
Sáng hôm sau, chúng tôi đáp tàu đi Thụy Sĩ và đến Lucerne vào khoảng mười giờ đêm. Phát hiện đầu tiên của tôi là vẻ đẹp của hồ nước quả thật không hề bị phóng đại chút nào. Chỉ một hai ngày sau, tôi lại khám phá ra một điều nữa. Ấy là loài sơn dương lừng danh hóa ra chẳng phải một loài dê hoang; rằng nó chẳng có sừng; rằng nó chẳng hề nhút nhát; rằng nó không hề tránh xa con người; và chẳng có chút nguy hiểm nào trong việc săn lùng nó cả.

Con sơn dương là một sinh vật màu đen hoặc nâu chẳng lớn hơn một hạt cải; bạn chẳng cần phải cất công đi tìm nó, mà chính nó sẽ tìm đến bạn; nó kéo đến thành từng đàn vô số kể, nhảy nhót và rộn ràng khắp cơ thể bạn, luồn lách cả vào bên trong quần áo; thế nên nó chẳng hề rụt rè mà lại cực kỳ cởi mở; nó chẳng sợ con người chút nào, trái lại, nó sẵn sàng tấn công; vết cắn của nó không hề nguy hiểm, nhưng cũng chẳng lấy gì làm dễ chịu; sự năng động của nó không hề bị nói quá lên chút nào—nếu bạn định đặt ngón tay lên người nó, nó sẽ nhảy vọt một quãng dài gấp một nghìn lần thân mình chỉ trong một cú nhún, và chẳng có con mắt nào đủ tinh tường để thấy nó đáp xuống đâu. Đã có biết bao nhiêu lời nhảm nhí lãng mạn được viết ra về loài sơn dương Thụy Sĩ và sự hiểm nguy khi săn bắn chúng, trong khi sự thật là ngay cả phụ nữ và trẻ em cũng săn lùng nó một cách bất cứ lúc nào và không chút sợ hãi; quả thực, ai ai cũng săn nó; cuộc săn diễn ra suốt ngày lẫn đêm, lúc ở trên giường hay khi ở ngoài. Thật là một sự ngu ngốc mang tính thi ca khi dùng súng để săn nó; rất ít kẻ làm thế; chẳng có lấy một người trong một triệu người có thể dùng súng bắn trúng nó. Bắt nó bằng tay còn dễ hơn là bắn, và chỉ những thợ săn sơn dương kỳ cựu mới làm được một trong hai điều đó.

Một trò phóng đại phổ biến khác là chuyện về sự “khan hiếm” của loài sơn dương. Sự thật hoàn toàn ngược lại. Những bầy sơn dương hàng trăm triệu con không phải là chuyện hiếm thấy trong các khách sạn ở Thụy Sĩ. Thật vậy, chúng nhiều đến mức trở thành một mối họa lớn. Các nhà tiểu thuyết lãng mạn luôn tô vẽ cho thợ săn sơn dương bằng những bộ trang phục kỳ công và nên thơ, trong khi cách tốt nhất để săn loại thú này là cứ cởi truồng chẳng mặc gì sáu.
Mặt hàng thương mại gọi là da sơn dương lại là một cú lừa bịp khác; chẳng ai có thể lột da một con sơn dương cả, vì nó quá nhỏ. Sinh vật này là một trò bịp bợm dưới mọi hình thức, và tất cả những gì được viết về nó đều chỉ là sự phóng đại mang tính cảm súc. Chẳng có chút vui sướng gì khi tôi vạch trần được bộ mặt thật của loài sơn dương, bởi nó từng là một trong những ảo tưởng được tôi yêu chiều nhất; suốt cả cuộc đời, mơ ước của tôi là có ngày được nhìn thấy nó chốn hoang dã quê nhà và tham gia vào môn thể thao mạo hiểm rượt đuổi nó từ vách đá này sang vách đá khác. Bây giờ, tôi chẳng lấy làm vui sướng gì khi phải phơi bày nó ra, phá hủy niềm thích thú cũng như sự kính trọng của độc giả dành cho nó, thế nhưng việc đó vẫn phải làm, bởi khi một nhà văn chân chính phát hiện ra một sự lừa bịp thì bổn phận thuần túy của anh ta là phải lột trần nó ra và giật nó xuống khỏi bệ danh dự, bất kể ai sẽ phải chịu tổn thương vì điều đó; bất cứ con đường nào khác cũng sẽ khiến anh ta trở nên không xứng đáng với niềm tin của công chúng.
Lucerne là một nơi vô cùng quyến rũ. Thành phố bắt đầu ngay sát mép nước, với một vành đai các khách sạn, rồi luồn lách leo lên trải rộng trên hai hoặc ba ngọn đồi dốc theo một cách chen chúc, lộn xộn nhưng lại đầy vẻ nên thơ, đập vào mắt là một khối hỗn độn những mái nhà đỏ rực, những mái hiên kỳ lạ, cửa sổ áp mái, những ngọn tháp nhọn hoắt như tăm xỉa răng, và đây đó là những đoạn tường thành cổ kính uốn lượn dọc theo các sườn đồi như những con giun, cùng vài tòa tháp vuông cổ kính xây bằng gạch đá dày cộp. Rồi cũng đâu đó có cả một chiếc đồng hồ thị chính chỉ với một kim duy nhất—chiếc kim vắt ngang mặt đồng hồ và không hề có khớp nối; một chiếc đồng hồ như thế làm cho bức tranh thêm phần sinh động, nhưng bạn chẳng thể nào nhìn vào đó để biết mấy giờ rồi. Nằm giữa hàng khách sạn uốn lượn và mặt hồ là một đại lộ rộng rãi có đèn đường và hai hàng cây bóng mát thấp lè tè. Phờ-lê giáp hồ được kè đá vững chãi như một cầu tàu, có lan can để ngăn người ta đi quá đà rơi xuống nước. Suốt cả ngày lẫn đêm, xe cộ phóng vụt qua đại lộ, còn các bảo mẫu, trẻ em và khách du lịch ngồi dưới bóng râm của những hàng cây, hoặc tỳ tay lên lan can ngắm nhìn những đàn cá bơi lội tung tăng trong làn nước trong vắt, hay phóng tầm mắt ra xa mặt hồ ngắm nhìn đường viền uy nghi của những dãy núi đội mũ tuyết. Những chiếc tàu hơi nước du ngoạn nhỏ xíu, đen đặc người, cứ tấp nập ngược xuôi; và ở khắp mọi nơi, người ta thấy những thiếu nữ và thanh niên đang chèo thuyền thong thả trong những chiếc thuyền độc mộc kỳ lạ, hay lướt đi nhờ buồm mỗi khi có gió. Những căn phòng phía trước của các khách sạn đều có ban công nhỏ có lan can, nơi người ta có thể thưởng thức bữa trưa riêng tư trong sự bình yên, mát mẻ và thoải mái, nhìn xuống khung cảnh bận rộn, xinh đẹp này mà tận hưởng mà chẳng phải nhúng tay làm bất cứ công việc gì liên quan đến nó.

Hầu hết mọi người, cả nam lẫn nữ, đều mặc trang phục đi bộ đường dài và tay lầm lầm gậy leo núi. Hiển nhiên là người ta cho rằng đi lại ở Thụy Sĩ, ngay cả trong thị trấn, mà không có gậy leo núi thì không được an toàn cho lắm. Nếu du kháchngười nào lỡ quên và xuống ăn sáng mà không mang theo gậy, họ sẽ quay lại lấy cho bằng được rồi đem dựng nó vào góc phòng. Khi chuyến du lịch Thụy Sĩ kết thúc, họ không vứt cái chổi lau nhà ấy đi, mà mang kè kè nó về tận nhà ở những xó xỉnh xa xôi nhất trên trái đất, dẫu cho việc đó tốn của họ nhiều phiền toái và rắc rối hơn cả một đứa trẻ hay một hướng dẫn viên du lịch. Bạn thấy đấy, cây gậy leo núi chính là chiến tích của họ; tên của họ được khắc cháy lên đó; và nếu họ từng leo một ngọn đồi, vượt qua một con suối, hay đi ngang qua một bãi gạch với nó, thì tên của những nơi đó cũng được khắc cháy lên thân gậy luôn.
Thế nên, có thể nói nó giống như lá cờ trung đoàn của anh ta, mang theo biên niên sử về những chiến tích của anh ta. Nó chỉ đáng giá ba franc khi anh ta mua nó, nhưng cả một mỏ vàng cũng không thể mua nổi sau khi những chiến công hiển hách của anh ta đã được khắc ghi lên đó. Có những người thợ thủ công ở khắp nơi trên đất Thụy Sĩ hành nghề khắc những thứ này lên gậy leo núi cho khách du lịch. Và hãy chú ý xem, một người ở Thụy Sĩ được tôn trọng hay không là tùy thuộc vào cây gậy leo núi của anh ta. Tôi nhận thấy mình chẳng nhận được chút chú ý nào ở đó, chừng nào tôi còn cầm một cây gậy trơn không có lấy một dấu khắc. Tuy nhiên, việc khắc chữ lên gậy là điều tất yếu phải có, thế nên tôi đã nhanh chóng khắc phục điều đó. Hiệu quả mang lại đối với toán du khách tiếp theo thật là rõ rệt. Tôi thấy những rắc rối của mình đã được đền đáp xứng đáng.
Một nửa đám đông du khách mùa hè ở Thụy Sĩ là người Anh; nửa còn lại bao gồm nhiều quốc tịch khác nhau, trong đó người Đức chiếm đa số và tiếp theo là người Mỹ. Người Mỹ hóa ra lại không đông đảo như tôi từng kỳ vọng.
Bữa tối bàn tiệc lúc bảy giờ rưỡi tại khách sạn Schweitzerhof vĩ đại quy tụ một mảng lớn và đa dạng các quốc tịch, nhưng nó lại mang đến cơ hội quan sát trang phục nhiều hơn là quan sát con người, bởi đám đông ngồi ở những chiếc bàn dài vô tận, và do đó khuôn mặt chủ yếu chỉ được nhìn thấy theo dạng phối cảnh; nhưng bữa sáng lại được phục vụ ở những chiếc bàn tròn nhỏ, và khi ấy nếu ai đó may mắn có được một chiếc bàn nằm giữa đám đông, anh ta có thể tha hồ ngắm nhìn bao nhiêu gương mặt tùy thích. Chúng tôi thường cố gắng đoán xem họ thuộc quốc tịch nào, và hầu như lần nào cũng đoán khá chuẩn. Thỉnh thoảng chúng tôi còn cố đoán tên của mọi người; nhưng điều đó toàn thất bại; đó có lẽ là thứ đòi hỏi phải luyện tập rất nhiều. Chẳng mấy chốc chúng tôi bỏ cuộc và dồn sức vào những chi tiết ít khó khăn hơn. Một buổi sáng, tôi nói:
“Có một nhóm người Mỹ kìa.”
Harris bảo:
“Đúng thế—nhưng hãy đoán xem họ đến từ bang nào đi.”
Tôi đoán một bang, Harris đoán một bang khác. Tuy nhiên, chúng tôi đều đồng ý về một điều—rằng cô thiếu nữ đi cùng nhóm đó vô cùng xinh đẹp và ăn mặc rất có gu. Nhưng chúng tôi lại bất đồng về tuổi tác của cô ấy. Tôi bảo cô ấy mười tám, Harris bảo cô ấy hai mươi. Cuộc tranh cãi giữa chúng tôi dần trở nên gay gắt, và cuối cùng tôi tuyên bố, với vẻ ra chiều nghiêm túc:

“Chà, chỉ có một cách để giải quyết vấn đề này thôi—tôi sẽ đến hỏi thẳng cô ấy.”
Harris nói với giọng mỉa mai: “Chắc chắn rồi, đó chính là việc cần làm đấy. Tất cả những gì cậu cần làm là dùng câu cửa miệng quen thuộc ở đây: bước tới và nói, ‘Tôi là người Mỹ!’ Dĩ nhiên là cô ấy sẽ rất vui khi gặp cậu rồi.”
Rồi hắn bóng gió rằng có lẽ chẳng có nguy cơ lớn nào việc tôi dám đến bắt chuyện với cô ấy cả.
Tôi đáp: “Tôi chỉ nói đùa vậy thôi—tôi chẳng có ý định tiếp cận cô ấy đâu, nhưng tôi thấy cậu chẳng hiểu gì về một kẻ gan dạ như tôi cả. Tôi chẳng ngán bất kỳ người phụ nữ nào trên đời này. Tôi sẽ đến bắt chuyện với cô thiếu nữ này cho cậu xem.”
Điều tôi ấp ủ trong đầu thực ra chẳng có gì khó khăn. Tôi định sẽ chào hỏi cô ấy một cách cung kính nhất, xin cô lượng thứ nếu như sự giống nhau đến kỳ lạ giữa cô và một người quen cũ của tôi đã đánh lừa mình; và khi cô ấy đáp lại rằng cái tên tôi vừa nhắc đến không phải là tên của cô, tôi sẽ lại xin lỗi một lần nữa thật cung kính rồi lui ra. Sẽ chẳng có chuyện gì tổn hại xảy ra cả. Tôi bước tới bàn của cô ấy, ngả đầu chào người đàn ông đi cùng, rồi quay sang cô và chuẩn bị cất lời thì cô ấy thốt lên:

“Em biết là mình không nhầm mà—em đã bảo với John là anh rồi cơ mà! John cứ bảo chắc không phải đâu, nhưng em biết là mình đúng mà. Em bảo thể nào anh cũng nhận ra em ngay lát nữa rồi sẽ qua đây thôi; và em rất vui vì anh đã làm thế, bởi em sẽ chẳng thấy hãnh diện chút nào nếu anh rời khỏi căn phòng này mà không nhận ra em. Ngồi xuống đi, ngồi xuống đi—lạ lùng thật đấy—anh lại là người cuối cùng mà em từng ngờ là mình sẽ gặp lại.”
Đây quả là một cú sốc làm tôi chết sững. Nó đánh bay sạch tâm trí tôi trong một khoảnh khắc. Dẫu vậy, chúng tôi vẫn bắt tay nhau thật nồng nhiệt vòng quanh, và tôi thì ngồi xuống. Nhưng quả thực đây là tình huống ngặt nghèo nhất mà tôi từng trải qua. Lúc này, tôi có cảm giác lờ mờ nhớ ra khuôn mặt của cô gái, nhưng hoàn toàn mù tịt không biết mình đã từng gặp nó ở đâu, hay cái tên nào đi kèm với khuôn mặt ấy. Tôi lập tức cố chuyển hướng câu chuyện sang phong cảnh Thụy Sĩ để ngăn cô không sa đà vào những chủ đề có thể làm lộ việc tôi chẳng hề quen biết cô, nhưng vô ích, cô cứ thế tuôn ra những chuyện cô quan tâm hơn:
“Ôi trời, đêm hôm ấy thật là kinh hoàng làm sao, khi sóng cuốn phăng những chiếc thuyền ở mũi tàu đi—anh có nhớ không?”
“Ôi, sao lại không chứ!” tôi đáp—nhưng thực ra tôi có nhớ gì đâu. Tôi chỉ ước gì cơn sóng ấy cuốn luôn cả bánh lái, ống khói lẫn viên thuyền trưởng đi cho rồi—khi đó tôi có thể đoán ra vị khách đang chất vấn mình là ai.
“Và anh có nhớ tội nghiệp Mary đã hoảng sợ thế nào, và cô ấy đã khóc nức nở ra sao không?”
“Quả thực là có chứ!” tôi đáp. “Chà chà, mọi thứ cứ ùa về thế này!”
Tôi thành tâm ước gì chúng thực sự ùa về—nhưng bộ nhớ trong đầu tôi trống rỗng. Cách khôn ngoan nhất lúc bấy giờ là cứ thành thật thú nhận; nhưng tôi lại chẳng thể ép mình làm thế được, sau khi cô thiếu nữ đã khen ngợi tôi hết lời vì đã nhận ra cô; thế nên tôi cứ thế dấn sâu hơn, càng lúc càng lún sâu vào vũng lầy với hy vọng tìm được một manh mối nào đó nhưng chẳng bao giờ vớ được cái nào. Người phụ nữ không thể nhận ra kia vẫn tiếp tục với vẻ đầy hào hứng:
“Anh có biết không, cuối cùng thì George cũng cưới Mary đấy nhé?”
“Ơ kìa, thế á? Thật ư?”
“Thật chứ lị. Anh ấy bảo anh ấy không tin là cô ấy có lỗi nhiều bằng bố cô ấy, và em nghĩ anh ấy nói đúng. Anh có nghĩ vậy không?”
“Dĩ nhiên là anh ấy đúng rồi. Rõ mười mươi ra đấy còn gì. Anh vẫn luôn nói thế mà.”
“Ơ hay, anh có nói thế đâu!—ít ra là vào cái mùa hè năm đó.”
“À ừ, không phải mùa hè năm đó. Không, em nói hoàn toàn chính xác về điểm đó đấy. Là vào mùa đông tiếp theo cơ.”
“Chà, hóa ra thì, Mary chẳng có chút lỗi lầm nào cả—tất cả là tại bố cô ấy—ít ra là tại ông ấy và lão Darley.”
Lúc này thì bắt buộc phải nói gì đó—thế là tôi lên tiếng:
“Anh vẫn luôn coi Darley là một lão già rắc rối.”
“Đúng là lão thế thật, nhưng ngặt nỗi là mọi người vẫn luôn dành rất nhiều tình cảm cho lão, dù lão có lắm tật kỳ cục đi chăng nữa. Anh có nhớ là cứ hễ trời hơi se lạnh một chút là lão lại tìm cách xông vào nhà không?”
Tôi đâm ra hơi chột dạ không dám tiếp lời. Rõ ràng Darley không phải là một con người—lão ta hẳn phải là một loài động vật nào khác—có lẽ là một con chó, hoặc cũng có thể là một con voi. Tuy nhiên, loài vật nào mà chẳng có đuôi, thế là tôi liều mạng đáp:
“Và lão ta mới có cái đuôi làm sao chứ!”
“Một cái ư? Lão có tới cả ngàn cái ấy chứ!”
Câu này làm tôi hoang mang tột độ. Tôi chẳng biết phải nói gì cho phải, đành ngậm ngùi phun ra một câu:
“Ừ, xét về khoản đuôi cẳng thì lão ta được ưu ái thật đấy.”
“Đối với một kẻ da đen, lại còn bị điên nữa thì em phải nói là lão ta được ưu ái thật đấy,” cô ta đáp.
Tình hình bắt đầu trở nên khá bức bối cho tôi. Tôi thầm nghĩ trong bụng: “Liệu có đời nào cô ta chịu dừng ở đó và chờ mình lên tiếng nữa không? Nếu cô ta làm thế, thì cuộc trò chuyện này coi như tắc tị. Một gã da đen có hàng nghìn cái đuôi là một chủ đề mà chẳng một ai có thể bàn luận một cách trôi chảy và đầy tính giáo dục nếu không có sự chuẩn bị trước ít nhiều. Còn nếu cứ lao đầu vào một đề tài mênh mông nhường ấy một cách liều lĩnh thì…”
Nhưng thật may mắn làm sao, cô ta đã cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi bằng câu nói:
“Đúng vậy, khi nhắc đến những câu chuyện về nỗi thống khổ điên rồ của lão thì quả thực là dài lê thê không có hồi kết nếu có ai đó chịu lắng nghe. Khu ở của lão thì vốn dĩ đã đủ thoải mái rồi, nhưng cứ hễ trời lạnh là thể nào cả nhà cũng phải chịu cảnh chung đụng với lão—chẳng tài nào ngăn lão không bén mảng vào nhà được. Thế nhưng mọi người vẫn luôn bao dung chịu đựng lão chỉ vì lão từng cứu mạng Tom từ nhiều năm trước. Anh còn nhớ Tom chứ?”
“Ồ, nhớ chứ, nhớ hoàn toàn. Một anh chàng tuyệt vời.”
“Đúng thế. Và đứa con của anh ấy mới đáng yêu làm sao!”
“Em nói phải lắm. Anh chưa từng thấy đứa trẻ nào dễ thương hơn thế.”
“Em cứ thích được cưng nựng, bồng bế và chơi đùa với nó mãi thôi.”
“Anh cũng thế.”
“Chính anh là người đặt tên cho nó đấy nhé. Tên nó là gì ấy nhỉ? Em nhất thời không sao nhớ nổi.”
Tôi có cảm giác lớp băng dưới chân lúc này đang mỏng dần đi thì phải. Tôi sẵn sàng đánh đổi bất cứ thứ gì để biết được tên của đứa bé. Dù vậy, tôi lại may mắn nghĩ ra một cái tên dùng được cho cả nam lẫn nữ—thế là tôi bèn thốt lên:
“Anh đặt tên nó là Frances.”
“Chắc là đặt theo tên của một người họ hàng nào đó nhỉ? Nhưng anh cũng chính là người đặt tên cho đứa bé đã mất nữa cơ mà—đứa mà em chưa từng gặp mặt bao giờ ấy. Anh đã gọi đứa đó là gì thế?”
Lúc này thì tôi đã cạn sạch những cái tên trung tính rồi, nhưng vì đứa bé đã chết và cô ấy cũng chưa từng nhìn thấy nó bao giờ, nên tôi nghĩ mình có thể liều đánh một canh bạc với vận may xem sao. Do đó tôi bèn đáp:
“Anh gọi đứa bé đó là Thomas Henry.”
Cô ấy trầm ngâm nói:
“Thật là kỳ lạ... vô cùng kỳ lạ.”
Tôi ngồi im thin thít để mặc cho mồ hôi lạnh túa ra như suối. Tôi đang vướng vào một rắc rối to tát, nhưng tôi vẫn tin rằng mình có thể vượt qua được nếu cô ta đừng bắt tôi đặt tên cho đứa con nào nữa. Tôi tự hỏi không biết ngọn sét tiếp theo sẽ giáng xuống đầu mình ở đâu đây. Cô ấy vẫn đang mải ngẫm nghĩ về cái tên của đứa bé xấu số nọ, nhưng một lát sau cô lại cất lời:
“Em vẫn luôn lấy làm tiếc vì hồi đó anh lại đi vắng—nếu có anh thì em đã nhờ anh đặt tên cho con em rồi.”
“Con của em! Em đã kết hôn rồi ư?”
“Em đã kết hôn được mười ba năm rồi.”
“Ý anh là làm lễ rửa tội cơ.”
“Không, kết hôn cơ. Cậu thanh niên ngồi cạnh anh đây chính là con trai em đấy.”
“Nghe thật khó tin—thậm chí là bất khả thi. Anh không có ý gì xấu đâu, nhưng em có phiền không nếu cho anh biết liệu em có quá tuổi mười tám hay không?—nói cách khác, em có thể cho anh biết năm nay em bao nhiêu tuổi không?”
“Đúng ngày xảy ra cơn bão mà chúng ta vừa nhắc tới là em tròn mười chín tuổi đấy. Đó chính là sinh nhật của em.”
Thông tin đó chẳng giúp ích được gì nhiều, bởi tôi có biết cái ngày xảy ra cơn bão quái quỷ ấy là bao giờ đâu. Tôi cố nghĩ ra một câu gì đó thật ba phải để duy trì phần hội thoại của mình, nhằm che đậy sự nghèo nàn về mớ hồi ức càng ít bị chú ý càng tốt, nhưng ngặt nỗi tôi có vẻ đã cạn sạch mấy câu ba phải mất rồi. Tôi suýt thì buột miệng thốt lên: “Em chẳng thay đổi chút nào kể từ dạo ấy cả”—nhưng câu này thì rủi ro quá. Tôi lại định nói: “Em đã xinh đẹp lên rất nhiều kể từ dạo ấy”—nhưng dĩ nhiên là câu đó cũng chẳng ổn tí nào. Tôi đang toan lái câu chuyện sang tình hình thời tiết để cứu vãn tình thế, thì cô gái đã nhanh mồm chặn trước và nói:
“Em mới thích thú làm sao khi được ôn lại những kỷ niệm đẹp đẽ ngày xưa thế này—còn anh thì sao?”
“Chưa bao giờ trong đời anh lại trải qua một nửa tiếng đồng hồ nào như thế này!” tôi xúc động thốt lên; và tôi hoàn toàn có thể nói thêm một câu gần sát với sự thật rằng: “và anh thà bị lột da đầu còn hơn phải trải qua một nửa tiếng như thế này lần nữa.” Tôi cảm thấy biết ơn vô hạn vì cuối cùng cũng vượt qua được màn tra tấn này, và toan đứng lên chào tạm biệt để rút lui thì cô gái lại cất giọng:
“Nhưng có một điều khiến em vẫn vô cùng thắc mắc.”
“Ơ, chuyện gì thế?”
“Cái tên của đứa trẻ đã khuất ấy kìa. Anh vừa bảo nó tên là gì nhỉ?”
Lại thêm một vũng bùn nhão nhoét nữa để tôi bước chân vào: Tôi đã quên bén mất tên của đứa bé mất rồi; nào tôi có ngờ là nó lại bị lôi ra hỏi lại lần nữa đâu. Dẫu vậy, thế nào thì tôi cũng vẫn phải vờ như mình biết, thế là tôi bèn đáp:
“Joseph William.”
Cậu thanh niên ngồi cạnh tôi liền chỉnh lại, và bảo:
“Không ạ, là Thomas Henry cơ.”
Tôi liền nói lời cảm ơn cậu ta—bằng lời—rồi với vẻ đầy nơm nớp, tôi thưa rằng:
“À đúng rồi—lúc nãy bác đang nghĩ đến một đứa trẻ khác mà bác từng đặt tên—bác đặt tên cho rất nhiều đứa, nên đâm ra lẫn lộn—đứa này tên là Henry Thompson—”
“Thomas Henry ạ,” cậu thiếu niên điềm tĩnh chen vào.
Tôi lại cảm ơn cậu ta lần nữa—hoàn toàn bằng lời—rồi lắp bắp:
“Thomas Henry—phải rồi, Thomas Henry chính là cái tên tội nghiệp của đứa bé. Bác đặt tên nó theo tên của Thomas—ờ—Thomas Carlyle, vị đại văn hào ấy mà cháu—và Henry—ờ—ờ—Henry Đám Bát. Bố mẹ nó đã rất biết ơn vì có được một đứa con tên là Thomas Henry đấy.”
“Điều đó lại càng làm cho mọi chuyện trở nên kỳ lạ hơn bao giờ hết,” người bạn xinh đẹp của tôi lẩm bẩm.
“Thế ư? Tại sao lại thế?”
“Bởi vì bây giờ mỗi khi nhắc đến đứa trẻ ấy, bố mẹ nó toàn gọi nó là Susan Amelia thôi.”
Câu nói đó đã bắn hạ hoàn toàn khẩu pháo của tôi. Tôi chẳng thể thốt lên được lời nào nữa. Tôi đã hoàn toàn cạn sạch những cách nói vòng vo tam quốc; nếu còn đi xa hơn nữa thì chẳng khác nào nói dối, mà điều đó thì tôi nhất quyết không làm; thế là tôi cứ thế ngồi lì ra đó mà chịu trận—ngồi thừ người ra một cách nhẫn nhục và xèo xèo như bánh xèo—bởi tôi đang bị nướng chín từ từ trong chính ngọn lửa ngượng ngùng của mình. Chợt kẻ địch cất lên một tràng cười vui vẻ và nói:
“Em đã rất tận hưởng buổi trò chuyện ôn lại chuyện cũ này, nhưng anh thì không. Em nhận ra ngay từ rất sớm là anh chỉ đang giả vờ nhận ra em thôi, và vì từ đầu em đã lỡ tặng anh một lời khen rồi, nên em quyết định phải trừng phạt anh một trận. Và em đã thành công khá mỹ mãn đấy chứ. Em rất vui khi thấy anh biết cả George, Tom và Darley, dẫu cho trước đó em chưa từng nghe thấy tên họ bao giờ nên chẳng thể chắc chắn là anh có biết thật hay không; và em cũng rất vui khi được biết tên của những đứa trẻ tưởng tượng ấy nữa. Người ta có thể moi ra được cả một bối cảnh thông tin từ anh nếu cứ khéo léo gặng hỏi đấy. Riêng vụ con Mary và cơn bão với mấy chiếc thuyền ở mũi tàu bị sóng cuốn trôi là có thật—tất cả những chuyện còn lại đều là bị đặt. Mary chính là chị ruột của em; tên đầy đủ của chị ấy là Mary ———. Bây giờ thì anh đã nhớ ra em là ai chưa?”
“Rồi,” tôi đáp, “Bây giờ thì anh đã nhớ ra em rồi; và em vẫn cứng đầu y như hồi ở trên con tàu đó mười ba năm về trước, bằng không thì em đã chẳng trừng phạt anh thê thảm thế này. Em chẳng hề thay đổi chút bản chất hay tướng mạo nào cả; trông em vẫn trẻ trung như ngày nào, vẫn xinh đẹp y như dạo ấy, và em còn truyền lại phần lớn nét kiều diễm ấy cho cậu con trai tuấn tú này nữa. Nào—nếu lời ca tụng đó có làm em lay động chút nào, thì chúng ta hãy giương cờ trắng đầu hàng đi, với thỏa thuận là anh đã bại trận và xin cúi đầu nhận tội nhé.”
Toàn bộ thỏa thuận đó đã được nhất trí và thực hiện ngay tại chỗ. Khi quay trở lại chỗ Harris, tôi bảo:
“Giờ thì cậu đã thấy một người có tài năng và phong thái có thể làm được những gì rồi chứ.”

“Xin lỗi cậu, tôi chỉ thấy một kẻ ngu ngốc và khờ khạo tột độ có thể làm được những gì thôi. Cái ý định cậu dám đi đến làm phiền một nhóm người lạ theo cái cách đó, lại còn ngồi lê đôi mách suốt nửa tiếng đồng hồ; chà, tôi chưa từng nghe thấy một người nào bình thường mà lại đi làm cái điều điên rồ ấy bao giờ. Cậu đã nói gì với họ thế hả?”
“Tôi có nói câu nào hại ai đâu. Tôi chỉ lịch sự hỏi cô gái xem tên cô ấy là gì thôi.”
“Tôi không mảy may nghi ngờ điều đó đâu. Thề có Chúa là tôi không nghi ngờ tí nào luôn. Tôi nghĩ cậu hoàn toàn có khả năng làm được việc đó đấy. Thật là ngốc nghếch khi tôi lại để cậu bước qua đó rồi tự biến mình thành một trò hề trơ trẽn như thế. Nhưng cậu biết đấy, tôi cứ nghĩ đời nào mình lại đi tin cậu có thể làm ra cái hành động không thể tha thứ nổi như vậy chứ. Những người đó sẽ nghĩ về chúng ta thế nào đây? Mà cậu đã nói thế nào cơ chứ?—ý tôi là cách thức mở lời ấy. Tôi hy vọng là cậu không quá suồng sã.”
“Không, tôi đã cẩn trọng lắm chứ. Tôi bảo rằng, ‘Bạn tôi và tôi rất muốn biết tên của cô là gì, nếu cô không phiền.’”
“Không, câu đó hoàn toàn không hề suồng sã chút nào. Nó toát lên một vẻ lịch lãm mang lại cho cậu vinh quang vô tận đấy. Và tôi rất mừng vì cậu đã kéo cả tôi vào; đó là một sự quan tâm tinh tế mà tôi đánh giá cao giá trị của nó. Thế rồi cô ta đã làm gì?”
“Cô ấy chẳng làm gì đặc biệt cả. Cô ấy nói cho tôi biết tên của mình.”
“Chỉ đơn giản là nói cho cậu biết tên cô ấy thôi á. Ý cậu là cô ấy không hề tỏ ra ngạc nhiên chút nào ư?”
“Chà, giờ nghĩ lại thì cô ấy hình như cũng có biểu lộ đôi chút; có lẽ đó là sự ngạc nhiên chăng; lúc nấy tôi nào có nghĩ đến điều đó—tôi cứ tưởng đó là sự thỏa mãn cơ.”
“Ồ, chắc chắn là cậu đúng rồi; chắc hẳn đó phải là sự thỏa mãn rồi; chẳng có lý do gì để không cảm thấy thỏa mãn khi bị một kẻ xa lạ sấn sổ lao vào hỏi một câu hỏi như thế cả. Thế rồi cậu đã làm gì tiếp?”
“Tôi chìa tay ra và nhóm người đó đã bắt tay tôi.”
“Tôi tận mắt chứng kiến đấy! Chỉ có điều lúc đó tôi không dám tin vào mắt mình. Thế gã đàn ông kia có nói câu nào về chuyện cắt cổ cậu không?”
“Không, trông ai nấy đều có vẻ rất vui mừng khi gặp tôi, theo như những gì tôi có thể phán đoán được.”
“Và cậu có biết không, tôi tin là họ mừng thật đấy. Tôi nghĩ họ đã tự nhủ với bản thân rằng, ‘Chắc là cái sinh vật tò mò này vừa sổng chuồng khỏi trại tâm thần đây—thôi thì ta cứ giải trí với nó một chút xem sao.’ Chẳng còn cách giải thích nào khác cho sự dễ dãi ngoan ngoãn của họ đâu. Cậu đã ngồi xuống. Thế họ có mời cậu ngồi không?”
“Không, họ chẳng mời đâu, nhưng chắc là họ quên không nghĩ đến thôi.”
“Cậu đúng là có một bản năng không bao giờ trật đi đâu được. Thế cậu còn làm gì nữa? Các cậu đã trò chuyện về những gì?”
“Ờ thì, tôi hỏi cô gái xem cô ấy bao nhiêu tuổi.”
“Đương nhiên rồi. Sự tinh tế của cậu quả thực vượt quá sức khen ngợi. Nói tiếp đi, nói tiếp đi—đừng bận tâm đến vẻ đau khổ bề ngoài của tôi—tôi lúc nào trông cũng thế này khi đang ngập chìm trong một niềm vui sướng sâu sắc và thành kính mà lị. Nói tiếp đi—cô ta đã khai tuổi cho cậu nghe chứ?”
“Có chứ, cô ấy nói cho tôi biết tuổi của mình, rồi kể tuốt tuột về mẹ cô ấy, bà ngoại cô ấy, và cả những họ hàng khác nữa, rồi kể lể mọi thứ về bản thân cô ấy luôn.”
“Thế là cô ấy tự nguyện tuôn ra những số liệu thống kê đó à?”
“Không, không hẳn là thế. Tôi đặt câu hỏi và cô ấy trả lời thôi.”
“Thật là vi diệu. Kể tiếp đi—chắc là cậu không quên dò la về chính kiến của cô ta đấy chứ?”
“Không, tôi có nghĩ đến chứ. Cô ấy theo đảng Dân chủ, chồng cô ấy theo đảng Cộng hòa, và cả hai người đều theo phái Báp-tít.”
“Chồng cô ta á? Cứu tinh đời nào mà đứa trẻ đó lại lấy chồng rồi ư?”
“Cô ấy không phải là trẻ con. Cô ấy đã kết hôn rồi, và cái người đứng ở đó cùng cô ấy chính là chồng cô ta đấy.”
“Cô ta có con cái gì chưa?”
“Có chứ—bảy đứa rưỡi.”
“Điều đó là bất khả thi.”
“Không, cô ấy có thật mà. Chính cô ấy bảo tôi thế cơ mà.”
“Ừ thì, nhưng mà bảy đứa rưỡi là thế nào? Làm quái nào mà lại lòi ra cái nửa đứa được chứ?”
“Có một đứa con mà cô ấy sinh với một người chồng khác—không phải ông chồng này mà là một ông khác—vậy nên đó là con riêng, và người ta không tính nó bằng trọn một chỉ tiêu.”
“Lại một ông chồng khác nữa ư? Cô ta có bao nhiêu ông chồng cơ chứ?”
“Vâng, bốn người. Ông này là người thứ tư.”
“Tôi không thèm tin một nửa chữ nào trong số đó cả. Nghe qua là thấy vô lý đùng đùng rồi. Thế cái cậu con trai đứng ở đấy là em trai cô ta phỏng?”
“Không, đó là con trai cô ấy. Cậu ta là con út. Cậu ta trông già dặn thế thôi chứ thực ra mới chỉ có mười tuổi rưỡi thôi.”
“Mấy chuyện này rõ mười mươi là bị đặt hoàn toàn rồi. Quả là một vụ mần ăn khốn khổ. Rõ như ban ngày: họ chỉ vừa mới đo lường cái độ khờ của cậu, rồi quyết định nhồi cho cậu đầy một bụng những thứ nhảm nhí. Có vẻ như họ đã thành công mỹ mãn. Tôi thật mừng vì mình không dính dáng vào cái đống lộn xộn đó; ít ra thì họ cũng còn chút từ tâm để nghĩ rằng không có cái thứ hai giống như cậu trên đời này. Họ có định ở lại đây lâu không?”
“Không, họ sẽ rời đi trước buổi trưa.”
“Chà, có ít nhất một người đang cảm thấy vô cùng biết ơn vì điều đó. Thế làm sao mà cậu biết được? Chắc là cậu lại lân la đi hỏi chứ gì?”
“Không, lúc đầu thì tôi có dò hỏi về kế hoạch của họ một cách chung chung, và họ bảo họ dự định sẽ ở lại đây một tuần để đi tham quan đây đó; nhưng đến cuối buổi trò chuyện, khi tôi bảo là cậu và tôi sẽ rất vui lòng được đi du lịch cùng họ, và ngỏ ý muốn đưa cậu qua để giới thiệu, thì họ ngập ngừng đôi chút, rồi hỏi xem cậu có xuất phát từ cùng một cái ‘cơ sở’ với tôi không. Tôi bảo đúng thế, và thế là họ liền thay đổi ý định và cho rằng cần phải khởi hành ngay lập tức để đi thăm một người họ hàng đang lâm bệnh nặng ở Siberia.”
“Ôi chao, cậu đã chạm đến đỉnh cao rồi đấy! Cậu đã chạm đến cái cao độ vĩ đại nhất của sự ngu ngốc mà nỗ lực của loài người từng vươn tới. Nếu cậu có chết trước tôi, tôi nhất định sẽ dựng cho cậu một cái lăng mộ bằng toàn đầu lâu lừa cao bằng ngọn tháp Strasbourg cho xem. Họ muốn biết cậu xuất phát từ cùng cái ‘cơ sở’ với tôi phải không? Thế ý họ khi thốt ra từ ‘cơ sở’ đó là gì thế?”
“Tôi chịu; có quái nào mà tôi nghĩ đến chuyện hỏi lại đâu cơ chứ.”
“Thế mà tôi lại biết đấy. Ý họ chính là một nhà thương điên—một trại tâm thần dành cho lũ đần độn, cậu đã hiểu chưa hả? Thế hóa ra cuối cùng họ cũng nghĩ rằng chúng ta là một cặp trời sinh thật đấy. Giờ thì cậu nghĩ thế nào về bản thân mình hả?”
“Chà, tôi cũng chẳng biết nữa. Tôi có biết mình đang làm điều gì sai trái đâu; tôi nào có ý định làm hại ai. Họ đều là những người rất tử tế, và có vẻ như họ rất quý mến tôi.”
Harris lẩm bẩm vài câu thô lỗ rồi bỏ về phòng ngủ của mình—hắn bảo là để đập phá dăm ba món đồ đạc nào đó cho bõ tức. Hắn là một kẻ vô cùng dễ nổi khùng; bất cứ chuyện cỏn con nào cũng có thể làm tổn hại đến tâm trạng của hắn.

Tôi đã bị cô thiếu nữ kia nướng cho một vố cháy xém mặt mày, nhưng không sao, tôi đã trút hết đống bực dọc ấy lên đầu Harris. Người ta lúc nào cũng phải tìm cách “gỡ gạc” lại một cách nào đó, bằng không thì cái chỗ đau đớn ấy sẽ cứ nhức nhối mãi không thôi.