Những Kẻ Lang Thang Du Khảo

Lượt đọc: 77 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tôi Làm Làm Chứng Nhân Trong Một Trận Đấu Gươm Kinh Hoàng Của Gambetta

❊ ❊ ❊

Dù những trận đấu tay đôi kiểu Pháp thời hiện đại hay bị một số kẻ ranh mãnh châm biếm, thì trên thực tế, đó lại là một trong những thể chế nguy hiểm nhất thời đại chúng ta. Vì chúng luôn được tiến hành ở ngoài trời, các đấu sĩ gần như chắc chắn sẽ bị cảm lạnh. M. Paul de Cassagnac, kẻ ngoan cố nhất trong số các đấu sĩ Pháp, đã phải chịu đựng điều này thường xuyên đến mức cuối cùng lão đã trở thành một bệnh nhân kinh niên; và vị bác sĩ giỏi nhất ở Paris từng bày tỏ quan điểm rằng nếu lão tiếp tục đấu tay đôi thêm mười lăm hay hai mươi năm nữa — trừ khi lão tạo được thói quen chiến đấu trong một căn phòng ấm cúng nơi hơi ẩm và gió lùa không thể len lỏi vào — cuối cùng lão sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng của mình. Điều này lẽ ra phải làm giảm bớt những lời bàn tán của những kẻ cứ khăng khăng cho rằng đấu tay đôi kiểu Pháp là hình thức giải trí bổ dưỡng nhất cho sức khỏe nhờ các bài tập thể dục ngoài trời mà nó mang lại. Và nó cũng nên dập tắt những lời bàn nhảm nhí về việc các đấu sĩ Pháp và những vị quân chủ bị tầng lớp xã hội chủ nghĩa căm ghét là những người duy nhất bất tử.

Nhưng đã đến lúc tôi phải đi vào chủ đề chính của mình. Ngay khi nghe tin về cuộc đụng độ nảy lửa gần đây giữa M. Gambetta và M. Fourtou tại Quốc hội Pháp, tôi đã biết rắc rối chắc chắn sẽ xảy ra. Tôi biết điều đó bởi vì tình bạn lâu năm mang tính cá nhân với M. Gambetta đã cho tôi thấy bản chất tuyệt vọng và không thể lay chuyển của con người ấy. Dù vóc dáng thể chất của ông ấy có vĩ đại đến đâu, tôi biết rằng cơn khát trả thù sẽ len lỏi đến tận những vùng xa xôi nhất trên cơ thể ông.

Tôi không đợi ông ấy gọi mình, mà lập tức đến gặp ông. Đúng như tôi dự đoán, tôi tìm thấy anh chàng dũng cảm ấy đang chìm đắm trong một sự tĩnh lặng sâu sắc đậm chất Pháp. Tôi nói là tĩnh lặng kiểu Pháp, bởi vì sự tĩnh lặng kiểu Pháp và sự tĩnh lặng kiểu Anh có những điểm khác biệt.

Ông đang đi đi lại lại thật nhanh giữa những mảnh đồ đạc đổ nát, thỉnh thoảng lại dùng chân đá văng những mảnh vỡ tình cờ sang một góc phòng; nghiến răng kèn kẹt tuôn ra một tràng chửi rủa; và cứ cách một lát lại dừng lại để bỏ thêm một nhúm tóc vào cái đống tóc mà ông đã chất sẵn trên bàn.

Ông ôm chầm lấy cổ tôi, ép người tôi cong gập từ vùng bụng vào ngực ông, hôn lên cả hai má tôi, ôm siết lấy tôi bốn năm lần, rồi đặt tôi ngồi vào chiếc bọc bành của chính ông. Ngay khi tôi hoàn hồn trở lại, chúng tôi lập tức bắt tay vào công việc.

Tôi bảo rằng tôi đoán ông muốn tôi làm người làm chứng thứ hai cho mình, và ông đáp, “Đương nhiên rồi.” Tôi nói tôi phải được phép dùng một cái tên Pháp, để tôi có thể tránh được những lời sỉ nhúc ở quê nhà, lỡ như có kết quả chí mạng xảy ra. Ông khẽ nhăn mặt trước câu nói này, có lẽ vì gợi ý cho thấy đấu tay đôi không được tôn trọng ở Mỹ. Tuy nhiên, ông vẫn đồng ý với yêu cầu của tôi. Điều này giải thích tại sao trong tất cả các bản tin báo chí, người làm chứng thứ hai của M. Gambetta lại có vẻ là một người Pháp.

Đầu tiên, chúng tôi thảo di chúc cho thân chủ của tôi. Tôi đã khăng khăng đòi việc này và giữ vững lập trường của mình. Tôi nói tôi chưa từng nghe về một người có tinh thần minh mẫn nào lại đi đấu tay đôi mà không lập di chúc trước. Ông bảo ông chưa bao giờ nghe về một người bình thường nào lại làm một việc như thế cả. Khi đã viết xong bản di chúc, ông muốn chuyển sang việc lựa chọn những “lời trăn trối cuối cùng.” Ông muốn biết những lời sau đây, dùng làm lời thốt lên lúc lâm chung, gây ấn tượng với tôi ra sao:

“Tôi chết vì Chúa tôi, vì đất nước tôi, vì tự do ngôn luận, vì sự tiến bộ, và vì tình anh em phổ quát của nhân loại!”

Tôi phản đối rằng điều này sẽ đòi hỏi một cái chết quá kéo dài; đó là một bài phát biểu hay dành cho người mắc bệnh lao, chứ không phù hợp với những đòi hỏi khắt khe của chiến trường danh dự. Chúng tôi cãi nhau về khá nhiều câu nói bộc phát trước khi chết, nhưng cuối cùng tôi cũng ép được ông cắt giảm bản cáo phó của mình xuống còn câu này, và ông đã chép nó vào sổ tay, với ý định học thuộc lòng:

“TÔI CHẾT ĐỂ NƯỚC PHÁP ĐƯỢC SỐNG.”

Tôi nhận xét rằng câu nói này có vẻ thiếu sự liên quan; nhưng ông bảo sự liên quan chẳng có ý nghĩa gì trong những lời cuối cùng, cái bạn cần là sự giật gân.

Việc tiếp theo cần làm là lựa chọn vũ khí. Thân chủ của tôi bảo ông đang cảm thấy không khỏe, và sẽ để việc đó cùng các chi tiết khác của cuộc gặp mặt sắp tới cho tôi lo. Thế nên tôi đã viết bức thư sau và mang nó đến cho bạn của M. Fourtou:

Thưa ngài: M. Gambetta chấp nhận lời thách đấu của M. Fourtou, và ủy quyền cho tôi đề xuất Plessis-Piquet làm địa điểm gặp mặt; thời gian là vào sáng mai lúc bình minh; và vũ khí là rìu.

Kính thư ngài, với sự tôn trọng sâu sắc,

Mark Twain.

Bạn của M. Fourtou đọc bức thư này và rùng mình. Sau đó, hắn quay sang tôi, và nói với giọng điệu có vẻ nghiêm khắc:

“Thưa ngài, ngài đã cân nhắc hậu quả không thể tránh khỏi của một cuộc gặp gỡ như thế này chưa?”

“Chà, ví dụ như nó sẽ thế nào?”

“Đổ máu!”

“Đại loại là thế,” tôi nói. “Giờ thì, nếu đây là một câu hỏi công bằng, phía các anh định đổ thứ gì?”

Tôi đã bắt bẻ được hắn. Hắn thấy mình đã mắc sai lầm, nên vội vàng tìm cách chữa cháy. Hắn bảo hắn vừa nói đùa đấy thôi. Rồi hắn nói thêm rằng hắn và thân chủ của mình rất hào hứng với món rìu, và thực ra là rất thích chúng, nhưng những thứ vũ khí đó bị bộ luật đấu tay đôi của Pháp cấm, thế nên tôi phải đổi đề xuất khác.

Tôi đi đi lại lại trong phòng, nghiền ngẫm sự việc trong đầu, và cuối cùng tôi nảy ra ý định rằng dùng súng Gatling ở cự ly mười lăm bước chân sẽ là một cách hay ho để đưa ra phán quyết trên chiến trường danh dự. Thế nên tôi đã biến ý tưởng này thành một lời đề nghị.

Nhưng nó không được chấp nhận. Bộ luật ấy lại ngáng đường. Tôi đề xuất súng trường; rồi súng săn hai nòng; rồi súng lục ổ quay hải quân Colt. Sau khi tất cả những thứ này bị bác bỏ, tôi ngẫm nghĩ một lúc, và mỉa mai đề xuất ném gạch ở khoảng cách ba phần tư dặm. Tôi luôn ghét việc lãng phí một thứ hài hước cho một kẻ chẳng có khiếu hài hước chút nào; và điều đó làm tôi vô cùng cay đắng khi gã này lầm lì bỏ đi để đệ trình lời đề nghị cuối cùng lên thân chủ của hắn.

Lát sau hắn quay lại và nói thân chủ của hắn rất mê ý tưởng ném gạch ở khoảng cách ba phần tư dặm, nhưng đành phải từ chối vì sợ gây nguy hiểm cho những người ngoài cuộc đi ngang qua giữa họ. Khi ấy tôi liền nói:

“Chà, tôi hết cách rồi đấy. Có lẽ ngài sẽ làm ơn gợi ý một loại vũ khí nào đó chứ? Hay là từ nãy đến giờ ngài vẫn luôn ấp ủ sẵn một thứ trong đầu?”

Vẻ mặt hắn sáng lên, và hắn nhanh nhẩu nói:

“Ồ, chắc chắn rồi, thưa ngài!”

Thế là hắn bắt đầu lục lọi trong các túi áo — hết túi này đến túi khác, mà hắn thì có rất nhiều túi — miệng lầm bầm suốt, “Mình đã để chúng ở đâu nhỉ?”

Cuối cùng hắn đã thành công. Hắn lôi ra từ túi áo ghi-lê một cặp đồ vật nhỏ xíu mà tôi mang ra chỗ có ánh sáng và xác định đó là những cây súng lục. Chúng là loại súng một nòng, cẩn bạc, trông rất tinh xảo và xinh xắn. Tôi nghẹn ngào không nói nên lời vì xúc động. Tôi lặng lẽ treo một khẩu lên dây đồng hồ của mình, và trả lại khẩu kia. Kẻ đồng lõa tội phạm của tôi lúc này mới giở ra một con tem bưu chính đựng vài viên đạn, và đưa cho tôi một viên. Tôi hỏi có phải ý hắn là qua đó, những người của chúng ta sẽ chỉ được phép bắn đúng một phát duy nhất hay không. Hắn đáp rằng bộ luật Pháp không cho phép hơn thế. Tôi bấy giờ mới nài nỉ hắn đi gợi ý một khoảng cách, vì tâm trí tôi đang dần trở nên suy nhược và rối bời dưới sức ép bị dồn nén vừa qua. Hắn nêu con số sáu mươi lăm thước. Tôi suýt mất kiên nhẫn. Tôi nói:

“Sáu mươi lăm thước, với những món đồ chơi này á? Súng nước bắn ở cự ly năm mươi thước còn có sát thương cao hơn. Hãy suy nghĩ đi bạn tôi ơi, anh và tôi liên kết với nhau để tước đoạt sinh mạng, chứ có phải để làm cho nó trường tồn đâu.”

Nhưng mặc cho mọi lời nài nỉ, mọi lý lẽ của tôi, tôi chỉ có thể khiến hắn chịu giảm khoảng cách xuống còn ba mươi lăm thước; và ngay cả sự nhượng bộ này cũng được hắn đưa ra một cách miễn cưỡng, kèm theo tiếng thở dài, “Tôi rửa tay gác kiếm trước vụ tàn sát này; mọi tội lỗi cứ đổ lên đầu anh.”

Tôi chẳng còn cách nào khác ngoài việc trở về với con sư tử dũng mãnh của mình và kể lại câu chuyện đầy nhục nhã ấy. Khi tôi bước vào, M. Gambetta đang đặt lọn tóc cuối cùng của mình lên bàn thờ. Ông lao về phía tôi, thốt lên:

“Anh đã dàn xếp xong xuôi những thỏa thuận chí mạng rồi — tôi nhìn thấy điều đó trong mắt anh!”

“Tôi đã xong.”

Khuôn mặt ông tái đi đôi chút, và ông vịnh lấy chiếc bàn để trụ vững. Ông thở khò khè và nặng nhọc trong một hai phút, cảm xúc trong lòng thật quá đỗi ba đào; rồi ông thì thào bằng giọng khàn đặc:

“Vũ khí, vũ khí đâu! Nhanh lên! Vũ khí là gì?”

“Đây!” và tôi giơ vật cẩn bạc đó ra. Ông chỉ liếc nhìn nó một cái, rồi ngã vật xuống sàn nhà với sức nặng ngồn ngộn.

Khi tỉnh lại, ông buồn bã nói:

“Sự tĩnh lặng phi tự nhiên mà tôi tự ép mình chịu đựng đã ảnh hưởng đến thần kinh của tôi. Nhưng dẹp bỏ sự yếu đuối đi! Tôi sẽ đối mặt với định mệnh của mình như một người đàn ông và một công dân Pháp.”

Ông đứng bật dậy, và tạo một tư thế mà về độ vĩ đại chưa từng có ai sánh kịp, và hiếm khi có bức tượng nào vượt qua được. Rồi ông cất giọng trầm ấm vang lên:

“Kìa, tôi đã bình tĩnh, tôi đã sẵn sàng; hãy tiết lộ cho tôi khoảng cách đi.”

“Ba mươi lăm thước.” ...

Tất nhiên tôi không thể đỡ ông dậy nổi; nhưng tôi lật người ông lại, và dội nước lên lưng ông. Chẳng mấy chốc ông tỉnh lại, và nói:

“Ba mươi lăm thước — mà không có điểm tựa ư? Nhưng sao phải hỏi nữa? Vì mưu sát vốn là ý đồ của gã đó, sao hắn phải đôi co với những chi tiết vụn vặt làm gì? Nhưng hãy khắc ghi một điều này: trong cú ngã của tôi, thế giới sẽ thấy hiệp sĩ tính của nước Pháp đối mặt với cái chết ra sao.”

Sau một hồi im lặng kéo dài, ông hỏi:

“Không có câu chuyện nào về việc gia đình của gã đó đứng cùng hắn ta, như một sự bù trừ cho vóc dáng đồ sộ của tôi sao? Nhưng thôi kệ; tôi sẽ không hạ mình đưa ra một gợi ý như thế; nếu hắn không đủ cao thượng để tự mình đề xuất điều đó, thì hắn cứ việc nhận lấy lợi thế này, thứ mà không một người đàn ông danh dự nào lại đi chiếm đoạt.”

Giờ đây ông chìm vào một trạng thái ngây dại vì trầm ngâm, kéo dài vài phút; sau đó ông phá vỡ sự im lặng bằng câu hỏi:

“Giờ giấc — mấy giờ là giờ được ấn định cho cuộc chạm trán?”

“Bình minh, ngày mai.”

Ông có vẻ vô cùng ngạc nhiên, và lập tức nói ngay:

“Điên rồ! Tôi chưa từng nghe chuyện kỳ quặc thế bao giờ. Chẳng có ai ra đường vào giờ đó cả.”

“Đó là lý do tôi chọn nó. Ý ngài là ngài muốn có khán giả đấy à?”

“Bây giờ không phải lúc để đôi co chữ nghĩa. Tôi lấy làm ngạc nhiên khi M. Fourtou lại có thể đồng ý với một sự đổi mới kỳ lạ đến thế. Hãy đi ngay và yêu cầu dời lại muộn hơn.”

Tôi chạy ào xuống lầu, giật tung cửa trước, và suýt lao thẳng vào vòng tay của người làm chứng bên phía M. Fourtou. Hắn nói:

“Tôi rất vinh hạnh được thông báo rằng thân chủ của tôi kịch liệt phản đối khung giờ đã chọn, và khẩn khoản xin ngài đồng ý đổi sang chín giờ rưỡi.”

“Bất kỳ sự nhượng bộ lịch sự nào mà chúng tôi có thể đáp ứng đều sẵn sàng phục vụ vị thân chủ xuất sắc của các anh. Chúng tôi đồng ý với thay đổi về thời gian được đề xuất.”

“Xin ngài hãy nhận cho lời cảm ơn từ khách hàng của tôi.” Sau đó hắn quay sang một người đứng đằng sau, và nói, “Ngài nghe thấy chưa, M. Noir, giờ đã được đổi thành chín giờ rưỡi.” Ngay lập tức M. Noir cúi đầu chào, bày tỏ lòng biết ơn, rồi bỏ đi. Đồng phạm của tôi tiếp tục nói:

“Nếu ngài thấy thuận tiện, các bác sĩ trưởng của bên ngài và bên chúng tôi sẽ cùng di chuyển ra chiến trường trên một chiếc xe ngựa như lệ thường.”

“Tôi hoàn toàn thấy thuận tiện, và rất cảm ơn ngài đã nhắc đến các bác sĩ, vì suýt chút nữa tôi đã quên bén họ rồi. Tôi sẽ cần bao nhiêu người? Tôi đoán hai hoặc ba người là đủ chứ?”

“Số lượng thông thường cho mỗi bên là hai người. Tôi đang nói đến các bác sĩ ‘trưởng’; nhưng xét đến vị trí cao quý mà khách hàng của chúng ta đang nắm giữ, sẽ là chu đáo và phải phép nếu mỗi người chúng ta chỉ định thêm vài vị bác sĩ hội chẩn, thuộc hàng ưu tú nhất trong nghề. Họ sẽ đến trên những cỗ xe ngựa riêng của mình. Ngài đã thuê xe tang chưa?”

“Ôi cái sự ngu ngốc của tôi, tôi chưa hề nghĩ đến nó! Tôi sẽ lo việc đó ngay lập tức. Chắc ngài thấy tôi vô tri lắm; nhưng mong ngài rộng lòng châm chước, bởi vì trước giờ tôi chưa từng có kinh nghiệm về một trận đấu tay đôi đình đám thế này. Tôi từng giải quyết khá nhiều vụ đấu tay đôi ở vùng Bờ Biển Thái Bình Dương, nhưng giờ tôi mới thấy chúng chỉ là những thứ thô thiển. Xe tang — xời! Hồi đó chúng tôi toàn vứt những kẻ được chọn nằm la liệt ra đấy, rồi mặc kệ ai muốn gom xác khâu vá hay hốt đi đâu thì hốt. Ngài còn có gợi ý gì nữa không?”

“Không có gì, ngoại trừ việc các chủ tang lễ trưởng sẽ đi cùng xe với nhau, như thường lệ. Các cấp dưới và người đưa tang sẽ đi bộ, cũng như lệ thường. Tôi sẽ gặp ngài vào lúc tám giờ sáng mai, và khi đó chúng tôi sẽ sắp xếp thứ tự của đoàn diễu hành. Tôi xin vinh hạnh được chúc ngài một ngày tốt lành.”

Tôi quay lại với thân chủ của mình, người cất tiếng hỏi, “Rất tốt; vậy mấy giờ cuộc giao tranh sẽ bắt đầu?”

“Chín giờ rưỡi.”

“Quá tốt. Ngài đã gửi thông tin này cho các tòa soạn báo chưa?”

“Thưa ngài! Nếu sau tình bạn lâu năm và thân thiết của chúng ta mà ngài lại có thể dù chỉ một khoảnh khắc coi tôi là kẻ có khả năng thực hiện một hành động phản bội đê hèn nhường ấy—”

“Thôi, thôi! Nói năng kiểu gì thế, bạn hiền của tôi? Tôi đã làm tổn thương ngài sao? À, xin hãy tha thứ cho tôi; tôi đang bắt ngài gánh quá nhiều việc rồi. Thế nên cứ tiếp tục lo các chi tiết khác đi, và gạt việc này ra khỏi danh sách của ngài. Tên Fourtou cuồng sát kia chắc chắn sẽ lo việc đó thôi. Hoặc chính tôi — phải rồi, để chắc ăn, tôi sẽ viết mộth bức thư nhỏ gửi người bạn làm báo của mình là M. Noir—”

“Ôi, tính ra thì ngài có thể đỡ mất công rồi đấy; vị làm chứng bên kia đã thông báo cho M. Noir rồi.”

“Hừ! Lẽ ra tôi phải đoán được chứ. Đúng cái kiểu của gã Fourtou đó, lúc nào cũng muốn làm màu.”

Vào lúc chín giờ rưỡi sáng, đoàn diễu hành tiến về chiến trường Plessis-Piquet theo thứ tự như sau: đi đầu là cỗ xe của chúng tôi — bên trong chẳng có ai ngoài M. Gambetta và tôi; tiếp theo là cỗ xe chở M. Fourtou và người làm chứng của hắn; rồi đến cỗ xe chở hai nhà thơ kiêm diễn giả không tin vào Chúa, và ngực áo họ lộ ra những bản thảo diễn văn điếu tang; kế đó là cỗ xe chở các bác sĩ trưởng và hộp đựng dụng cụ của họ; tám cỗ xe riêng chở các bác sĩ hội chẩn; một chiếc xe hackney chở một viên quan tòa điều tra án tử; hai chiếc xe tang; một cỗ xe chở các chủ tang lễ trưởng; tiếp theo là một đoàn phụ tá và người đưa tang đi bộ; và sau những người này là một đoàn dài những kẻ bám gót quân đội, cảnh sát, và người dân nói chung đang lê bước giữa làn sương mù. Đó là một sự đón tiếp hoành tráng, và sẽ tạo ra một màn trình diễn tuyệt đẹp nếu thời tiết bớt sương mù hơn.

Chẳng có cuộc trò chuyện nào diễn ra cả. Tôi đã nói chuyện với thân chủ của mình vài lần, nhưng tôi đoán ông ấy không hề hay biết, bởi vì ông cứ lật sổ tay và lẩm bẩm một cách đãng trí, “Tôi chết để nước Pháp được sống.”

Khi đến nơi, tôi và vị đồng nghiệp làm chứng bước đo đủ ba mươi lăm thước, rồi bốc thăm để chọn vị trí. Lễ bốc thăm này chỉ mang tính chất hình thức trang trí mà thôi, bởi vì trong kiểu thời tiết thế này thì chọn chỗ nào cũng như nhau cả. Những màn dạo đầu này kết thúc, tôi tiến đến chỗ thân chủ và hỏi ông đã sẵn sàng chưa. Ông ưỡn ngực hết cỡ, và nói bằng giọng nghiêm nghị, “Sẵn sàng! Hãy nạp đạn cho các khẩu pháo.”

Quá trình nạp đạn được thực hiện dưới sự chứng kiến của các nhân chứng chính thức hợp pháp. Chúng tôi xét thấy tốt nhất nên tiến hành công việc tinh tế này với sự hỗ trợ của một chiếc đèn lồng, vì tình hình thời tiết lúc bấy giờ. Giờ thì chúng tôi đã bố trí vị trí cho các đấu sĩ.

Đúng lúc này, cảnh sát nhận thấy đám đông công chúng đã tụ tập đông đúc ở bên phải và bên trái chiến trường; vì vậy họ khẩn khoản xin hoãn lại một chút để đưa những tội nghiệp ấy đến nơi an toàn.

Yêu cầu đã được chấp thuận.

Sau khi cảnh sát ra lệnh cho hai đám đông đứng vào vị trí phía sau các đấu sĩ, chúng tôi lại sẵn sàng một lần nữa. Do thời tiết ngày càng đặc quánh sương mù, tôi và vị làm chứng bên kia đã thỏa thuận rằng trước khi phát tín hiệu chí mạng, mỗi người chúng tôi sẽ hô thật to một tiếng để giúp các đấu sĩ xác định vị trí của đối phương.

Bấy giờ tôi quay lại với thân chủ của mình, và vô cùng phiền lòng khi nhận ra ông đã mất đi kha khá tinh thần chiến đấu. Tôi cố hết sức để xốc lại tinh thần cho ông. Tôi nói, “Thật đấy thưa ngài, mọi chuyện không đến nỗi tệ như ngài tưởng đâu. Xét về đặc điểm của vũ khí, số lượng phát đạn bị giới hạn, khoảng cách hào phóng, màn sương mù dày đặc không thể xuyên thủng, cộng thêm thực tế là một đấu sĩ bị chột mắt còn người kia thì lé và cận nặng, tôi thiết nghĩ cuộc đụng độ này không nhất thiết phải dẫn đến chết chóc đâu. Vẫn có cơ hội để cả hai ngài đều sống sót. Thế nên, hãy phấn khởi lên; đừng có chán nản thế chứ.”

Bài phát biểu này mang lại hiệu quả tốt đến mức thân chủ của tôi lập tức giơ tay ra và nói, “Tôi đã tìm lại chính mình rồi; đưa vũ khí đây cho tôi.”

Tôi đặt nó — cô độc và tủi thân làm sao — vào chính giữa lòng bàn tay rộng lớn mênh mông của ông. Ông đăm đăm nhìn nó và rùng mình. Và vẫn tiếp tục ngắm nghía nó với vẻ đau buồn, ông lẩm bẩm bằng giọng nghẹn ngào:

“Than ôi, thứ tôi sợ không phải là cái chết, mà là sự tàn phế.”

Tôi lại xốc lại tinh thần cho ông một lần nữa, và thành công đến mức chẳng mấy chốc ông đã thốt lên, “Hãy bắt đầu bi kịch này đi. Hãy đứng ở sau lưng tôi; đừng bỏ rơi tôi trong giờ phút trang nghiêm này, người bạn của tôi.”

Tôi hứa với ông. Giờ thì tôi giúp ông chĩa khẩu súng lục về hướng mà tôi phán đoán đối phương đang đứng, đồng thời nhắc nhở ông hãy lắng nghe thật kỹ và tiếp tục định hướng bản thân dựa vào tiếng hô của người làm chứng bên kia. Sau đó, tôi tựa lưng vào người M. Gambetta, và cất giọng hô thật vang dội: “Hô-ê!” Tiếng hô được đáp lại từ cõi xa xăm trong màn sương mù, và tôi lập tức thét lớn:

“Một — hai — ba — BẮN!”

Hai âm thanh nhỏ xíu tựa tiếng phì! phì! vang lên bên tai tôi, và ngay khoảnh khắc đó, tôi bị nghiền nát xuống mặt đất dưới một quả núi thịt. Dù bầm dập khắp người, tôi vẫn kịp thu được một âm điệu yếu ớt từ phía trên vọng xuống, đại loại thế này:

“Tôi chết vì... vì... quái quỷ thật, mình chết vì cái gì ấy nhỉ?... ồ, đúng rồi — vì nước Pháp! Tôi chết để nước Pháp được sống!”

Các bác sĩ túa ra với những chiếc que dò trong tay, và áp kính hiển vi lên toàn bộ cơ thể M. Gambetta, với kết quả vô cùng mãn nguyện là chẳng tìm thấy bất kỳ dấu vết nào có tính chất của một vết thương cả. Sau đó, một cảnh tượng diễn ra thật đáng hoan nghênh và phấn khởi theo mọi nghĩa.

Hai võ sĩ giác đấu lao vào cổ nhau, đầm đìa những giọt nước mắt kiêu hãnh và hạnh phúc; vị làm chứng bên kia ôm lấy tôi; các bác sĩ, các nhà diễn giả, những người mai táng, cảnh sát, tất cả mọi người ôm lấy nhau, tất cả chúc mừng nhau, tất cả khóc lóc, và bầu không khí tràn ngập những lời tán dương cùng niềm vui sướng không thể diễn tả bằng lời.

Lúc đó tôi chợt nghĩ rằng mình thà làm anh hùng trong một trận đấu tay đôi kiểu Pháp còn hơn làm một vị vua đội vương miện và cầm quyền trượng.

Khi sự náo loạn đã lắng xuống phần nào, hội đồng bác sĩ đã tiến hành hội chẩn, và sau một hồi tranh luận sôi nổi, họ quyết định rằng nếu được chăm sóc và điều dưỡng đúng cách, có lý do để tin rằng tôi sẽ sống sót sau những thương tích của mình. Những tổn thương bên trong của tôi được coi là nghiêm trọng nhất, vì rõ ràng là một chiếc xương sườn bị gãy đã đâm thủng phổi trái của tôi, và rất nhiều nội tạng của tôi đã bị ép lệch sang một bên đến mức người ta nghi ngờ liệu chúng có bao giờ học được cách thực hiện chức năng của mình ở những vị trí xa xôi và lạ lẫm như vậy hay không. Sau đó, họ nẹp cánh tay trái của tôi ở hai chỗ, nắn xương hông phải của tôi trở lại khớp, và kéo chiếc mũi của tôi cao trở lại. Tôi trở thành tâm điểm của sự chú ý lớn, thậm chí là sự ngưỡng mộ; và rất nhiều người chân thành, ấm áp đã nhờ người giới thiệu với tôi, nói rằng họ rất tự hào được quen biết người đàn ông duy nhất bị thương trong một trận đấu tay đôi kiểu Pháp suốt bốn mươi năm qua.

Tôi được đặt lên một chiếc xe cứu thương ngay đầu đoàn diễu hành; và cứ thế với niềm vinh hạnh rạng rỡ, tôi được rước vào Paris, nhân vật nổi bật nhất trong đại tiệc hoành tráng đó, và được đưa thẳng đến bệnh viện.

Huân chương Bắc Đẩu Bội Sôi đã được trao cho tôi. Tuy nhiên, ít ai có thể thoát khỏi vinh dự đó.

Đó là phiên bản chân thực nhất về cuộc xung đột cá nhân đáng nhớ nhất thời đại.

Tôi chẳng có lời phàn nàn nào với bất kỳ ai cả. Tôi tự hành động vì chính mình, và tôi có thể tự gánh chịu hậu quả.

Nói không phải khoe khoang, tôi nghĩ mình có thể nói rằng tôi không sợ phải đứng trước một đấu sĩ Pháp hiện đại, nhưng chừng nào tôi còn giữ được sự minh mẫn, tôi sẽ không bao giờ đồng ý đứng sau lưng một kẻ nào như thế nữa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.