉ!
– Đúng thế, mày sắp được nếm mùi đây! – Halvor đáp rồi vung gươm chém đứt bay toàn bộ mấy cái đầu của nó.
Nàng công chúa vui mừng khôn xiết vì được giải thoát, nàng nhảy múa ca hát vang lừng, nhưng rồi chợt nhớ ra các chị của mình, nàng liền nói:
– Phải chi các chị của ta cũng được tự do thì tốt biết mấy!
– Họ ở đâu? – Halvor hỏi.
Nàng bèn kể cho cậu nghe vị trí của họ. Một người đã bị một con Yêu Tinh bắt về lâu đài của nó cách đây sáu dặm, còn người kia thì bị đem đến một lâu đài nằm cách đó tận chín dặm nữa.
– Nhưng bây giờ, – nàng nói tiếp, – anh phải giúp tôi dọn cái xác chết này đi trước đã.
Halvor vốn có sức mạnh phi thường nên chẳng mấy chốc đã dọn dẹp sạch sẽ đâu ra đó rất nhanh gọn. Thế là họ lại cùng nhau ăn uống vui vẻ, và đến sáng hôm sau, khi ánh bình minh vừa hửng sáng, cậu liền lên đường. Halvor không nghỉ ngơi chút nào, cứ thế đi bộ hoặc chạy suốt cả ngày dài. Khi nhìn thấy bóng lâu đài từ đằng xa, trong lòng cậu lại dợn lên chút sợ hãi. Nơi này còn lộng lẫy hơn cả lâu đài trước, nhưng ở đây cũng chẳng một bóng người. Halvor bước vào nhà bếp, rồi chẳng chần chừ thêm chốc lát nào nữa, cậu tiến thẳng vào sâu bên trong.
– Ái chà! Phàm nhân mà cũng dám bén mảng đến đây ư? – nàng công chúa thứ hai kêu lên. – Ta chẳng nhớ mình đã bị bắt đến đây từ bao giờ, nhưng suốt khoảng thời gian qua, ta chưa từng nhìn thấy một bóng đàn ông loài người nào cả. Tốt hơn là ngươi hãy mau rời đi ngay, vì kẻ cai quản chốn này là một con Yêu Tinh sáu đầu đấy.
– Không, tôi sẽ không đi đâu, – Halvor đáp; – dù nó có mọc thêm sáu cái đầu nữa thì tôi cũng chẳng sợ.
– Nó sẽ nuốt chửng ngươi sống đấy, – nàng công chúa cảnh báo.
Nhưng những lời nàng nói đều hoài công vô ích, bởi Halvor quyết không chịu đi; cậu chẳng hề sợ con Yêu Tinh chút nào, mà chỉ thấy đói bụng sau chặng đường dài nên muốn tìm chút đồ ăn thức uống. Thế là nàng đành cho cậu ăn uống thoả thuê, rồi lại một lần nữa giục cậu mau mau rời khỏi nơi đây.
– Không, – Halvor đáp, – tôi sẽ không đi đâu hết, vì tôi chẳng làm điều gì sai trái, và tôi cũng chẳng có lý do gì để mà sợ hãi cả.
– Nó sẽ chẳng thèm hỏi han nguyên do đâu, – nàng công chúa nói, – bởi nó sẽ tóm lấy ngươi mà chẳng cần phép tắc hay lý lẽ gì sất; nhưng nếu ngươi đã nhất quyết không chịu đi, thì hãy thử xem có vung nổi thanh gươm mà con Yêu Tinh hay dùng khi chiến đấu hay không.
Cậu vẫn không tài nào múa may được thanh gươm ấy; thế là nàng công chúa bảo cậu hãy uống một ngụm từ chiếc bình treo cạnh đó, và khi làm theo lời nàng, cậu liền có thể dễ dàng vung gươm trong tay.
Chẳng bao lâu sau, con Yêu Tinh xuất hiện. Nó to lớn và mập mạp đến mức phải lách người đi nghiêng thì mới chui nổi qua khung cửa. Khi vừa thò cái đầu đầu tiên vào trong, nó liền gầm lên:
– Hừ tê tu! Sao ở đây có mùi máu phàm nhân thế này!
Ngay lập tức, Halvor chém đứt cái đầu đầu tiên, rồi tiếp tục xử lý sạch sẽ mấy cái đầu còn lại. Nàng công chúa lúc bấy giờ vô cùng sung sướng, nhưng rồi nàng lại nhớ đến những người chị của mình và ao ước họ cũng được tự do. Halvor nghĩ rằng việc đó hoàn toàn có thể giải quyết được và muốn lên đường ngay tức khắc; tuy nhiên, cậu vẫn phải giúp nàng công chúa dọn dẹp xác con Yêu Tinh trước đã, thế nên mãi đến sáng hôm sau cậu mới có thể tiếp tục hành trình.
Đường đến lâu đài kia rất xa, cậu vừa đi vừa chạy để kịp đến nơi. Khi chiều muộn buông xuống, cậu đã nhìn thấy nó xuất hiện trước mắt; lâu đài này lại càng nguy nga lộng lẫy hơn cả hai nơi trước bội phần. Lần này thì cậu chẳng hề cảm thấy một chút sợ hãi nào nữa, cứ thế bước thẳng vào nhà bếp rồi tiến sâu vào bên trong cung điện. Tại đó có một nàng công chúa đang ngồi, nhan sắc kiều diễm tuyệt trần đến mức chẳng ai trên đời có thể sánh kịp. Nàng cũng thốt lên những lời hệt như các người chị của mình, rằng từ khi nàng bị bắt đến đây chưa từng có phàm nhân nào đặt chân tới, đồng thời tha thiết nài nỉ cậu hãy mau quay gót, bằng không sẽ bị Yêu Tinh nuốt chửng cả người. Nàng cho biết con Yêu Tinh này có tới chín cái đầu lận.
– Vâng, và cho dù nó có chín cái đầu cộng thêm chín cái nữa, rồi lại thêm chín cái nữa đi chăng nữa, thì tôi cũng quyết không đi đâu cả, – Halvor nói rồi bước đến đứng sát cạnh lò sưởi.
Nàng công chúa hết lời ngọt ngào khuyên lơn cậu mau tránh đi kẻo bị Yêu Tinh ăn thịt, nhưng Halvor chỉ đáp:
– Cứ để nó thích đến lúc nào thì đến.
Nói đoạn, nàng trao cho cậu thanh gươm của con Yêu Tinh và giục cậu uống một ngụm nước trong bình để có đủ sức vung gươm.
Đúng lúc ấy, con Yêu Tinh thở hồng hộc bước vào. Nó to lớn và lực lưỡng hơn hẳn hai con trước rất nhiều, và cũng phải lách người nghiêng ngả mới lọt qua được cửa.
– Hừ tê tu! Quái sao ở đây lại nồng nặc mùi máu phàm nhân thế này! – nó gầm lên.
Halvor liền chém đứt cái đầu đầu tiên, rồi tiếp tục hạ sát những cái đầu tiếp theo. Thế nhưng cái đầu cuối cùng lại là cái cứng đầu nhất, và đó là trận chiến nhọc nhằn nhất mà Halvor từng trải qua để có thể chặt đứt nó, dẫu vậy cậu vẫn một lòng tin rằng mình có đủ sức mạnh để hoàn thành.
Và thế là tất cả các nàng công chúa đều đã tề tựu đông đủ tại lâu đài, họ lại được đoàn tụ bên nhau và tràn ngập hạnh phúc hơn bao giờ hết trong đời. Họ vô cùng quý mến Halvor, và cậu cũng vậy, cậu được quyền chọn lấy người mà mình yêu thương nhất; trong ba chị em, người em út là người đem lòng yêu cậu sâu đậm nhất.
Tuy nhiên, dạo gần đây Halvor cứ hay thẫn thờ, mang tâm sự u buồn và trầm ngâm lặng lẽ, khiến các nàng công chúa phải cất lời hỏi xem cậu đang khao khát điều gì, hay chăng cậu không thích ở bên họ nữa. Cậu đáp rằng mình rất thích ở cùng các nàng, bởi cuộc sống ở đây chẳng thiếu thứ gì và cậu cảm thấy vô cùng thoải mái; thế nhưng lòng cậu lại cứ khắc khoải mong được trở về quê hương, vì cha mẹ cậu vẫn còn sống và cậu rất khao khát được gặp lại họ.
Các nàng nghĩ rằng chuyện đó vô cùng đơn giản.
– Anh sẽ được đi và trở về hoàn toàn bình an vô sự nếu chịu nghe theo lời khuyên của chúng em, – các nàng công chúa bảo.
Thế là cậu hứa sẽ tuân theo mọi điều các nàng muốn.
Họ bèn diện cho cậu những bộ y phục lộng lẫy chẳng khác nào hoàng tử, rồi đeo vào tay cậu một chiếc nhẫn có phép màu giúp chủ nhân muốn đi đâu hay về đâu chỉ cần thầm ước là được ngay. Dù vậy, họ cũng dặn dò kỹ lưỡng rằng cậu tuyệt đối không được vứt bỏ nó, cũng không được thốt lên tên của họ; bởi nếu vi phạm, mọi vinh hoa phú quý này sẽ tan thành mây khói, và cậu sẽ chẳng bao giờ còn được gặp lại họ nữa.
– Phải chi tôi được trở về nhà ngay lúc này, hoặc nhà của tôi ở ngay nơi đây thì tốt biết mấy! – Halvor thầm ước, và vừa dứt lời thì điều ước đã thành hiện thực. Cậu đang đứng sừng sững ngay trước cửa túp lều tranh của cha mẹ mình tự bao giờ. Bóng tối của màn đêm đang buông xuống, và khi thấy một vị khách lạ mặt vô cùng sang trọng, đường hoàng bước vào, hai ông bà hoảng hốt đến mức cứ cúi đầu chào vái liên hồi.
Halvor liền cất tiếng hỏi xem mình có thể xin trọ lại đây qua đêm được không. Ồ, điều đó chắc chắn là không thể rồi. – Chúng tôi không thể tiếp đón ngài như vậy được, – họ đáp, – bởi nhà nghèo chẳng có nổi những tiện nghi cần thiết để khoản đãi một vị đại nhân quý phái như ngài. Tốt hơn là ngài nên lên trên trang trại lớn đằng kia đi. Nó ở cách đây không xa lắm, từ chỗ này có thể nhìn thấy mấy cái ống khói, và ở trươn đó thì không thiếu thứ gì.
Halvor nhất quyết không chịu nghe theo, cậu khăn khăn đòi ở lại cho bằng được chính nơi này; nhưng hai ông bà già vẫn khăng khăng giữ nguyên ý định, giục cậu cứ lên trang trại mà nghỉ ngơi, nơi ấy vừa có đồ ăn thức uống đầy đủ, trong khi nhà họ đến một chiếc ghế tử tế để mời khách ngồi cũng chẳng có.
– Không, – Halvor đáp, – tôi sẽ không lên đó cho đến tận sáng mai; xin hãy để tôi ngủ lại đây đêm nay. Tôi ngồi quây quần bên đống tro tàn này là được rồi.
Hai ông bà chẳng biết nói gì hơn, thế là Halvor đành ngồi xuống bên lò sưởi, rồi lại cất tay cào bới đống tro tàn hệt như ngày xưa khi cậu còn nằm ì ở đây lãng phí thời gian.
Họ trò chuyện rôm rả đủ thứ chuyện trên đời, kể cho Halvor nghe chuyện này chuyện nọ, và cuối cùng cậu liền hỏi thăm xem họ có từng sinh hạ được đứa con nào không.
– Có chứ, – họ đáp; họ từng có một đứa con trai tên là Halvor, nhưng ngặt nỗi chẳng biết nó đã lang thang đi đâu mất, sống chết thế nào cũng chẳng rõ.
– Liệu tôi có phải là nó không? – Halvor lên tiếng hỏi.
– Tôi thừa sức nhận ra con mình chứ, – bà cụ đứng phắt dậy nói. – Thằng Halvor nhà tôi lười biếng nhác nhác chảy thây, chẳng bao giờ chịu làm lấy một việc gì ra hồn, lại thêm rách rưới đến mức quần áo thủng lỗ chỗ chồng chất lên nhau. Một kẻ tồi tàn như nó đời nào lại có thể biến thành một người uy nghi đĩnh đạc như ngài được chứ, thưa ngài.
Chỉ một lát sau, bà cụ phải tiến lại gần lò sưởi để lùa cho ngọn lửa bùng lên, và khi ánh lửa hắt vào mặt Halvor y hệt như lúc cậu còn ở nhà ngồi bới tro tàn thuở trước, bà chợt nhận ra con trai mình.
– Ôi trời đất ơi! Có phải con đấy không hả Halvor? – bà thốt lên, và niềm hạnh phúc vỡ oà tràn ngập trong lòng hai thân sinh khiến họ vui sướng đến tột cùng chẳng gì tả xiết. Thế là cậu phải kể lại tường tận mọi chuyện đã xảy ra với mình cho cha mẹ nghe. Bà cụ mừng rỡ đến mức muốn kéo ngay cậu lên trang trại để khoe với mấy cô gái từng có ý coi thường cậu ngày trước. Bà đi trước dẫn đường, và Halvor theo sau bước tới. Khi đến nơi, bà thông báo ngay rằng Halvor nhà tôi đã về rồi đây, và giờ thì các cô cứ việc mở mắt ra mà ngắm nhìn xem cậu ấy sang trọng nhường nào. “Trông nó chẳng khác gì hoàng tử cả,” bà tự hào khoe.
– Để xem có khi nó vẫn chỉ là cái thằng rách rưới ngày xưa thôi, – mấy cô gái bĩu môi nói.
Đúng lúc ấy, Halvor bước vào. Các cô gái ngạc nhiên đến mức đánh rơi cả váy áo góc bếp, hoảng hốt cắm cổ chạy tơi bời và chỉ còn mặc mỗi chiếc váy lót trên người. Khi quay trở lại, họ vô cùng xấu hổ đến mức chẳng dám ngước mắt lên nhìn Halvor – người mà trước đây họ từng luôn đối xử với vẻ kiêu kỳ, ngạo mạn.
– Ái chà chà! Các cô cứ ngỡ mình xinh đẹp đài các lắm nên chẳng ai bì kịp cơ mà, – Halvor nói, – nhưng các cô nên được diện kiến nàng công chúa cả mà tôi đã giải cứu đi. Đứng cạnh nàng thì các cô trông chẳng khác nào mấy cô thôn nữ chăn bò, và nàng công chúa thứ hai cũng xinh đẹp hơn các cô gấp bội; thế nhưng người em út, cũng là người tình của tôi, lại càng lộng lẫy kiều diễm hơn cả mặt trời lẫn mặt trăng. Phải chi họ đang ở đây lúc này để các cô được dịp mở mang tầm mắt.
Cậu vừa dứt lời thì họ đã hiện diện ngay bên cạnh, nhưng ngặt nỗi lúc đó lòng Halvor vô cùng đau đớn, xót xa, bởi cậu chợt nhớ đến những lời dặn dò cấm kỵ mà nàng từng căn dặn.
Tại trang trại, người ta chuẩn bị một bữa tiệc linh đình khoản đãi các nàng công chúa và bày tỏ sự kính trọng tột bậc, nhưng ngặt nỗi họ chẳng chịu ở lại đó.
– Chúng tôi muốn xuống thăm cha mẹ của anh, – họ bảo với Halvor, – thế nên chúng tôi sẽ ra ngoài dạo chơi một lát.
Cậu bèn lẽo đẽo bước theo họ ra ngoài, và họ tiến đến một cái hồ lớn nằm ngay gần trang trại. Ngay sát mép nước có một bãi cỏ xanh mướt xinh xắn, các nàng công chúa liền bảo họ muốn ngồi xuống đây nghỉ chân giải khuây một lát, vì ngắm cảnh nước non hữu tình từ góc này thì thật là thi vị biết bao.
Họ ngồi xuống đó, và sau khi ngồi được một lúc, nàng công chúa út liền cất tiếng:
– Thôi để em chải tóc giúp anh một chút nhé, Halvor.
Thế là Halvor gối đầu lên đùi nàng, để mặc nàng dịu dàng chải tóc, và chẳng mấy chốc cậu đã chìm vào giấc ngủ sâu. Nhân cơ hội ấy, nàng liền tháo chiếc nhẫn trên tay cậu ra, thay vào đó bằng một chiếc nhẫn khác, đoạn bảo mấy người chị rằng: “Hãy ôm chặt lấy em y như cách em đang ôm các chị đây. Ước gì chúng ta đã về đến Lâu đài Soria Moria.”
Khi Halvor bừng tỉnh giấc, cậu biết ngay rằng mình đã mất hút các nàng công chúa. Cậu khóc lóc thảm thiết, gào thét van xin và chìm đắm trong nỗi buồn đau tuyệt vọng chẳng sao nguôi ngoai nổi. Mặc cho cha mẹ hết lời can ngăn nài nỉ, cậu vẫn nhất quyết không chịu ở lại, cúi đầu từ biệt hai đấng sinh thành và quả quyết sẽ không bao giờ quay lại nữa, bởi nếu không tìm lại được nàng công chúa thì sống trên đời này đối với cậu cũng chẳng còn ý nghĩa gì.
Cậu mang theo ba trăm đô-la còn lại nhét vào túi rồi bước chân lên đường. Đi được một quãng đường dài, cậu bắt gặp một người đàn ông dắt theo một con ngựa khá tốt. Halvor đâm ra thèm thuồng muốn mua nó, bèn sán lại ngỏ ý ngả giá.
– Ồ, thực ra tôi vốn không có ý định bán nó đâu, – người đàn ông nói, – nhưng nếu chúng ta thỏa thuận được với nhau, thì có lẽ…
Halvor liền hỏi ông ta muốn bán con ngựa với giá bao nhiêu.
– Tôi mua nó chẳng đắt lắm, và bản thân nó cũng chẳng đáng giá là bao; đây là con ngựa cưỡi cừ khôi đấy, ngặt nỗi khoản kéo xe thì tồi tệ chẳng được tích sự gì; bù lại nó luôn đủ sức gánh vác túi hành lý cùng với chính bản thân cậu, miễn là cậu chịu khó lúc đi bộ lúc cưỡi ngựa thay phiên nhau.
Cuối cùng họ cũng thống nhất được mức giá, Halvor bèn chất túi hành lý lên lưng ngựa, khi thì đi bộ thong thả lúc lại nhảy lên lưng ngựa cưỡi. Đến chiều tối, cậu đi đến một thảm cỏ xanh mướt, nơi có một cội cây cổ thụ lớn toả bóng mát, cậu liền dừng chân ngồi xuống đó. Cậu tháo túi đồ trên lưng ngựa xuống rồi thả cho con vật tự do gặm cỏ, đoạn ngả lưng xuống đất định bụng đánh một giấc. Khi trời vừa hửng sáng, cậu lại xốc lại tinh thần tiếp tục lên đường, bởi trong lòng cảm thấy chẳng thể chợp mắt nghỉ ngơi thêm được nữa. Cứ thế, cậu vừa đi vừa cưỡi ngựa suốt cả ngày trời băng qua một khu rừng rậm bạt ngàn, nơi có rất nhiều khoảng rừng xanh mát lấp lánh vô cùng xinh đẹp đan xen giữa những tán cây. Cậu chẳng biết mình đang ở đâu hay đang đi về phương nào, nhưng chẳng bao giờ dừng chân ở đâu lâu quá thời gian cần thiết để con ngựa tranh thủ gặm chút cỏ khi đến những khoảng đất xanh tốt ấy, trong khi bản thân thì lôi túi lương khô ra ăn.
Cứ thế hết đi rồi lại cưỡi, và có cảm giác như khu rừng rậm này chẳng bao giờ đi đến điểm tận cùng. Thế nhưng vào buổi chiều của ngày thứ hai, cậu chợt nhìn thấy một ánh đèn lấp lánh hắt ra qua kẽ lá.
– Phải chi ở đó có con người thì tôi có thể ghé vào sưởi ấm và xin chút gì lót dạ, – Halvor thầm nghĩ.
Khi đến gần nơi phát ra ánh sáng, cậu nhìn thấy một túp lều nhỏ xập xệ, qua ô cửa kính nhỏ xíu, cậu trông thấy hai ông bà cụ đang ngồi bên trong. Họ đã già nua lụm khụm, tóc bạc trắng như lông bồ câu, và bà cụ thì có chiếc mũi dài đến mức bà cứ ngồi lì một góc bên lò sưởi dùng chính cái mũi ấy để khều củi.
– Chào buổi tối nhé! Chào buổi tối nhé! – bà mụ yêu tinh cất tiếng. – Mà ngọn gió nào đưa mi bén mảng đến tận chốn quạnh hiu này thế? Đã hơn một trăm năm nay rồi chẳng có bóng phàm nhân nào lai vãng đến đây cả.
Halvor bèn kể cho bà nghe rằng mình đang muốn tìm đường đến Lâu đài Soria Moria, đồng thời hỏi thăm xem liệu bà có biết lối đi hay không.
– Không, – bà cụ đáp, – chuyện đó thì ta chịu chết, nhưng chốc nữa thôi mụ Nguyệt sẽ ghé qua đây, ta sẽ hỏi con bé xem sao, chắc chắn nó rành đường lắm. Nó soi rọi khắp muôn nơi nên chẳng có gì là nó không thấy cả.
Đợi đến khi vầng trăng sáng ngời vắt vẻo trên ngọn cây, bà cụ liền lật đật bước ra ngoài. – Hỡi Mặt Trăng! Chị Hỡi! – bà cất giọng thé lên. – Ngươi có biết đường tới Lâu đài Soria Moria không, chỉ ta với?
– Không, – giọng Mặt Trăng vang lên, – tôi chẳng biết đâu, vì hồi tôi soi chiếu đến vùng đó, có một đám mây mù đã che khuất tầm nhìn mất rồi.
– Chờ thêm chút nữa đi, – bà cụ quay sang bảo Halvor, – lát nữa Gió Tây sẽ tới ngay thôi, hắn ta thì rành đường lắm, vì ngọn gió ấy thường thổi lướt nhẹ nhàng hoặc luồn lách vào mọi ngóc ngách cơ mà.
– Ồ! Mi cũng có cả ngựa cơ à? – bà cụ vừa quay vào nhà vừa cất tiếng hỏi khi thấy con vật. – Thôi thả ngay con thú tội nghiệp ấy ra mảnh cỏ có rào chắn đằng sau nhà cho nó gặm cỏ đi, đừng để nó đứng đó chết đói ngay trước ngưỡng cửa nhà ta nữa. Mà này, mi có muốn đổi nó lấy thứ này với ta không? Ta có một đôi bốt cũ ở đây, mang vào mi có thể bước một bước là đi được mười lăm dặm đường đấy. Ta sẽ đổi nó lấy con ngựa của mi, như thế mi sẽ mau chóng đến được Lâu đài Soria Moria hơn.
Halvor gật đầu đồng ý ngay lập tức, và bà cụ mừng rỡ đến mức suýt nhảy cẫng lên vì có được con ngựa. “Vì từ nay ta cũng có thể oai vệ cưỡi ngựa đi nhà thờ rồi,” bà hớn hở nói. Halvor chẳng màng nghỉ ngơi, giục bà cụ cho phép lên đường ngay; nhưng bà bảo chẳng việc gì phải vội vã.
– Hãy ngả lưng xuống chiếc ghế dài kia đánh một giấc cho lại sức đã, nhà ta chẳng có giường chiếu nào tử tế để mời khách đâu, – bà nói, – để ta thức canh chừng lúc Gió Tây ghé tới cho.
Chẳng bao lâu sau, Gió Tây đã rầm rập bay tới, gầm rú dữ dội làm vách lều kêu cót két.
Bà cụ lật đật chạy ra ngoài cất tiếng gọi:
– Hỡi Gió Tây! Gió Tây ơi! Ngươi có biết đường đến Lâu đài Soria Moria không? Ở đây có một người đang muốn tìm đường đến đó kìa.
– Ta biết rõ chứ, – Gió Tây vọng lại. – Ta đang trên đường đến đó để thổi khô y phục cho đám cưới sắp cử nhân đây. Nếu hắn có đôi chân nhanh nhẹn thì cứ việc theo ta.
Halvor cuống cuồng chạy vụt ra ngoài.
– Ngươi phải thật nhanh chân lên nếu muốn đồng hành cùng ta đấy nhé, – Gió Tây gầm lên rồi vút bay đi, băng qua hết đồi nọ đến thung lũng kia, vượt qua cả những đồng hoang lẫn đầm lầy lầy lội, và Halvor phải cố gắng hết sức mới bám trụ theo kịp nó.
– Thôi, đến đây thì ta không thể chờ ngươi được nữa rồi, – Gió Tây bảo, – vì ta còn phải ghé qua quật ngã một khóm thông trước khi ra bãi phơi quần áo; nhưng ngươi cứ đi dọc theo triền đồi kia kìa, sẽ gặp mấy cô gái đang đứng giặt giũ ở đó, từ chỗ ấy đi thêm một đọan ngắn nữa là tới Lâu đài Soria Moria thôi.
Chẳng mấy chốc, Halvor đã đi đến chỗ mấy cô gái đang đứng giặt đồ bên suối, họ liền cất tiếng hỏi xem cậu có trông thấy Gió Tây đâu không, vì hắn ta hứa sẽ đến đây thổi khô y phục cho đám cưới.
– Có chứ, – Halvor đáp, – hắn ta ghé qua bẻ ngọn thông một chút thôi, chắc chẳng lâu nữa là tới đây đâu. Sẵn tiện cậu hỏi thăm đường đến Lâu đài Soria Moria. Các cô gái chỉ đường cho cậu, và khi bước đến trước cổng lâu đài, cậu thấy nơi đây ngựa xe như nước, người qua kẻ lại đông như hội nhộn nhịp vô cùng. Thế nhưng vì trang phục của Halvor đã tả tơi rách rưới sau chặng đường băng qua bụi rậm đầm lầy cùng Gió Tây, cậu đành đứng nép sang một bên, kiên quyết không dám hoà mình vào đám đông cho đến tận ngày cuối cùng, cũng là ngày cử hành tiệc cưới vào lúc chính ngọ.
Thế rồi, theo đúng tục lệ và phép tắc thông thường, khi tất cả mọi người đều nâng chén chúc mừng cô dâu chú rể cùng các thiếu nữ có mặt, người rót rượu lần lượt đi chuốc rượu cho từng người một, từ cô dâu chú rể cho đến các hiệp sĩ và người hầu, và sau một hồi lâu chờ đợi, cuối cùng hắn cũng tiến đến chỗ Halvor. Cậu nâng ly chúc sức khỏe họ, rồi lén thả chiếc nhẫn mà nàng công chúa từng trao cho mình bên bờ hồ vào trong ly rượu, đoạn dặn người rót rượu hãy mang chiếc ly ấy đến chỗ cô dâu kèm theo lời thăm hỏi của cậu.
Lập tức, nàng công chúa đứng phắt dậy khỏi bàn tiệc, dõng dạc tuyên bố:
– Theo ý mọi người, ai mới là người xứng đáng làm phu quân của chúng ta hơn—kẻ đã giải cứu chúng ta khỏi bầy Yêu Tinh hay kẻ đang ngồi chễm chệ làm chú rể ở đây?
Chẳng cần nghĩ cũng biết tất cả đều chung một đáp án, và khi Halvor nghe thấy những lời đó, cậu chẳng chần chừ thêm giây phút nào nữa, lập tức vứt phăng bộ áo rách rưới của kẻ ăn mày sang một bên rồi hiên ngang diện lên bộ trang phục chú rể lộng lẫy.
– Vâng, chính là chàng, đây mới đích thực là người phu quân của em! – nàng công chúa út reo lên khi vừa trông thấy chàng; thế là nàng lập tức tống cổ kẻ mạo danh ra khỏi cửa sổ và tổ chức lễ cưới hạnh phúc bên người thương của đời mình.[2]
[2] Theo bản kể của P. C. Asbjørnsen.