Một hôm, chúng tôi bắt tàu xuống Mannheim để xem vở “King Lear” diễn bằng tiếng Đức. Đó là một quyết định sai lầm. Chúng tôi ngồi liền ba tiếng đồng hồ trong rạp mà chẳng hiểu gì sất ngoài tiếng sấm sét; thậm chí ngay cả hiện tượng ấy cũng bị đảo ngược cho phù hợp với quan niệm của người Đức, khi tiếng sấm vang lên trước rồi ánh chớp mới lóe theo sau.
Cách cư xử của khán giả thật hoàn hảo. Không có tiếng xào xạc, xì xào hay bất kỳ sự quấy rầy nhỏ nhặt nào khác; mỗi màn kịch được lắng nghe trong sự im lặng tuyệt đối, và những tràng pháo tay chỉ vang lên sau khi tấm màn nhung đã hạ xuống. Cửa rạp mở lúc bốn giờ rưỡi, vở kịch bắt đầu đúng năm giờ rưỡi, và chỉ trong vòng hai phút sau đó, tất cả những ai đến xem đã ngồi vào chỗ của mình, sự yên tĩnh bao trùm. Một quý ông người Đức trên chuyến tàu đã bảo rằng các vở kịch của Shakespeare là một món ăn tinh thần được đón nhận nồng nhiệt ở Đức và chúng tôi sẽ thấy rạp hát chật kín chỗ. Quả thực là vậy; cả sáu tầng ghế đều kín chỗ, và tình trạng ấy duy trì cho đến tận phút cuối — điều đó cho thấy không chỉ những khán giả ở tầng ban-công mới yêu thích Shakespeare tại Đức, mà cả những người ở tầng dưới lẫn tầng trên chót vót cũng vậy.
Một bận khác, chúng tôi lại đến Mannheim để tham dự một buổi “shivaree” — nói đúng hơn là một buổi biểu diễn opera — vở có tựa đề là “Lohengrin”. Tiếng đập, tiếng sập, tiếng bùng nổ và tiếng va chạm chói tai thực sự vượt ngoài sức tưởng tượng. Nỗi đau đớn hành hạ và nhức nhối đến tận xương tủy ấy vẫn lưu cữ trong ký ức tôi, sánh ngang với ký ức về quãng thời gian tôi đi chữa răng.

Có những hoàn cảnh buộc tôi phải ngồi lại suốt bốn tiếng đồng hồ cho đến tận đoạn kết, và tôi đã ở lại; nhưng hồi ức về khoảng thời gian chịu đựng dài dằng dặc, lê thê và tàn nhẫn ấy thì thật không thể nào phai mờ. Phải nhẫn nhịn chịu đựng trong im lặng và cứ ngồi lì một chỗ lại càng làm cho thử thách ấy thêm phần cay đắng. Tôi bị nhốt trong một khoang ghế có rào chắn cùng với tám hoặc mười người lạ mặt đủ cả nam lẫn nữ, và điều này buộc tôi phải kìm nén; thế nhưng có những lúc nỗi đau lớn đến mức tôi suýt không kìm được giọt nước mắt.

Những lúc ấy, khi tiếng gào thét, khóc lóc và ré lên của các ca sĩ, cùng với tiếng giận dữ, gầm rú và nổ tung của dàn nhạc khổng lồ ngày một dâng cao hơn, hoang dại hơn và dữ dội hơn, tôi hẳn đã oà khóc nếu chỉ có một mình. Những người xa lạ kia chắc sẽ chẳng lấy gì làm ngạc nhiên khi thấy một người bật khóc vì đang bị lột da từ từ, nhưng ở đây họ hẳn sẽ trố mắt kinh ngạc và buông lời bàn tán, trong khi tình cảnh của tôi lúc bấy giờ chẳng có điểm nào khá khẩm hơn việc bị lột da là mấy.

Có một khoảng nghỉ nửa tiếng sau khi màn thứ nhất kết thúc, và tôi đã có thể bước ra ngoài để nghỉ ngơi trong quãng thời gian đó, nhưng tôi không dám mạo hiểm làm vậy, bởi tôi cảm thấy nếu đã bước ra thì tôi sẽ trốn luôn chứ không thèm quay lại. Lại có thêm một khoảng nghỉ nửa tiếng nữa vào khoảng chín giờ, nhưng lúc đó tôi đã phải trải qua quá nhiều đày đọa đến mức chẳng còn chút tinh thần nào sót lại, và vì thế chẳng tha thiết gì hơn ngoài việc được để yên cho mặc kệ.

Tôi không có ý cho rằng những người còn lại trong rạp cũng giống như mình, bởi thực sự họ chẳng hề như vậy. Không biết là do họ bẩm sinh đã thích thứ âm thanh ấy, hay do đã quen tai nên đâm ra thích, lúc đó tôi không rõ; nhưng quả thực là họ thích — điều đó rành rành ra đấy. Trong suốt thời gian buổi diễn diễn ra, họ ngồi đó với vẻ mặt say sưa và biết ơn như những chú mèo được vuốt ve bộ lông; và bất cứ khi nào tấm màn rũ xuống, họ lại đồng loạt đứng bật dậy như một khối đại đoàn kết hùng mạnh, không khí ngập tràn những chiếc khăn tay vẫy rợp trời, và những cơn bão pháo tay quét qua cả khán phòng. Điều này vượt quá sự hiểu biết của tôi. Dĩ nhiên, ở đó có rất nhiều người không bị bắt buộc phải ở lại; thế nhưng các tầng ghế vào lúc hạ màn vẫn đông đúc y như lúc khai mạc. Điều đó chứng tỏ mọi người thực sự yêu thích nó.
Đó là một loại hình kịch kỳ lạ. Về mặt phục trang và cảnh trí thì đủ tinh tế và lộng lẫy; nhưng lại có rất ít hành động diễn ra. Nghĩa là, chẳng có mấy việc thực sự được thực hiện trên sân khấu, mọi thứ chỉ được kể lể qua lời thoại; và lúc nào cũng với một giọng điệu đầy hung hăng. Đó là thứ mà người ta có thể gọi là một vở kịch tự sự. Ai nấy đều mang theo một câu chuyện kể và một nỗi ấm ức, và chẳng một ai tỏ ra ôn hòa trong cách thể hiện, tất cả đều rơi vào trạng thái công kích và không thể kìm chế. Rất ít những màn trình diễn quen thuộc kiểu như nam cao và nữ cao tiến ra sát mép sân khấu, cất giọng ca lảnh lót hòa quyện vào nhau, tay không ngừng đưa ra rồi kéo về, đặt cả hai tay lên ngực người này rồi lại chuyển sang ngực người kia kèm theo những cái run rẩy và nén chặt — không, ở đây mạnh ai nấy gào thét và chẳng có sự hòa quyện nào cả. Từng người một luân phiên ca lên khúc tự sự mang tính buộc tội của mình, được đệm đàn bởi toàn bộ dàn nhạc sáu mươi nhạc cụ, và khi điều này kéo dài được một lúc lâu và người ta đang hy vọng họ có thể đạt được tiếng nói chung để giảm bớt tiếng ồn đi, thì một dàn đồng ca khổng lồ gồm toàn những kẻ tâm thần bỗng nhiên cất lên, và thế là trong suốt hai phút, đôi khi là ba phút, tôi như được sống lại toàn bộ nỗi thống khổ từng trải qua trong vụ cháy trại mồ côi năm nào.

Chúng tôi chỉ có một khoảng thời gian ngắn ngủi tựa thiên đường, ngập tràn ngây ngất và bình yên ngọt ngào trong suốt chuỗi ngày tái hiện chốn địa ngục dài dòng, bền bỉ và đầy cay đắng kia. Đó là lúc một đoàn người lộng lẫy diễu hành vòng quanh sân khấu trong màn thứ ba và cất tiếng hát bài Hợp ca Ngày cưới. Đối với đôi tai chưa từng được luyện tập của tôi, đó là âm nhạc — một thứ âm nhạc gần như thần thánh. Trong khi tâm hồn bị thiêu đốt của tôi được tắm mình trong thứ dầu thơm chữa lành của những âm thanh êm dịu ấy, tôi có cảm giác mình sẵn sàng chịu đựng lại những nỗi thống khổ vừa qua để được chữa lành một lần nữa như thế. Đó chính là lúc sự thâm sâu đầy xảo quyệt của nghệ thuật opera bộc lộ. Nó khai thác quá nhiều nỗi đau đớn để rồi những niềm vui lẻ tẻ rải rác lại được khuếch đại lên gấp bội nhờ sự tương phản. Một giai điệu đẹp trong opera nghe lại càng đẹp hơn bất cứ nơi nào khác, tôi đoán vậy, giống như một người trung thực giữa chốn chính trường sẽ càng tỏa sáng hơn so với khi ở những nơi khác.
Về sau tôi mới nhận ra rằng chẳng có gì làm người Đức thích thú bằng opera. Họ yêu thích nó, không phải theo cách hời hợt, ôn hòa, mà bằng tất cả trái tim mình. Đây là kết quả tất yếu của thói quen và sự giáo dục. Quốc gia chúng ta rồi đây cũng sẽ yêu thích opera thôi, chắc chắn là như vậy. Trong số năm mươi người đến dự các buổi opera của chúng tôi, có lẽ đã có một người thực sự thích nó, nhưng tôi nghĩ phần lớn trong số bốn mươi chín người kia đến để học cách thích nó, và số còn lại đến để có thể bàn tán ra vẻ am hiểu về nó. Nhóm sau thường hay ngân nga theo giai điệu lúc chúng đang được hát, để những người ngồi cạnh có thể nhận ra rằng họ đã từng đi xem opera rồi. Đám tang của những kẻ này diễn ra chưa đủ thường xuyên để thiên hạ được nhờ.

Một người phụ nữ lớn tuổi có dáng vẻ cô đơn cùng một thiếu nữ ngọt ngào mười bảy tuổi ngồi ngay phía trước chúng tôi trong đêm diễn opera ở Mannheim đó. Hai người này trò chuyện với nhau giữa các màn, và tôi hiểu được họ, dẫu tôi chẳng hiểu nổi một từ nào được thốt lên trên sân khấu ở đằng xa. Ban đầu họ tỏ ra dè dặt trong câu chuyện, nhưng sau khi nghe người đại diện của tôi và tôi trò chuyện bằng tiếng Anh, họ đã gạt bỏ sự ngượng ngùng sang một bên và tôi đã lượm lặt được rất nhiều lời tâm tình nho nhỏ của họ; không, ý tôi là rất nhiều lời tâm tình nho nhỏ của bà ấy — ý chỉ người lớn tuổi — bởi cô thiếu nữ chỉ lắng nghe, gật đầu đồng tình chứ không nói một lời nào. Trông cô mới xinh xắn làm sao, và ngọt ngào làm sao! Tôi ước gì cô chịu mở miệng nói chuyện. Nhưng rõ ràng cô đang chìm đắm trong những suy nghĩ của riêng mình, trong những giấc mơ tuổi hồng của mình, và tìm thấy một niềm vui ngọt ngào hơn trong sự im lặng. Thế nhưng cô không hề mơ mộng những giấc mơ ngái ngủ — không, cô rất tỉnh táo, tràn đầy sức sống, lanh lợi, và không thể ngồi yên dù chỉ một phút. Cô thực sự là một đối tượng nghiên cứu đầy mê hoặc. Chiếc váy của cô làm bằng một thứ chất liệu lụa mềm mại màu trắng, ôm sát lấy thân hình trẻ trung tròn trịa như làn da cá, gợn lên những lớp ren tua rua mỏng manh và duyên dáng nhất; cô có đôi mắt sâu thẳm, dịu dàng với hàng lông mi dài uốn cong; đôi má phúng phính tựa đào tiên, chiếc cằm có lúm đồng tiền, và cái miệng nhỏ nhắn xinh xắn như nụ hồng; cô trông thật hiền hậu như chim bồ câu, thuần khiết và khả ái, ngọt ngào đến mê hồn. Suốt mấy tiếng đồng hồ dài đằng đằng, tôi cứ khẩn khoản mong sao cô lên tiếng. Và cuối cùng thì cô cũng mở lời; đôi môi đỏ mọng hé mở, và suy nghĩ của cô thốt ra — kèm theo một vẻ nhiệt huyết ngây thơ và dễ thương làm sao: “Dì ơi, con chắc chắn là trên người con có đến năm trăm con rận!”
Con số đó có lẽ vượt mức trung bình. Phải, chắc chắn là vượt mức trung bình rất nhiều. Mức trung bình vào thời điểm đó ở Đại công quốc Baden là bốn mươi lăm con trên một người trẻ tuổi (khi ở một mình), theo ước tính chính thức của bộ trưởng nội vụ năm đó; mức trung bình đối với người lớn tuổi thì biến động và không thể xác định được, bởi bất cứ khi nào một thiếu nữ phơi phới bước vào trước mặt các bậc trưởng bối, cô lập tức kéo mức trung bình của họ xuống và nâng mức của chính mình lên. Cô ấy trở thành một thứ ống đựng tiền quyên góp.

Cô thiếu nữ đáng yêu trong nhà hát hôm ấy đã ngồi đó mà vô thức thực hiện việc quyên góp. Không ít những sinh linh già nua gầy guộc ở khu vực quanh chúng tôi cảm thấy hạnh phúc hơn và thư thái hơn nhờ sự xuất hiện của cô.
Trong khán phòng đông đúc tối hôm đó, có tám nhân vật rất nổi bật. Đó là những phụ nữ vẫn đội mũ hoặc khăn trùm đầu khi xem kịch. Thật là một điều phước đức biết bao nếu một quý cô có thể khiến mình trở nên nổi bật trong các nhà hát của chúng ta bằng cách đội mũ.

Ở châu Âu, người ta thường không cho phép nam nữ khán giả mang theo mũ nón, áo khoác, gậy gộc hoặc ô dù vào phòng khán giả, nhưng ở Mannheim quy định này không bị siết chặt bởi khán giả phần lớn là những người từ nơi xa đến, và trong số họ luôn có một vài quý cô rụt rè lo sợ rằng nếu phải ra phòng gửi đồ lấy lại tư trang sau khi vở kịch kết thúc, họ sẽ bị lỡ chuyến tàu. Thế nhưng đại đa số những người đến từ phương xa vẫn chấp nhận mạo hiểm và đánh cược, thà chịu mất chuyến tàu còn hơn là vi phạm phép lịch sự và cảm giác khó chịu khi trở nên nổi bật một cách bất đắc dĩ suốt ba bốn tiếng đồng hồ liền.
