Giờ đây, tôi không còn quá dốt nát về chuyển động của sông băng như hồi mới đặt chân lên Sông băng Gorner. Tôi đã “tầm sư học đạo” và đọc thêm rất nhiều từ đó. Tôi biết rằng những khối băng khổng lồ này không di chuyển cùng một tốc độ; trong khi Sông băng Gorner trôi chưa đến một inch mỗi ngày, Sông băng Unter-Aar lại trôi tới tám inch; và người ta nói rằng một số sông băng khác còn đạt tốc độ mười hai, mười sáu, thậm chí là hai mươi inch một ngày. Có tác giả cho biết sông băng chậm nhất di chuyển hai mươi lăm feet một năm, còn sông băng nhanh nhất là bốn trăm feet.
Sông băng là gì? Thật dễ dàng để nói rằng nó trông giống như một dòng sông bị đóng băng, nằm chiếm trọn lòng của một khe núi hoặc rãnh núi uốn lượn giữa các dãy núi. Nhưng điều đó chẳng thể mang lại chút hình dung nào về sự mênh mông của nó. Bởi vì có lúc nó dày tới sáu trăm feet, và chúng ta vốn không quen với những con sông sâu sáu trăm feet; không, sông của chúng ta chỉ sâu sáu feet, hai mươi feet, và đôi khi là năm mươi feet; chúng ta hoàn toàn không đủ sức hình dung một thực thể lớn lao như một dòng sông băng sâu tới sáu trăm feet.
Bề mặt sông băng không hề nhẵn nhụi hay bằng phẳng, mà có những vùng trũng sâu cùng các gò đất nhô lên, đôi khi trông giống như một vùng biển động với những con sóng dữ bị đông cứng ngay khoảnh khắc chúng chuyển động cuồng nộ nhất; bề mặt sông băng không phải là một khối nguyên vẹn không tì vết, mà là một dòng sông chằng chịt những vết nứt hoặc khe sâu, cái thì hẹp, cái thì há rộng miệng. Không biết bao nhiêu kẻ, vì trượt chân hoặc bước hụt, đã lao xuống những hẻm vực này và bỏ mạng. Đã có những người được vớt lên khỏi đó khi vẫn còn sống; nhưng đó là lúc họ chưa rơi xuống quá sâu; cái lạnh ở độ sâu thẳm sẽ nhanh chóng làm tê liệt con người, dù họ bị thương hay không. Những vết nứt này không chạy thẳng xuống dưới; người ta hiếm khi nhìn xuống sâu hơn từ hai mươi đến bốn feet; do đó, những kẻ biến mất trong đó thường được tìm kiếm với hy vọng họ đã dừng lại ở một khoảng cách có thể cứu giúp, trong khi thực tế, trong phần lớn các trường hợp, hy vọng đã hoàn toàn vụt tắt ngay từ phút ban đầu.
Vào năm 1864, một đoàn du lịch đang trên đường xuống núi Mont Blanc, và khi đang dò dẫm bước đi trên một trong những dòng sông băng hùng vĩ thuộc vùng cao nguyên ấy, họ cột dây nối liền với nhau theo đúng quy chuẩn, thì một phu khuân vác trẻ tuổi đã tự cởi dây khỏi nhóm và bước ra định vượt qua một chiếc cầu băng bắc ngang một khe nứt. Chiếc cầu đột ngột vỡ tan tành dưới chân cậu ta, và cậu biến mất. Những người khác không thể nhìn rõ cậu ta đã rơi sâu đến mức nào, vì vậy việc cố gắng cứu cậu ta có lẽ là điều đáng thử. Một hướng dẫn viên trẻ tuổi can đảm tên là Michel Payot đã tình nguyện.
Hai sợi dây được buộc chặt vào thắt lưng da của anh, và tay anh cầm đầu sợi dây thứ ba để cột vào nạn nhân nếu tìm thấy. Anh được hạ xuống khe nứt, càng lúc càng đi sâu hơn giữa những bức tường băng xanh ngắt và đặc quánh, anh tiến đến một khúc cua của khe nứt và khuất sau đó. Càng lúc càng sâu hơn, anh tiến vào ngôi mộ sâu thẳm này; khi đã xuống đến độ sâu tám mươi feet, anh lại đi qua một khúc cua khác của khe nứt, rồi từ đó tiếp tục tụt xuống thêm tám mươi feet nữa, lọt thỏm giữa những vách đá dựng đứng. Đặt chân đến cột mốc này – cách bề mặt sông băng một trăm sáu mươi feet – anh nheo mắt nhìn qua lớp ánh sáng mờ ảo và nhận ra rằng vực thẳm lại rẽ ngoặt thêm một lần nữa, cắm sâu xuống một góc dốc đứng hướng về những chiều sâu vô định, bởi lối đi của nó đã chìm khuất trong bóng tối. Thật là một nơi đáng sợ để đặt chân đến – nhất là khi chiếc thắt lưng da ấy mà đứt! Sức ép từ chiếc thắt lưng chực bóp nghẹt anh chàng can đảm; anh gọi những người đồng hành kéo mình lên, nhưng họ chẳng thể nghe thấy tiếng anh. Họ vẫn tiếp tục hạ anh xuống, càng lúc càng sâu hơn. Bấy giờ, anh giật mạnh sợi dây thứ ba hết sức có thể; những người bạn đã hiểu ý và kéo anh ra khỏi cái hàm tử thần băng giá ấy.
Sau đó, họ gắn một cái chai vào sợi dây và thả xuống sâu hai trăm feet, nhưng chẳng chạm tới đáy. Nó được kéo lên với lớp băng bám đầy xung quanh – đó là minh chứng quá đủ cho thấy rằng, dẫu cho người phu khuân vác tội nghiệp có chạm tới đáy với những khúc xương lành lặn đi chăng nữa, thì một cái chết nhanh chóng vì giá lạnh cũng là điều không thể tránh khỏi.
Sông băng là một cỗ máy cày vĩ đại, không ngừng tiến bước và không gì cản nổi. Nó ủi về phía trước những khối đá tảng chất đống lên nhau, và chúng kéo dài chắn ngang khe núi, ngay trước mặt nó, giống như một ngôi mộ dài hoặc một mái nhà sắc nhọn kéo dài. Hiện tượng này được gọi là moraine (morên hay đới băng tích). Nó cũngn đùn ra các đới băng tích dọc theo hai bên đường đi của mình.

Dù các dòng sông băng thời hiện đại có uy nghi đến đâu, chúng cũng không thể khổng lồ bằng một số sông băng từng tồn tại trong quá khứ. Chẳng hạn, ông Whymper cho biết:
“Vào một thời kỳ rất xa xôi nào đó, Thung lũng Aosta từng bị chiếm lĩnh bởi một dòng sông băng khổng lồ, chảy dọc theo toàn bộ chiều dài của nó từ Mont Blanc đến vùng đồng bằng Piedmont, đứng yên hoặc gần như đứng yên tại cửa thung lũng trong nhiều thế kỷ, và bồi đắp tại đó những khối lượng đất đá khổng lồ. Chiều dài của dòng sông băng này vượt quá tám mươi dặm, và nó bao trùm một lưu vực rộng từ hai mươi lăm đến ba mươi lăm dặm, được bao bọc bởi những ngọn núi cao nhất vùng Alps.

“Những đỉnh núi lớn vươn cao hơn các sông băng vài ngàn feet, rồi cũng giống như bây giờ và ngày trước, bị tàn phá bởi ánh mặt trời và sương giá, tuôn xuống những trận mưa đá và sỏi đá, làm minh chứng cho điều đó là những đống mảnh vụn góc cạnh khổng lồ tạo nên các đới băng tích ở Ivrea.
“Các đới băng tích quanh Ivrea có kích thước phi thường. Đới nằm ở bờ trái sông băng dài khoảng mười ba dặm, và có nơi vươn lên độ cao tới hai nghìn một trăm ba mươi feet so với đáy thung lũng! Các đới băng tích tận cùng (những đới bị đùn đẩy ở phía trước sông băng) bao phủ một vùng đất rộng chừng hai mươi dặm vuông. Tại cửa Thung lũng Aosta, độ dày của dòng sông băng hẳn phải lên tới ít nhất hai nghìn feet, và bề rộng của nó tại đoạn đó là năm dặm rưỡi.”

Thật không dễ dàng gì để nắm bắt trọn vẹn khái niệm về một khối băng lớn nhường ấy. Nếu người ta có thể cắt phăng phần đuôi của một dòng sông băng như thế – một khối hình chữ nhật rộng từ hai đến ba dặm, dài năm dặm rưỡi và dày hai nghìn feet – anh ta có thể che khuất hoàn toàn thành phố New York bên dưới nó, và ngọn tháp của nhà thờ Trinity sẽ chỉ nhô lên trong đó một khoảng tương đương với một chiếc đinh đóng ván nhô lên ở đáy của một chiếc rương đựng đồ du lịch ở Saratoga.
“Những khối đá tảng từ Mont Blanc, nằm trên vùng đồng bằng bên dưới Ivrea, đảm bảo với chúng ta rằng dòng sông băng vận chuyển chúng đã tồn tại trong một khoảng thời gian vô cùng dài. Khoảng cách hiện tại của chúng từ những vách đá mà từ đó chúng rơi ra là khoảng 420.000 feet, và nếu chúng ta giả định rằng chúng di chuyển với tốc độ 400 feet một năm, thì hành trình của chúng hẳn đã ngốn không dưới 1.055 năm! Rất có thể chúng đã di chuyển không nhanh đến thế.”

Đôi khi, các dòng sông băng bị thúc ép rời khỏi tốc độ bò sên đặc trưng của mình. Một cảnh tượng kỳ diệu sẽ xuất hiện khi đó. Ông Whymper nhắc đến một trường hợp xảy ra ở Iceland vào năm 1721:
“Có vẻ như vùng lân cận ngọn núi Kotlugja đã hình thành những khối nước lớn bên dưới hoặc bên trong các dòng sông băng (hoặc do nhiệt lượng bên trong lòng đất, hoặc vì những nguyên nhân khác), và cuối cùng chúng đạt được nguồn sức mạnh không thể cản nổi, bứt tung các dòng sông băng khỏi điểm neo đậu của chúng trên đất liền, quét qua mọi chướng ngại vật để đổ ra biển. Những khối băng khổng lồ do đó đã bị cuốn đi một quãng đường dài khoảng mười dặm trên đất liền chỉ trong vòng vài giờ; và thể tích của chúng lớn đến mức chúng bao phủ cả mặt biển trong bán kính bảy dặm tính từ bờ, và mắc cạn ở độ sâu sáu trăm feet nước! Công cuộc tàn phá mặt đất diễn ra ở một quy mô hoành tráng. Tất cả những lớp trầm tích trên bề mặt đều bị quét sạch, để lộ ra lớp đá nền bên dưới. Người ta đã miêu tả bằng những ngôn từ sinh động rằng mọi sự gồ ghề và trũng sâu đều bị xóa nhòa, một bề mặt nhẵn nhụi rộng vài dặm vuông phơi bày ra rành rành, và vùng đất này mang diện mạo như thể vừa được bào qua bởi một chiếc bào gỗ.”
Bản thuật lại được dịch từ tiếng Iceland cho hay những tàn tích tựa núi non của dòng sông băng uy nghi này đã che phủ mặt biển đến mức phóng tầm mắt đi muôn nơi cũng không tìm thấy một vùng nước trống nào, ngay cả từ những đỉnh núi cao nhất. Một bức tường hay hàng rào băng quái vật cũng được dựng lên vắt ngang một dải đất đáng kể bởi cuộc xâm nhập kỳ lạ này:
“Người ta có thể hình dung phần nào độ cao của bức tường băng này khi biết rằng từ trang trại Hofdabrekka, vốn nằm ở vị trí cao trên một sườn núi cao nguyên (fjeld), người ta không thể nhìn thấy ngọn Hjorleifshofdi đối diện – vốn là một ngọn đồi cao sáu trăm bốn mươi feet – mà để làm được điều đó, người ta phải leo lên sườn núi phía đông Hofdabrekka cao tới mười hai trăm feet.”
Những điều này sẽ giúp độc giả hiểu tại sao một người gắn bó cùng các dòng sông băng lại dần cảm thấy bản thân mình thật vô cùng nhỏ bé. Dãy Alps và các dòng sông băng hợp sức lại có thể tước sạch mọi thói kiêu ngạo của một kẻ phàm trần và kéo lòng tự tôn của hắn về con số không, miễn là hắn chịu ở lại trong bầu ảnh hưởng của sự hiện diện uy nghiêm ấy đủ lâu để nó thực hiện trọn vẹn vai trò của mình.
Các dòng sông băng vùng Alps có chuyển động – điều đó giờ đây đã được tất cả mọi người thừa nhận. Nhưng đã từng có thời gian người ta chế giễu ý tưởng ấy; họ nói rằng bạn hoàn toàn có thể mong đợi những dải đá rắn chắc bò lết trên mặt đất còn hơn là mong đợi những dải băng làm được điều đó. Thế nhưng, hết bằng chứng này đến bằng chứng khác được đưa ra, và cuối cùng thế giới buộc phải tin.
Các bậc hiền triết không chỉ khẳng định sông băng chuyển động, mà họ còn bấm giờ cả nhịp điệu dịch chuyển của nó. Họ tính toán ra nhịp điệu bước đi của một dòng sông băng, rồi tự tin tuyên bố rằng nó sẽ dịch chuyển đúng một khoảng cách nhất định trong từng ấy năm. Có ghi chép về một ví dụ nổi bật và kỳ thú cho thấy độ chính xác có thể đạt được trong những phép tính toán này.
Vào năm 1820, hành trình chinh phục đỉnh Mont Blanc đã được thử sức bởi một người Nga và hai người Anh, cùng với bảy hướng dẫn viên. Họ đã lên tới một độ cao ngất ngưởng và đang tiến gần đến đỉnh núi, thì một trận lở tuyết quét qua khiến vài người trong đoàn ngã nhào xuống một sườn dốc đứng dài hai trăm feet và hất năm người trong số họ (tất cả đều là hướng dẫn viên) rơi xuống một trong những khe nứt của sông băng. Mạng sống của một trong năm người đã được cứu nhờ một chiếc phong vũ biểu dài được buộc chặt sau lưng – nó bắt ngang qua khe nứt và treo lơ lửng anh ta cho đến khi lực lượng cứu hộ tới nơi. Cây gậy leo núi (alpenstock hay baton) của một người khác cũng cứu chủ nhân của nó theo một cách tương tự. Ba người đã thiệt mạng – Pierre Balmat, Pierre Carrier và Auguste Tairraz. Họ đã bị hất văng xuống những chiều sâu thẳm vô tận của khe nứt.
Tiến sĩ Forbes, nhà địa chất học người Anh, từng có nhiều chuyến ghé thăm vùng Mont Blanc và dành nhiều tâm huyết cho vấn đề còn tranh cãi về chuyển động của sông băng. Trong một lần viếng thăm như thế, ông đã hoàn thành các ước tính của mình về tốc độ dịch chuyển của dòng sông băng từng nuốt chửng ba người hướng dẫn viên nọ, và đưa ra lời tiên đoán rằng dòng sông băng sẽ trả lại những thi thể xấu số ở chân núi vào thời điểm ba mươi lăm năm kể từ ngày xảy ra tai nạn, hoặc có thể là bốn mươi năm.
Một hành trình chậm chạp, buồn tẻ – một sự dịch chuyển mà mắt thường không thể nhận thấy – nhưng dẫu vậy, nó vẫn đang tiến bước và không hề ngừng nghỉ. Đó là một quãng đường mà một viên đá lăn sẽ chỉ mất vài giây để vượt qua – điểm xuất phát cao vợi có thể nhìn thấy rõ từ ngôi làng nằm ở dưới thung lũng.
Lời tiên đoán đã ứng nghiệm với độ chính xác đến kỳ lạ; bốn mươi mốt năm sau thảm kịch, những di hài đã được tung ra ở chân sông băng.
Tôi tìm thấy một bản tường thuật thú vị về vấn đề này trong cuốn *Histoire Du Mont Blanc* của Stephen d’Arve. Tôi xin tóm lược lại bản tường thuật ấy như sau:
Vào ngày 12 tháng 8 năm 1861, đúng vào giờ tan lễ thánh, một hướng dẫn viên thở hổn hển bước đến tòa thị chính (mairie) của Chamonix, mang trên vai một gánh nặng vô cùng thê lương. Đó là một chiếc bao tải đựng đầy những di hài con người mà anh đã nhặt được từ miệng của một khe nứt trên Sông băng des Bossons. Anh phỏng đoán rằng đây chính là di tích của những nạn nhân trong thảm kịch năm 1820, và một cuộc điều tra tỉ mỉ, được chính quyền địa phương tiến hành ngay lập tức, chẳng mấy chốc đã chứng minh sự chính xác trong phỏng đoán của anh. Nội dung bên trong bao tải được đổ lên một chiếc bàn dài và được lập biên bản kiểm kê chính thức như sau:
Các phần của ba hộp sọ người. Một vài chùm tóc màu đen và vàng hoe. Một chiếc hàm người, còn nguyên những chiếc răng trắng đẹp. Cẳng tay và bàn tay, tất cả các ngón tay của bàn tay vẫn còn nguyên vẹn. Phần thịt có màu trắng và tươi, cả phần cánh tay lẫn bàn tay đều giữ được độ mềm mại nhất định ở các khớp nối.
Ngón áp út có một vết trầy xước nhẹ, và vết máu vẫn còn nhìn thấy rõ, không hề thay đổi sau bốn mươi mốt năm. Một bàn chân trái, phần thịt trắng và tươi.
Đi kèm với những mảnh vụn này là các phần của áo ghi-lê, mũ, giày đinh tán và quần áo khác; một chiếc cánh bồ câu với bộ lông màu đen; một mảnh gậy leo núi; một chiếc đèn lồng bằng thiếc; và cuối cùng, một đùi cừu luộc, phần thịt duy nhất trong tất cả các di hài tỏa ra một mùi khó chịu. Người hướng dẫn viên cho biết miếng thịt cừu chẳng hề có mùi gì khi anh nhặt nó ra khỏi sông băng; việc phơi mình dưới ánh mặt trời suốt một tiếng đồng hồ đã bắt đầu khởi phát quá trình phân hủy trên đó.
Người ta đã triệu tập những người có thể nhận dạng các di vật đáng thương này, và một cảnh tượng cảm động đã diễn ra. Vẫn còn hai người sống sót từng chứng kiến thảm kịch kinh hoàng cách đó gần nửa thế kỷ – Marie Couttet (được cứu nhờ cây gậy của mình) và Julien Davouassoux (được cứu nhờ chiếc phong vũ biểu). Những cụ già này bước vào và tiến lại gần chiếc bàn. Cụ Davouassoux, đã hơn tám mươi tuổi, đăm đăm nhìn những di hài tang tóc trong lặng lẽ với ánh mắt đờ đẫn, bởi trí tuệ và ký ức của cụ đã mai một theo tuổi tác; nhưng các giác quan của Couttet vẫn còn minh mẫn ở tuổi bảy mươi hai, và cụ đã thể hiện sự xúc động mạnh mẽ.
Cụ nói:

“Pierre Balmat tóc vàng; cậu ấy đội một chiếc mũ rơm. Mẩu hộp sọ này, cùng với chùm tóc vàng hoe, chính là của cậu ấy; đây là chiếc mũ của cậu ấy. Pierre Carrier tóc rất đen; hộp sọ này là của cậu ấy, và cả chiếc mũ phớt này nữa. Đây là bàn tay của Balmat, tôi nhớ nó quá rõ!” và cụ ông cúi người xuống, thành kính hôn lên đó, rồi khép các ngón tay lại ôm trọn lấy nó bằng một cái nắm tay đầy trìu mến, thốt lên rằng, “Tôi chưa bao giờ dám tin rằng trước khi giã từ cõi đời này, mình lại được ban ơn để siết chặt thêm một lần nữa bàn tay của một trong những người đồng đội dũng cảm ấy, bàn tay của người bạn hiền Balmat của tôi.”
Có một nét gì đó mang vẻ kỳ ảo và đầy thương cảm trong bức ảnh chụp người cự chiến binh tóc bạc trắng ấy đang chào đón bằng cái bắt tay đầy yêu thương của mình người bạn đã qua đời cách đó bốn mươi năm. Khi những bàn tay này gặp nhau lần cuối, chúng đều đồng điệu trong sự mềm mại và tươi trẻ của tuổi thanh xuân; giờ đây, một bên đã sạm đen, nhăn nheo và chai sần theo năm tháng, trong khi bên kia vẫn trẻ trung, trắng trẻo và không tì vết cứ như thể bốn mươi năm kia chỉ trôi qua trong nháy mắt, không để lại chút dấu vết nào của thời gian ngang qua. Thời gian vẫn tiếp tục trôi đối với người này; nhưng lại đứng yên đối với người kia. Một người đã không gặp lại bạn mình suốt cả một thế hệ, luôn lưu giữ hình ảnh của người bạn ấy trong tâm trí như lần cuối cùng họ nhìn thấy nhau, và cách nào đó sẽ cảm thấy ngạc nhiên, thậm chí bàng hoàng khi chứng kiến sự già nua mà năm tháng đã khắc lên khi gặp lại. Trải nghiệm của Marie Couttet, khi tìm thấy bàn tay của người bạn không hề thay đổi so với hình ảnh mà ông hằng mang theo trong ký ức suốt bốn mươi năm, có lẽ là một trải nghiệm độc nhất vô nhị trong lịch sử loài người.
Couttet đã nhận dạng thêm những di vật khác:
“Chiếc mũ này thuộc về Auguste Tairraz. Cậu ấy mang theo chiếc lồng chứa những con bồ câu mà chúng tôi dự định thả tự do trên đỉnh núi. Đây là cánh của một trong những con bồ câu đó. Và đây là mảnh vỡ từ cây gậy bị gãy của tôi; chính nhờ cây gậy ấy mà mạng sống của tôi đã được cứu. Ai có thể nói cho tôi hay rằng có ngày tôi lại có được niềm hạnh phúc khi được nhìn ngắm lại mẩu gỗ này, thứ từng nâng đỡ tôi vượt qua cái mồ đã nuốt chửng những người bạn đồng hành bất hạnh của tôi!”
Không có phần nào trên thi thể của Tairraz được tìm thấy ngoại trừ một phần hộp sọ. Một cuộc tìm kiếm miệt mài đã được tiến hành, nhưng không thu lại kết quả gì. Tuy nhiên, một cuộc tìm kiếm khác lại được tổ chức một năm sau đó, và lần này mang lại kết quả khả quan hơn. Rất nhiều mảnh quần áo từng thuộc về những người hướng dẫn viên xấu số đã được phát hiện; bên cạnh đó là một phần chiếc đèn lồng, và một chiếc khăn voan màu xanh có dính vết máu. Nhưng điểm thú vị nhất chính là thế này:
Một trong những người đi tìm kiếm đã bất ngờ bắt gặp một cánh tay dài mặc áo thò ra từ một khe nứt trên bức tường băng, với bàn tay chìa ra như đang đưa tay chào hỏi! “Những chiếc móng tay của bàn tay trắng trẻo ấy vẫn còn ửng hồng, và tư thế của những ngón tay duỗi thẳng dường như đang bày tỏ một lời chào mừng đầy sức gợi cảm đến ánh sáng ban ngày đã mất tích lâu ngày.”
Chỉ có bàn tay và cánh tay nằm ở đó; hoàn toàn không có thân thể. Sau khi được đưa ra khỏi lớp băng, sắc da nhanh chóng phai nhạt và những chiếc móng tay hồng hào chuyển sang sắc màu alabaster (trắng ngà) của sự chết chóc. Đây là bàn tay phải thứ ba được tìm thấy; do đó, cả ba người đàn ông thiệt mạng đều đã được quy tụ đầy đủ, vượt qua mọi sự nghi ngờ hay tranh cãi.
Tiến sĩ Hamel là quý tộc người Nga trong nhóm thực hiện chuyến leo núi vào thời điểm xảy ra thảm kịch nổi tiếng ấy. Ông đã rời Chamonix ngay khi có thể sau chuyến xuống núi; và vì ông đã thể hiện một thái độ thờ ơ lạnh lùng trước tai họa, không hề đưa ra chút sự đồng cảm hay hỗ trợ nào cho những người góa bụa và trẻ mồ côi, ông đã mang theo sự nguyền rủa cay đắng của toàn bộ cộng đồng dân cư nơi đây. Bốn tháng trước khi những di hài đầu tiên được tìm thấy, một hướng dẫn viên người Chamonix tên là Balmat – họ hàng của một trong những nạn nhân – đang ở London, và một hôm nọ đã tình cờ gặp một ông cụ tráng kiện tại Bảo tàng Anh, người đã lên tiếng:
“Tôi vô tình nghe thấy tên anh. Anh đến từ Chamonix phải không, thưa ngài Balmat?”
“Vâng, thưa ngài.”
“Họ đã tìm thấy thi thể của ba người hướng dẫn viên của tôi chưa? Tôi là Tiến sĩ Hamel đây.”
“Thưa ngài, rất tiếc là chưa ạ.”
“Ồ, rồi các anh cũng sẽ tìm thấy họ sớm muộn gì thôi.”
“Vâng, đó cũng là nhận định của Tiến sĩ Forbes và ông Tyndall, rằng sông băng trước sau gì cũng sẽ trả lại cho chúng ta di hài của những nạn nhân bất hạnh.”
“Chắc chắn rồi, chắc chắn rồi. Và đó sẽ là một điều tuyệt vời cho Chamonix trong việc thu hút khách du lịch đấy. Các anh có thể dựng lên một bảo tàng với những di hài đó, đảm bảo sẽ hút khách cực kỳ!”
Ý tưởng tàn nhẫn này đã không tài nào vớt vát lại được chút tiếng tăm nào cho Tiến sĩ Hamel ở Chamonix. Dù sao đi nữa, gã đó vẫn rất nhạy bén về bản chất con người. Ý tưởng của ông ta đã được truyền đạt tới các quan chức công quyền của Chamonix, và họ đã nghiêm túc thảo luận về nó quanh chiếc bàn hội đồng chính quyền. Họ chỉ bị ngăn cản không cho thực hiện ý đồ đó bởi sự phản đối quyết liệt từ bạn bè và hậu duệ của những người hướng dẫn viên mất tích, những người khăng khăng đòi tổ chức tang lễ theo nghi thức Thiên Chúa giáo cho các di hài, và cuối cùng họ đã thành công trong mục đích của mình.

Một sự giám sát chặt chẽ đã phải duy trì đối với tất cả những tàn tích và mảnh vụn đáng thương ấy để ngăn chặn tình trạng biển thủ. Một vài món đồ vặt vãnh đi kèm đã được đem bán. Những mảnh giẻ rách và vụn vải từ bộ quần áo thô kệch được bán với mức giá tương đương khoảng hai mươi đô la một yard; một mảnh đèn lồng và một hai món đồ lặt vặt khác có giá trị gần tương đương với trọng lượng vàng của chúng; và một người Anh đã ngỏ ý trả hẳn một bảng Anh chỉ cho một chiếc khuy quần duy nhất.