Những Kẻ Lang Thang Du Khảo

Lượt đọc: 77 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 26
Tổ Của Chiếc Đồng Hồ Cúc Cu

❊ ❊ ❊

Nhà thờ Hofkirche vốn nổi tiếng với những buổi hòa nhạc đàn đại phong cầm. Suốt mùa hè, khách du lịch đổ xô đến nhà thờ đó vào khoảng sáu giờ chiều, trả một quan tiền và lắng nghe thứ âm thanh ồn ào ấy. Họ không nán lại nghe hết buổi, mà đứng dậy lục đục bước ra ngoài trên nền đá vang động, đi ngang qua những người đến muộn đang bước vào một cách nặng nề và ồn ào. Tiếng bước chân qua lại này vang lên gần như suốt buổi, được tô điểm thêm bởi tiếng đóng cửa liên tục, cùng tiếng ho, tiếng hắt hơi và tiếng hắng giọng của đám đông. Trong khi đó, cây đại phong cầm khổng lồ vẫn đang rền vang, gầm rú và sấm sét, cố hết sức để chứng minh rằng nó là cây đàn lớn nhất và tuyệt nhất châu Âu, và rằng một ngôi nhà thờ nhỏ chật hẹp như chiếc hộp mới là nơi thuận lợi nhất để phát huy và thưởng thức hết uy lực của nó. Quả thật, thỉnh thoảng vẫn có những khúc nhạc nhẹ nhàng và êm dịu, nhưng tiếng bước chân rầm rập của du khách chỉ cho phép người ta chớp lấy những khoảnh khắc ngắn ngủi mà thôi. Rồi ngay sau đó, người nghệ sĩ chơi đàn lại thả ra một trận cuồng phong khác.

Hoạt động thương mại ở Lucerne chủ yếu xoay quanh những món đồ lưu niệm vặt vãnh; các cửa hàng chật ních những viên đá vùng Alps, ảnh phong cảnh, đồ chạm khắc bằng gỗ và ngà voi. Tôi sẽ không giấu giếm sự thật rằng người ta có thể tìm thấy những bức tượng thu nhỏ của con Sư tử Lucerne ở trong đó. Hàng triệu bức. Nhưng tất cả chúng đều là những tác phẩm bôi nhọ nó. Có một cái gì đó rất tinh tế ẩn chứa trong vẻ bi thảm oai hùng của nguyên bản mà những kẻ sao chép không sao bắt chước được. Ngay cả ánh mặt trời cũng không bắt được cái hồn đó; cả thợ chụp ảnh lẫn thợ chạm khắc đều chỉ mang lại cho bạn một con sư tử sắp chết, và thế là hết. Hình dáng đúng, tư thế đúng, tỷ lệ đúng, nhưng cái vẻ không thể diễn tả bằng lời khiến cho Sư tử Lucerne trở thành tác phẩm điêu khắc bằng đá ảm đạm và cảm động nhất thế giới thì lại hoàn toàn vắng bóng.

Con sư tử nằm trong hang của nó trên vách đá thẳng đứng của một mách đá thấp — vì nó được tạc trực tiếp từ khối đá sống của vách đá. Kích thước của nó khổng lồ, tư thế thật cao thượng. Đầu nó cúi xuống, cây giáo gãy cắm vào vai nó, chiếc vuốt bảo vệ đặt lên những bông hoa huệ của nước Pháp. Những dây leo rủ xuống vách đá vung vẩy trong gió, và một dòng suối trong vắt róc rách chảy từ trên cao xuống đổ vào cái hồ ở chân vách, và trên mặt hồ phẳng lặng, hình ảnh con sư tử được phản chiếu như gương giữa đám hoa súng.

Xung quanh là cây cối và thảm cỏ xanh tươi. Nơi đây là một góc rừng kín đáo, tĩnh lặng, tách biệt khỏi mọi tiếng ồn ào, xôn xao và hỗn tạp — và tất cả những điều đó thật phù hợp, bởi vì sư tử thường chết ở những nơi như thế, chứ không phải trên những bệ đá hoa cương ở các quảng trường công cộng được rào chắn bằng hàng rào sắt hoa mỹ. Sư tử Lucerne ở đâu cũng gây ấn tượng mạnh mẽ, nhưng chẳng ở đâu sâu sắc bằng nơi nó đang ngự trị.

Chịu đựng tử đạo là số phận may mắn nhất có thể giáng xuống một số người. Louis XVI không chết trên chiếc giường của mình, do đó lịch sử tỏ ra vô cùng khoan dung với ông; lịch sử rộng lượng với những khiếm khuyết của ông, và tìm thấy ở con người ông những phẩm chất cao quý mà người ta thường không coi là đức tính khi chúng ngự trị ở các vị vua. Lịch sử biến ông thành một kẻ có tâm hồn hiền lành khiêm nhường, trái tim của một nữ thánh, và một cái đầu u mê. Không có phẩm chất nào trong số này mang dáng dấp của một vị vua ngoại trừ phẩm chất cuối cùng. Cộng lại, chúng tạo nên một con người mà lẽ ra đã phải chịu đựng những phán quyết khắc nghiệt từ lịch sử nếu chủ nhân của nó không gặp may mắn là cái chết vì đạo. Dù có ý định tốt nhất là làm điều đúng đắn, ông luôn xoay sở để làm điều sai trái. Hơn nữa, không gì có thể dập tắt được phần "nữ thánh" bên trong con người ông. Ông thừa thừa hiểu rằng trong những tình huống khẩn cấp của quốc gia, ông không được suy tính xem mình nên hành động thế nào với tư cách là một người đàn ông, mà phải hành động ra sao với tư cách là một vị vua; thế nên ông đã thành thực cố gắng gạt bỏ con người cá nhân để làm một vị vua — nhưng bất thành, ông chỉ thành công trong việc làm một nữ thánh. Ông chẳng bao giờ hành động đúng thời điểm, toàn lệch sóng. Không ai có thể thuyết phục ông làm một việc gì đó khi nó còn có thể đem lại chút ích lợi — lúc đó ông cứng như sắt, cứng như đá — nhưng ngay khi sự việc đã đạt đến điểm mà việc làm đó chắc chắn sẽ gây hại, thì ông lại nhất quyết làm bằng được, và không gì ngăn cản nổi. Ông không làm điều đó vì nó có hại, mà vì ông hy vọng rằng vẫn chưa quá muộn để đạt được những điều tốt đẹp mà lẽ ra nó đã có thể làm được nếu được áp dụng sớm hơn. Sự hiểu biết của ông lúc nào cũng chậm chân hơn người ta một hoặc hai nhịp. Nếu ngón chân của đất nước cần phải cắt bỏ, ông chẳng nhìn thấy nó cần gì hơn ngoài việc đắp thuốc; khi những người khác nhận ra rằng sự hoại tử đã lan đến đầu gối, ông mới nhận thức được rằng ngón chân cần phải cắt — thế là ông cắt ngón chân; và rồi ông chặt đứt cả cẳng chân ở đầu gối khi người ta thấy bệnh đã lan đến đùi. Ông là một người tốt, thành thực và có thiện chí trong công cuộc cứu chữa những căn bệnh của đất nước, nhưng chưa bao giờ đuổi kịp một căn bệnh nào. Là một người bình thường, ông có lẽ sẽ rất đáng yêu; nhưng đứng ở góc độ một vị vua, ông hoàn toàn đáng khinh.

Cuộc đời ông là một chuỗi sự nghiệp phi vương triều nhất, nhưng cảnh tượng đáng thương nhất trong đó chính là sự phản bội mang tính cảm xúc của ông đối với đội cận vệ Thụy Sĩ vào ngày mùng 1 tháng 8 đáng nhớ ấy, khi ông để mặc những anh hùng đó bị thảm sát vì sự nghiệp của mình, và cấm họ đổ "giọt máu thiêng liêng của nước Pháp" vốn được cho là đang chảy trong huyết quản của đám đông côn đồ đội mũ đỏ đang hoành hành xung quanh cung điện. Ông định cư xử ra dáng vua chúa, nhưng cuối cùng lại chỉ làm một nữ thánh một lần nữa. Một số nhà viết tiểu sử cho rằng vào dịp này, linh hồn của Thánh Louis đã giáng xuống người ông. Chắc hẳn nó đã phải tìm thấy những chật chội lắm. Nếu Napoleon Đứng vào vị trí của Louis XVI ngày hôm đó, thay vì chỉ là một kẻ đứng xem ngẫu nhiên và vô danh, thì giờ đây sẽ chẳng có con Sư tử Lucerne nào cả, mà thay vào đó sẽ là một nghĩa trang của những người Cộng sản đầy ắp ở Paris — một nơi cũng thích hợp không kém để tưởng nhớ về ngày mùng 1 tháng 8.

Sự tử đạo đã phong thánh cho Mary Nữ hoàng Scotland ba trăm năm trước, và cho đến nay bà vẫn chưa hoàn toàn mất đi phẩm giá thánh thiện ấy. Sự tử đạo cũng đã phong thánh cho Marie Antoinette tầm thường và ngốc nghếch, và các nhà viết tiểu sử của bà vẫn tiếp tục giữ cho hương thơm thánh thiện của bà ngát hương cho đến tận ngày nay, trong khi vô tình chứng minh trên hầu hết từng trang sách họ viết rằng: bất cứ bản năng tai hại nào mà chồng bà thiếu, thì bà đều bù đắp đủ — đó là bản năng tiêu diệt và tống khứ một viên chức trung thực, có năng lực và tận tụy bất cứ khi nào bà ta tìm thấy họ. Cuộc Cách mạng Pháp rùng rợn nhưng mang tính cứu rỗi lẽ ra đã có thể bị trì hoãn, hoặc đã không diễn ra trọn vẹn, hay thậm chí có lẽ đã không bao giờ xảy ra, nếu Marie Antoinette không vướng phải sai lầm ngớ ngẩn là sinh ra trên đời. Thế giới mang ơn rất nhiều đối với Cách mạng Pháp, và do đó mang ơn cả hai nhà thúc đẩy chính của nó: Louis Kẻ nghèo tinh thần và vị hoàng hậu của ông.

Chúng tôi không mua bất kỳ bức tượng gỗ nào của con sư tử, cũng chẳng mua tượng bằng ngà voi, gỗ mun, cẩm thạch, phấn, đường hay sô-cô-la, hay thậm chí là bất kỳ bức ảnh phỉ báng nào về nó. Sự thật là, những bản sao này quá phổ biến, tràn lan trong các cửa hàng và khắp mọi nơi, đến nỗi chẳng mấy chốc chúng trở nên khó ưa đối với đôi mắt mệt mỏi chẳng khác nào giai điệu thị thịnh hành nhất đối với đôi tai đang bị tra tấn. Ở Lucerne cũng vậy, những món đồ chạm khắc bằng gỗ đủ loại — vốn từng rất thú vị khi thỉnh thoảng ta nhìn thấy ở quê nhà — chẳng mấy chốc đã bắt đầu làm chúng tôi phát chán. Chúng tôi trở nên vô cùng mệt mỏi khi nhìn thấy những con chim cút và gà bằng gỗ đang mổ mồi và ưỡn ngực đi lại quanh mặt đồng hồ, và thậm chí còn mệt mỏi hơn khi thấy những bức tượng gỗ của loài sơn dương giả đang nhảy nhót trên những mỏm đá bằng gỗ, hoặc nằm rúc vào nhau thành từng gia đình trên đó, hay ngó nghiêng đầy cảnh giác từ phía sau những tảng đá ấy. Vào ngày đầu tiên, tôi đã mua một trăm rưỡi chiếc đồng hồ kiểu này nếu tôi có đủ tiền — và tôi thực sự đã mua ba chiếc — nhưng đến ngày thứ ba thì căn bệnh đã qua chu kỳ của nó, tôi đã bình phục, và lại quay trở lại thị trường — để tìm cách bán đi. Tuy nhiên, tôi chẳng gặp may chút nào; mà thế cũng phải, vì chắc chắn những món đồ đó trông sẽ khá xinh xắn khi tôi mang chúng về nhà.

Trong nhiều năm trời, thứ tôi ghét cay ghét đắng chính là chiếc đồng hồ cúc cu; và giờ đây, cuối cùng tôi đã đặt chân đến tận sào huyệt của sinh vật ấy; thế nên đi đến đâu, cái âm thanh đau khổ “HOO’hoo! HOO’hoo! HOO’hoo!” ấy cũng văng vẳng bên tai tôi. Đối với một kẻ có thần kinh yếu, đây quả là một viễn cảnh tuyệt vời. Có những âm thanh đáng ghét hơn những âm thanh khác, nhưng tôi nghĩ chẳng có âm thanh nào lại ngớ ngẩn, xuẩn ngốc và gây bực bội cho bằng tiếng “HOO’hoo” của một chiếc đồng hồ cúc cu. Tôi đã mua một chiếc, và đang mang nó về nhà cho một người nào đó; bởi vì tôi vẫn luôn nói rằng nếu có cơ hội, tôi nhất định sẽ chơi khăm gã đó một vố đau.

Ý tôi lúc đó là tôi sẽ bẻ gãy một chân hắn, hoặc đại loại thế; nhưng khi ở Lucerne, tôi nhận ra ngay rằng mình có thể làm tổn hại tâm trí hắn. Cách đó sẽ kéo dài hơn và thỏa mãn hơn về mọi mặt. Thế là tôi mua chiếc đồng hồ cúc cu; và nếu tôi mang được nó về nhà trót lọt, hắn sẽ là "miếng mồi ngon" của tôi, như người ta vẫn nói ở các mỏm núi. Tôi từng nghĩ đến một ứng cử viên khác — một nhà phê bình sách mà tôi có thể nêu tên nếu muốn — nhưng sau khi suy nghĩ kỹ, tôi đã không mua đồng hồ cho hắn. Tôi không tài nào làm tổn hại nổi tâm trí hắn.

Chúng tôi đã ghé thăm hai cây cầu gỗ lợp mái dài bắc qua dòng sông Reuss xanh ngắt và rực rỡ ngay đoạn nó cuồn cuộn và réo hò tuôn chảy khỏi hồ. Những đường hầm uốn lượn, võng xuống này trông vô cùng thu hút, với những ô cửa sổ có alcove nhìn ra làn nước đáng yêu và đầy cảm hứng. Chúng chứa đựng hai hoặc ba trăm bức tranh kỳ lạ mang phong cách cổ xưa của các bậc thầy Thụy Sĩ ngày trước — những tay thợ vẽ biển hiệu kỳ cựu từng lừng lẫy trước thời kỳ nghệ thuật suy đồi.

Mặt hồ chan chứa cá, có thể nhìn thấy rõ bằng mắt thường vì làn nước rất trong. Những bức tường chắn trước các khách sạn thường ken dày những người câu cá đủ mọi lứa tuổi. Có một ngày, tôi định dừng lại để xem người ta bắt cá. Kết quả mang trở lại tâm trí tôi, một cách vô cùng mãnh liệt, một hoàn cảnh mà suốt mười hai năm qua tôi chưa từng nghĩ tới. Hoàn cảnh thế này:

Vào mùa đông năm 67, khi tôi và người bạn kỳ quặc Riley đang làm phóng viên báo chí ở Washington, chúng tôi đang đi xuống đại lộ Pennsylvania vào một đêm gần nửa đêm, giữa trận bão tuyết cuồn cuộn, thì ánh đèn đường chiếu rọi vào một người đàn ông đang lao đi hối hả theo hướng ngược lại.

— Thật may quá! Anh là ông Riley phải không?

Riley là con người điềm tĩnh nhất và có vẻ suy tư trang nghiêm nhất nước cộng hòa. Anh dừng lại, quan sát người đó từ đầu đến chân, và cuối cùng cất giọng nói:

— Tôi là ông Riley. Anh có tình cờ tìm tôi không đấy?

— Chính xác là tôi đang tìm anh đây, — người đó vui mừng nói, — và thật là may mắn nhất trên đời khi tôi đã tìm thấy anh. Tên tôi là Lykins. Tôi là một trong các giáo viên của trường trung học — ở San Francisco. Ngay khi nghe tin chức vụ quản lý bưu điện San Francisco bị trống, tôi đã hạ quyết tâm phải lấy cho bằng được — và tôi đã có mặt ở đây rồi đây.

— Phải, — Riley chậm rãi nói, — như anh vừa nhận xét... ông Lykins... anh đã ở đây rồi. Thế anh đã giành được nó chưa?

— Ồ, chưa hẳn là có được rồi, nhưng cũng gần như thế. Tôi đã mang theo một bản kiến nghị, có chữ ký của Giám đốc Giáo dục Công lập, của tất cả các giáo viên, và của hơn hai trăm người khác. Giờ tôi muốn nhờ anh, nếu anh sẵn lòng, hãy cùng tôi đến gặp phái đoàn vùng Thái Bình Dương, vì tôi muốn thúc đẩy việc này thật nhanh để còn về nhà.

— Nếu mọi chuyện cấp bách thế, chắc anh sẽ muốn chúng ta đến gặp phái đoàn ngay tối nay nhỉ, — Riley cất giọng hoàn toàn không có chút chế giễu nào — đối với một đôi tai chưa quen.

— Ồ, tối nay chứ còn gì nữa! Tôi chẳng có thời gian mà lảng vảng đâu. Tôi muốn có lời hứa của họ trước khi đi ngủ — tôi không phải kiểu người chỉ biết nói suông, tôi là người hành động!

— Vâng... anh đã đến đúng nơi để làm việc đó rồi. Anh tới đây khi nào thế?

— Mới cách đây một tiếng.

— Thế khi nào anh định đi?

— Đi New York vào tối mai — rồi tới San Francisco vào sáng hôm sau.

— Ra thế... Thế ngày mai anh định làm gì?

— Làm gì ư? Chứ chẳng phải tôi phải mang bản kiến nghị và phái đoàn đến gặp Tổng thống để lấy quyết định bổ nhiệm sao?

— Vâng... rất đúng... điều đó chính xác. Rồi sau đó thế nào nữa?

— Phiên họp kín của Thượng viện lúc 2 giờ chiều — phải tranh thủ để bản bổ nhiệm được phê chuẩn chứ — chắc anh cũng công nhận điều đó chứ?

— Vâng... vâng, — Riley trầm ngâm nói, — anh lại nói đúng nữa rồi. Thế rồi anh lên tàu đi New York vào buổi tối, và bắt tàu thủy đi San Francisco vào sáng hôm sau à?

— Đúng thế — tôi đã lên sẵn lịch trình như vậy đấy!

Riley trầm ngâm một lúc, rồi nói:

— Anh không thể ở lại... một ngày... ừm, nói là thêm hai ngày nữa thì sao?

— Chúa phù hộ anh, không đời nào! Không phải phong cách của tôi. Tôi không phải tuýp người la cà — tôi là kẻ hành động, tôi nói cho anh biết nhé.

Cơn bão đang hoành hành, tuyết dày thổi thốc từng đợt. Riley đứng im lặng, có vẻ như chìm đắm trong dòng suy tưởng suốt một phút hoặc hơn thế, rồi anh ngẩng lên nói:

— Anh đã bao giờ nghe về gã đàn ông từng trọ tại khách sạn Gadsby chưa?... Nhưng tôi thấy là chưa rồi.

Anh đẩy ông Lykins vào sát hàng rào sắt, túm lấy vạt áo ông, dán chặt ánh mắt vào ông giống như Lão thủy thủ già trong thơ, và bắt đầu tuôn ra câu chuyện của mình một cách điềm tĩnh và bình yên như thể tất cả chúng ta đang nằm dài thoải mái trên một đồng cỏ mùa hè ngập tràn hoa lá thay vì đang bị tra tấn bởi một trận cuồng phong giữa đêm đông:

— Tôi sẽ kể cho anh nghe về gã đó. Đó là vào thời Tổng thống Jackson. Khách sạn Gadsby khi ấy là khách sạn chính. Chà, gã này đến từ Tennessee vào khoảng chín giờ sáng một ngày nọ, cùng với một người đánh xe da đen, một cỗ xe bốn ngựa lộng lẫy và một con chó sang trọng mà rõ ràng gã vừa yêu quý vừa tự hãnh diện; hắn đánh xe dừng trước cửa khách sạn Gadsby, nhân viên phục vụ, chủ khách sạn và tất cả mọi người đềuo ra đón tiếp, nhưng hắn bảo: "Thôi khỏi," rồi nhảy phốc xuống bảo người đánh xe chờ —

hắn bảo không có thời gian ăn uống gì cả, hắn chỉ có một khoản đòi bồi thường nhỏ từ chính phủ cần thu hồi, sẽ chạy tạt qua bên kia đường đến Bộ Ngân khố để lấy tiền, rồi quay thẳng lại Tennessee ngay, vì hắn đang vội lắm.

— Chà, khoảng mười một giờ đêm hôm đó hắn quay lại, đặt một phòng ngủ và bảo họ dắt ngựa vào chuồng — bảo là sáng mai sẽ đi lĩnh tiền đền bù. Đó là vào tháng Giêng, anh hiểu chứ — tháng Giêng năm 1834 — ngày mùng 3 tháng Giêng — thứ Tư.

— Đến ngày mùng 5 tháng Hai, hắn bán cỗ xe sang trọng đi và mua một chiếc xe cũ rẻ tiền — bảo rằng chiếc đó dùng để chở tiền về nhà cũng thừa tốt rồi, và hắn chẳng màng đến hình thức bề ngoài.

— Đến ngày 11 tháng Tám, hắn bán bớt một cặp ngựa đẹp — bảo rằng hắn vẫn thường nghĩ dùng một cặp còn hơn bốn con khi đi qua những con đường núi gập ghềnh nơi người ta phải cẩn thận tay lái — và khoản tiền đòi bồi thường của hắn cũng chẳng lớn đến mức không thể dùng một cặp ngựa để chở về nhà cho dễ dàng.

— Đến ngày 13 tháng Mười Hai, hắn bán thêm một con ngựa nữa — bảo rằng hai con thì không cần thiết để kéo cái cỗ xe nhẹ cũ kỹ ấy — thực ra, chỉ một con cũng đủ lôi nó đi nhanh hơn mức cần thiết rồi, nhất là khi bây giờ đang là giữa mùa đông giá rét với những con đường trong tình trạng tuyệt hảo.

— Ngày 17 tháng Bảy năm 1835, hắn bán cỗ xe cũ và mua một chiếc xe ngựa một chỗ ngồi (buggy) cũ rẻ tiền — bảo rằng xe buggy chính là thứ phù hợp nhất để lướt đi trên những con đường đầu xuân lầy lội ngập bùn, và dù sao thì hắn cũng vẫn luôn muốn thử chạy xe buggy trên những con đường núi đó.

— Đến ngày mùng 1 tháng Tám, hắn bán chiếc xe buggy và mua phần khung của một chiếc xe độc mã (sulky) cũ — bảo rằng hắn chỉ muốn nhìn thấy bọn người Tennessee nhà quê đó trố mắt ngạc nhiên khi thấy hắn phóng vù vù trên một chiếc sulky — hắn không tin là bọn họ từng nghe nói đến xe sulky bao giờ trong đời.

— Chà, đến ngày 29 tháng Tám, hắn bán luôn người đánh xe da đen của mình — bảo rằng đi xe sulky thì chẳng cần người đánh xe — dù sao thì cũng không đủ chỗ cho hai người ngồi — và hơn nữa, không phải ngày nào Thượng đế cũng ban cho người ta một thằng ngốc sẵn sàng trả chín trăm đô la cho một tên nô lệ hạng ba như thế — hắn đã muốn tống khứ sinh vật này từ lâu lắm rồi, nhưng ngượng không muốn vứt bỏ đi.

— Mười tám tháng sau — tức là vào ngày 15 tháng Bảy năm 1837 — hắn bán chiếc xe sulky và mua một chiếc yên ngựa — bảo rằng cưỡi ngựa là điều bác sĩ vẫn luôn khuyên hắn nên làm, và có quỷ mới dám liều mạng vượt qua những con đường núi đó trên những bánh xe vào giữa mùa đông chết chóc, nếu hắn còn biết điều.

— Ngày mùng 9 tháng Tư, hắn bán chiếc yên ngựa — bảo rằng hắn không đời nào mạo hiểm tính mạng của mình với bất kỳ cái đai yên dễ mục nát nào trên con đường tháng Tư mưa gió lầy lội, trong khi hắn hoàn toàn có thể cưỡi ngựa không yên mà vẫn biết chắc và cảm thấy mình an toàn — mà dù sao thì từ trước đến nay hắn vẫn luôn ghét cưỡi yên ngựa.

— Ngày 24 tháng Tư, hắn bán luôn con ngựa của mình — bảo rằng: "Hôm nay tôi vừa tròn năm mươi bảy tuổi, khỏe mạnh cường tráng — thật là nực cười nếu tôi lại phí hoài một chuyến đi như thế và thời tiết thế này trên lưng một con ngựa, khi mà trên đời chẳng có gì tuyệt vời bằng một chuyến đi bộ xuyên qua những khu rừng mùa xuân tươi mát và vượt qua những ngọn núi vui tươi đối với một người đàn ông đích thực — và dù sao thì khi thu hồi được tiền, tôi có thể để con chó của mình mang gói tiền nhỏ đó hộ. Thế nên ngày mai tôi sẽ thức dậy thật sớm, thu hồi món tiền nhỏ của mình, rồi lỉnh về Tennessee bằng chính đôi chân của mình, kèm theo một lời chào tạm biệt rền vang gửi đến khách sạn Gadsby."

— Ngày 22 tháng Sáu, hắn bán luôn con chó của mình — bảo rằng: "Khỉ thật con chó chứ lị, khi mà mình chuẩn bị bắt đầu một chuyến đi dã ngoại tuyệt vời qua những khu rừng và đồi núi mùa hè — đúng là một kẻ phiền phức chính hiệu — cứ rượt đuổi sóc, sủa mọi thứ, nhảy nhót tung tóe khắp các ngầm nước — khiến người ta chẳng có chút thời gian nào để suy ngẫm và tận hưởng thiên nhiên — và tôi thà tự mình mang khoản tiền đòi bồi thường còn hơn, chắc chắn an toàn hơn nhiều; con chó thì vô cùng bấp bênh về mặt tài chính — lúc nào tôi cũng nhận ra điều đó — thôi, chào mấy anh em nhé — tiếng còi giục giã cuối cùng đây — tôi chuẩn bị về Tennessee với đôi chân khỏe khoắn và cõi lòng phơi phới vào sáng sớm mai đây."

Có một khoảng lặng ngắt — ngoại trừ tiếng gió rít và những hạt tuyết đập lộp độp. Ông Lykins sốt ruột lên tiếng:

— Thế rồi sao?

Riley đáp:

— Thế đấy, — chuyện đó xảy ra từ ba mươi năm trước rồi.

— Thì sao chứ, thì sao nào — có liên quan gì chứ?

— Tôi là bạn thân của lão tổ phụ đó. Lão đến vào mỗi buổi tối để chào tạm biệt tôi. Tôi vừa gặp lão cách đây một tiếng — lão chuẩn bị đi Tennessee vào sáng sớm ngày mai — như mọi khi; bảo rằng tính toán sẽ giải quyết xong vụ đòi bồi thường và chuồn đi trước khi những cú đêm như tôi kịp chui ra khỏi giường. Nưng tròng mắt lão ngấn lệ, lão mừng vì sắp được gặp lại miền đất Tennessee thân yêu và bạn bè của mình một lần nữa.

Lại một khoảng lặng im lìm. Người lạ phá vỡ sự im lặng:

— Hết rồi đấy à?

— Hết rồi đấy.

— Chà, với cái giờ này trong đêm, và cái kiểu thời tiết ban đêm thế này, tôi thấy câu chuyện dài phết đấy chứ. Nhưng mà kể để làm gì cơ chứ?

— Ồ, chẳng để làm gì đặc biệt cả.

— Thế điểm chính của nó nằm ở đâu?

— Ồ, chẳng có điểm chính nào đặc biệt cả đâu. Chỉ là, nếu anh không quá vội vã lao về San Francisco để nhận chức vụ bưu điện đó, ông Lykins ạ, tôi khuyên anh nên "Trọ tại khách sạn Gadsby" một thời gian và cứ thong thả mà tận hưởng. Tạm biệt nhé. Chúa phù hộ anh!

Nói đoạn, Riley thong thả quay gót bước đi, để mặc viên giáo viên tội nghiệp đứng ngây người ra đó, trông giống như một bức tượng tuyết trầm ngâm bất động đang tỏa sáng dưới ánh đèn đường rực rỡ.

Hắn chẳng bao giờ nhận được cái chức bưu điện đó.

Quay trở lại với Lucerne và những người câu cá ở đó, sau khoảng chín tiếng đồng hồ chờ đợi, tôi đã đợt kết luận rằng: kẻ nào định nán lại cho đến khi thấy có con cá nào đó cắn câu đám cá béo tốt và từng trải ấy sẽ thấy rằng khôn ngoan nhất là nên "trọ tại khách sạn Gadsby" và thong thả cho xong chuyện. Có lẽ đã bốn mươi năm nay chẳng có con cá nào mắc câu ở cái cầu tàu bên hồ đó; nhưng không sao, những kẻ câu cá kiên nhẫn vẫn cắm cúi canh chừng cái phao câu của chúng ở đó suốt cả ngày trời, y như thế, và có vẻ rất tận hưởng điều đó. Người ta có thể bắt gặp những gã câu cá lêu lổng đông đúc, mãn nguyện, hạnh phúc và kiên nhẫn y hệt như thế dọc theo bờ sông Seine ở Paris, nhưng truyền thuyết kể rằng thứ duy nhất từng câu được ở đó thời hiện đại lại là thứ mà họ hoàn toàn không hề gióng cần câu để bắt — đó là con chó mới chết và con mèo vừa được quy tiên.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.