Chúng tôi không ngủ quá giấc ở St. Nicholas. Tiếng chuông nhà thờ bắt đầu vang lên từ lúc bốn giờ rưỡi sáng, và qua độ dài thời gian nó cứ đổ mãi, tôi phỏng đoán rằng những kẻ tội đồ người Thụy Sĩ phải mất khối thời gian mới ngấm được lời mời gọi ấy. Phần lớn chuông nhà thờ trên thế giới đều có chất lượng kém, mang âm hưởng chát chúa và chói tai khiến người ta dễ nổi nóng và sinh lắm tội lỗi, thế nhưng chiếc chuông ở St. Nicholas lại dở tệ hơn hẳn bất kỳ chiếc chuông nào từng được chế tạo, và cái cách nó hoạt động mới thực sự khiến phát điên. Dẫu sao, nó vẫn có lý do và sự tha thứ để tồn tại, bởi cộng đồng ở đây nghèo khó và có lẽ không phải người dân nào cũng sắm nổi một chiếc đồng hồ; nhưng hoàn toàn không thể có lời ngụy biện nào cho những chiếc chuông nhà thờ ở quê nhà chúng ta, vì ở Mỹ chẳng có gia đình nào lại không có đồng hồ, và hệ quả là chẳng có lấy một cái cớ chính đáng nào cho thứ âm thanh hỗn độn đầy kinh hoàng vẫn thường phát ra từ các ngọn tháp chuông của chúng ta vào ngày Chủ nhật. Tội lộng ngôn ở Mỹ vào ngày Chủ nhật còn nhiều hơn tổng số của sáu ngày còn lại trong tuần gộp lại, và chúng cũng mang tính chất cay độc, hằn học hơn hẳn những ngày thường. Tất cả là do thứ âm thanh đinh tai nhức óc như cái nồi vỡ của đám chuông nhà thờ giá rẻ ấy gây ra.

Chúng ta xây dựng nhà thờ gần như chẳng màng tới chi phí; chúng ta dựng lên những công trình tô điểm cho thị trấn, rồi mạ vàng, vẽ bích họa, đem thế chấp, và làm mọi thứ có thể nghĩ tới để hoàn thiện nó, thế rồi lại phá hỏng tất cả bằng cách gắn lên đó một cái chuông tra tấn bất cứ ai nghe thấy, khiến người thì bị đau đầu, kẻ thì mắc chứng múa giật St. Vitus, số còn lại thì chóng mặt xây xẩm mặt mày.
Một ngôi làng Mỹ vào lúc mười giờ sáng một ngày Chủ nhật mùa hè là chốn yên bình, tĩnh lặng và thánh thiện nhất trong tự nhiên; nhưng chỉ nửa tiếng sau thôi, mọi chuyện lại là một bức tranh hoàn toàn khác. Bài thơ “Những quả chuông” của ông Poe cho đến nay vẫn còn dang dở; nhưng thế lại hay, bởi vì mấy kẻ chuyên ngâm thơ hoặc “đọc diễn cảm” hay đi đây đi đó để cố bắt chước âm thanh của đủ loại chuông bằng giọng của mình sẽ phải “bí tịt” khi chạm trán cái chuông nhà thờ này—như cách mà Joseph Addison từng nói. Nhà thờ lúc nào cũng nhăm nhăm bắt người khác phải cải cách; thiết nghĩ tự sửa đổi bản thân đi một chút làm gương thì cũng chẳng phải ý tồi. Họ vẫn cứ bám lấy một hoặc hai thứ từng hữu dụng một thời, nhưng nay đã chẳng còn tích sự gì, lại cũng chẳng có chút giá trị thẩm mỹ nào. Một trong số đó là việc giễu chuông để nhắc nhở một thị trấn ngập tràn đồng hồ rằng đã đến giờ đi lễ, và điều nữa là việc đọc từ bục giảng một danh sách dài dằng dặc những “thông báo” mà bất kỳ ai quan tâm đều đã đọc trên báo rồi. Ngay cả bài thánh ca cũng được vị mục sư đọc vanh vách—một di tích từ thời xa xưa khi sách thánh ca vừa hiếm lại vừa đắt đỏ; thế nhưng giờ đây ai nấy đều có sẵn một cuốn trong tay, vậy nên việc đọc lớn cho công chúng nghe chẳng còn cần thiết nữa. Nó không chỉ thừa thãi, mà nhìn chung còn là một sự tra tấn; bởi vì một mục sư bình thường nếu dùng súng săn bắn bừa vào giáo chúng của mình thì cũng chẳng thể vớ được ai đọc kém hơn chính ông ta, trừ phi khẩu súng ấy tản đạn một cách đáng hổ thẹn. Tôi không có ý bỡn cợt hay bất kính, tôi chỉ muốn nói lên sự thật mà thôi. Hầu hết các vị mục sư, ở mọi quốc gia và thuộc mọi giáo, đều đọc rất tồi. Người ta cứ ngẫm rằng dẫu sao họ cũng phải học cách đọc Kinh Lạy Cha cho nên hồn theo thời gian chứ, nhưng sự thật lại không phải vậy. Họ cứ thế đọc lướt qua như thể nghĩ rằng đọc càng nhanh thì lời cầu nguyện càng sớm được đáp thưa. Một kẻ không biết trân trọng giá trị to lớn của những khoảng lặng, và chẳng biết cách cân đong đo đếm thời lượng của chúng một cách khôn ngoan, thì không thể nào truyền tải được sự giản dị và trang nghiêm vĩ đại của một tác phẩm như thế cho trọn vẹn.
Chúng tôi ăn sáng tương đối sớm, rồi rảo bước hướng về Zermatt qua những con ngõ nồng nặc mùi ẩm mốc của ngôi làng, mừng vì đã thoát khỏi tiếng chuông ấy. Chẳng mấy chốc, chúng tôi được chiêm ngưỡng một cảnh tượng tuyệt đẹp ở bên tay phải. Đó là bức tường đá sừng sững của một dòng sông băng khổng lồ, nhìn xuống chúng tôi từ một đỉnh núi Alp vươn cao tít tắp vào bầu trời xanh thẳm. Lượng băng đá kết tụ lại thành một khối thật đáng kinh ngạc. Chúng tôi nhẩm tính và đi đến kết luận rằng từ chân bức tường băng đặc ấy lên đến đỉnh phải cách nhau không dưới vài trăm feet—Harris còn đinh ninh rằng nó phải cao gấp đôi cơ. Chúng tôi phỏng đoán rằng nếu đem Nhà thờ St. Paul, St. Peter, Đại kim tự tháp, Nhà thờ lớn Strasburg và Tòa nhà Quốc hội ở Washington mà xếp tụm lại dựa vào bức tường đó, thì một người ngồi trên rìu phía trên cũng chẳng thể với tay treo chiếc mũ của mình lên đỉnh của bất kỳ công trình nào trong số đó mà không phải với xuống ba bốn trăm feet—một điều mà đương nhiên chẳng ai làm nổi.
Đối với tôi, dòng sông băng hùng vĩ ấy vô cùng đẹp đẽ. Tôi không thể tưởng tượng được là lại có kẻ tìm ra vết lỗi ở nó; nhưng tôi đã lầm. Harris đã cằn nhằn suốt mấy ngày nay. Cậu ta là một tín đồ Tin Lành cuồng nhiệt, và lúc nào cũng mở miệng là:
“Ở các bang theo đạo Tin Lành, chẳng bao giờ câụ thấy cái cảnh nghèo đói, dơ dáy và nhếch nhác như ở cái xứ Công giáo này; cậu chẳng bao giờ thấy mấy con hẻm ngập ngụa chất ô uế; chẳng bao giờ thấy những cái chuồng lợn tồi tàn làm nhà; chẳng bao giờ thấy cái núm vú giả bằng thiết lộn ngược trên mái nhà thờ làm mái vòm; còn về chuông nhà thờ á, chà, cậu chẳng bao giờ nghe thấy tiếng chuông nhà thờ nào vang lên ở trển cả.”
Suốt buổi sáng nay, cậu ta cứ bắt bẻ hết điều này đến điều khác không ngớt. Đầu tiên là bùn đất. Cậu ta bảo, “Trời mưa ở bang Tin Lành thì đố mà có bùn.” Tiếp đến là chó: “Họ không nuôi mấy con chó tai cụp ở xứ Tin Lành.” Rồi đến đường sá: “Người ta không để mặc đường tự nát ở bang Tin Lành đâu, người dân tự làm lấy—mà họ làm con đường nào ra con đường nấy hẳn hoi.” Kế đến là dê: “Cậu chẳng bao giờ thấy con dê nào rơi lệ ở bang Tin Lành cả—dê ở đó là một trong những sinh vật vui vẻ nhất đời.” Tiếp theo là sơn dương: “Cậu chẳng bao giờ thấy sơn dương xứ Tin Lành hành xử như mấy con này—chúng gặm một hai miếng rồi đi luôn; còn đám này thì cắm trại lì lợm với cậu luôn.” Rồi tới biển chỉ đường: “Ở bang Tin Lành có muốn lạc đường cũng chẳng được, nhưng ở bang Công giáo thì đố cậu tìm thấy một cái biển chỉ đường nào.” Kế nữa, “Cậu chẳng bao giờ thấy hộp hoa nào ở cửa sổ nơi này—chẳng có gì ngoài thỉnh thoảng vài con mèo—lại còn lờ đờ uể oải; nhưng cứ sang bang Tin Lành mà xem: khung cửa sổ đẹp tuyệt trần ngập hoa—còn mèo thì nhiều vô kể kể như có cả một cánh đồng.” Dân tình ở cái bang này để mặc đường tự nát, rồi phạt cậu ba franc nếu cậu dám ‘phi kiệu’ qua đó—làm như ngựa có thể phi nổi trên cái bãi rác được gọi là đường ấy.” Sau cùng là bệnh bướu cổ: “Họ cứ lải nhải về bệnh bướu cổ!—Ta chẳng thấy cái bướu cổ nào trong cả cái bang này mà ta không nhét nổi vào trong mũ.”
Cậu ta cằn nhằn mọi thứ, nhưng tôi đoán chắc cậu ta sẽ phải vắt óc ra mới tìm được điểm gì để chê bai dòng sông băng uy nghi này. Tôi bóng gió điều đó; nhưng cậu ta đã thủ sẵn câu trả lời, giọng đầy bất mãn cau có: “Cậu phải sang các bang Tin Lành mà xem tụi nó kìa.”
Điều này làm tôi phát bực. Nhưng tôi nén lại, và hỏi:
“Thế cái này thì có gì không ổn?”
“Không ổn á? Chà, nó có ra cái thể thống gì đâu. Ở đây chẳng ai thèm chăm sóc sông băng cả. Đất đá moraine cứ vương vãi khắp nơi quanh nó, làm nó bẩn thỉu hết cả.”
“Này anh bạn, họ đâu thể ngăn được chuyện đó.”
“Họ ư? Cậu nói phải đấy. Ý tôi là, họ không thèm làm. Họ hoàn toàn làm được nếu muốn. Cậu chẳng bao giờ thấy dù chỉ một hạt bụi trên sông băng của người Tin Lành đâu. Nhìn sông băng Rhone mà xem. Nó dài tới mười lăm dặm và dày bảy trăm feet. Nếu đây là một sông băng theo đạo Tin Lành thì đố cậu thấy nó ra thế này đấy, tôi nói cho mà biết.”
“Thật là nhảm nhí. Thế họ sẽ làm gì với nó chứ?”
“Họ sẽ quét vôi trắng. Họ lúc nào cũng làm thế.”
Tôi chẳng tin một chữ nào sất, nhưng thà cho qua chứ chẳng muốn dây dưa phiền phức; bởi vì tranh cãi với một kẻ cuồng tín chỉ tổ tốn nước bọt. Tôi thậm chí còn nghi ngờ không biết sông băng Rhone có thực sự nằm ở bang Tin Lành hay không; nhưng tôi không rõ, thế nên cãi lại một kẻ sẵn sàng vùi dập tôi bằng thứ bằng chứng bị thêu dệt cũng chẳng mang lại lợi lộc gì.
Cách St. Nicholas khoảng chín dặm, chúng tôi băng qua một cây cầu bắc ngang dòng torrent hung cuồn cuộn của con suối Visp, rồi đi đến một đoạn hàng rào gỗ ọp ẹp đang đóng vai trò bảo vệ khách bộ hành khỏi bị ngã nhào xuống bức vực đứng dựng đứng cao tới bốn mươi feet lao thẳng xuống sông. Ba đứa trẻ đang đi tới; một đứa trong số đó, là một bé gái khoảng tám tuổi đang chạy nhảy; khi đến sát chúng tôi, con bé vấp ngã nhào, đôi chân trượt qua khe rào chắn và có chốc lát thò lơ lửng ngay trên dòng nước xiết. Cảnh tượng ấy khiến chúng tôi giật thót tim, bởi tưởng rằng phen này con bé tiêu đời chắc, vì mặt đất dốc đứng và việc tự cứu mình dường như là điều bất khả thi; thế nhưng nó xoay sở trườn dậy được, rồi vừa cười vừa chạy vụt qua chúng tôi.
Chúng tôi tiến lại gần kiểm tra hiện trường và nhìn thấy những vết hằn dài mà đôi chân con bé cào trên đất khi lao qua mép vực. Nếu cú ngã đó trọn vẹn, con bé sẽ đập người vào mấy tảng đá lớn ven bờ nước, rồi dòng thác dữ sẽ cuốn nó trôi xuôi dòng giữa những hòn đá tảng nửa chìm nửa nổi và nghiền nát thân thể nó ra thành cám chỉ trong vòng hai phút. Chúng tôi vừa suýt soát tận mắt chứng kiến cái chết của nó.

Và giờ đây, bản tính ương ngạnh cùng sự ích kỷ ngấm vào xương tủy của Harris lại bộc lộ một cách rõ mồn một. Cậu ta chẳng có lấy một chút tinh thần hy sinh vì người khác nào. Cậu ta lập tức mở mồm ra, và huyên thuyên suốt cả tiếng đồng hồ, bày tỏ niềm biết ơn vì đứa trẻ đã không mạng vong. Tôi chưa từng thấy con người nào như thế. Hắn ta đúng là cái loại người ấy; miễn là bản thân được thỏa mãn, chẳng bao giờ hắn bận tâm đến ai khác. Tôi đã nhận ra nét tính cách đó ở hắn hết lần này đến lần khác. Đương nhiên, phần lớn thời gian đó chỉ là sự vô tâm, thiếu suy nghĩ thuần túy. Chắc chắn trong đa số trường hợp là vậy, nhưng điều đó không có nghĩa là nó dễ chịu hơn chút nào—và xét cho cùng, gốc rễ sâu xa của nó vẫn là sự ích kỷ. Không tài nào chối cãi được kết luận đó. Trong tình huống vừa rồi, tôi cứ nghĩ sự vô duyên khi cứ lải nhải mãi điều đó sẽ lọt vào đầu hắn chứ; nhưng không, đứa trẻ được cứu và hắn cảm thấy vui mừng, thế là đủ—hắn chẳng thèm đoái hoài gì đến cảm xúc của tôi, hay việc tôi bị cướp mất một món hời văn chương béo bở, bị giật ngay khỏi miệng khi nó chỉ chực chờ rơi vào. Sự ích kỷ của hắn lớn đến mức đặt niềm vui sướng vì bản thân được tai qua nạn khỏi lên trên mọi sự quan tâm dành cho tôi, người bạn của hắn. Rõ ràng, hắn chưa từng mảy may nghĩ đến những chi tiết đắt giá đáng lẽ đã rơi vào tay tôi như một món quà trên trời rơi xuống: vớt con bé lên—chứng kiến sự kinh ngạc của gia đình và sự náo động mà vụ việc sẽ gây ra trong lòng dân làng—rồi một đám tang theo kiểu Thụy Sĩ—rồi tấm bia tưởng niệm ven đường, do chúng tôi chi trả và tên tuổi sẽ được khắc ghi trên đó. Và thế nào chúng tôi cũng được đưa vào sách hướng dẫn Baedeker để rồi trở thành bất tử. Tôi im lặng. Tôi tổn thương sâu sắc đến mức chẳng thiết tha gì ca thán. Nếu hắn có thể hành xử như thế, lại vô tâm và phù phiếm đến thế vào một thời điểm ngặt nghèo, thậm chí còn tỏ ra đắc ý về điều đó, sau tất cả những gì tôi đã làm cho hắn, thì có tự chặt đứt bàn tay này tôi cũng chẳng đời nào để hắn thấy rằng mình đang bị tổn thương.

Chúng tôi đang tiến gần đến Zermatt; đồng thời cũng đang tiến lại gần ngọn núi Matterhorn lừng danh. Một tháng trước, ngọn núi này đối với chúng tôi chỉ là một cái tên, nhưng thời gian gần đây chúng tôi đã liên tục đi qua một dãy tranh ảnh dày đặc về nó, đủ loại từ tranh sơn dầu, màu nước, tranh in màu, khắc gỗ, khắc thép, khắc đồng, tranh phấn màu cho đến ảnh chụp, và cứ thế cuối cùng nó cũng thành hình trong tâm trí chúng tôi—một hình hài vô cùng rõ nét, dứt khoát và quen thuộc nữa. Chúng tôi thầm mong sẽ nhận ra ngọn núi ấy bất kể khi nào hay ở đâu chúng tôi chạm trán nó. Và chúng tôi đã không phải thất vọng. Vị vua ngọn núi đứng tít đằng xa khi chúng tôi lần đầu trông thấy, nhưng chẳng thể nào nhầm lẫn được. Nó có một nét độc đáo hiếm có là đứng sừng sững một mình; nó lại đặc biệt dốc, và có hình dáng kỳ lạ nhất. Nó vút cao lên bầu trời như một chiếc nêm khổng lồ, với một phần ba phần lưỡi phía trên hơi cong về bên phía trái. Cái đế rộng của chiếc nêm quái vật này được cắm sâu trên một mặt phẳng tuyệt đẹp lát đầy băng hà của dãy Alp ở độ cao mười ngàn feet so với mực nước biển; và vì bản thân chiếc nêm cao khoảng năm ngàn feet, nên suy ra đỉnh của nó nằm ở độ cao khoảng mười lăm ngàn feet so với mực nước biển. Do đó, toàn bộ khối lượng của hòn đá uy nghi này, khối nguyên khối xé toạc bầu trời này, đều nằm vượt trên đường tuyết vĩnh cửu. Thế nhưng trong khi tất cả những người hàng xóm khổng lồ xung quanh đều mang vẻ ngoài được cấu thành từ tuyết đặc từ phần eo trở lên, thì Matterhorn lại đứng sừng sững một cách đen đúa, trần trụi và đầy vẻ đe dọa quanh năm, hoặc chí ít cũng chỉ phủ một lớp bột trắng hay vằn vệt vài vệt trắng ở một vài chỗ, bởi vì các sườn dốc của nó đứng chót vót đến mức tuyết chẳng thể nào bám lại được. Hình thù kỳ lạ, sự cô lập uy nghiêm và nét lạc lõng đầy kiêu hãnh của nó so với đồng loại khiến nó trở thành—có thể nói như vậy—Napoléon của thế giới loài núi. “Uy nghi, ảm đạm và kỳ lạ,” là cụm từ miêu tả nó chuẩn xác chẳng kém gì khi áp dụng cho vị đại nguyên soái ấy.
Hãy thử nghĩ về một đài tưởng niệm cao một dặm, đứng trên một bệ đỡ cao hai dặm! Đó chính là Matterhorn—một đài tưởng niệm. Sứ mệnh của nó, từ nay về sau và mãi mãi về sau, sẽ là canh gác và bảo vệ chốn yên nghỉ bí mật của vị Lãnh chúa trẻ tuổi Douglas, kẻ vào năm 1865 đã rơi từ đỉnh núi xuống một vực sâu bốn ngàn feet và không bao giờ tìm thấy xác nữa. Chưa từng có ai sở hữu một đài tưởng niệm vĩ đại nhường này; những công trình vĩ đại nhất thế giới khác so với nó chỉ như những hạt bụi nguyên tử; rồi chúng sẽ lụi tàn, rồi vị trí của chúng sẽ phai mờ khỏi ký ức, nhưng ngọn núi này sẽ còn mãi.
[Tai nạn cướp đi sinh mạng của Lord Douglas (xem Chương xii) cũng đồng thời cướp đi mạng sống của ba người khác nữa. Ba người này đã rơi khoảng bốn phần năm dặm, và thi thể của họ sau đó được tìm thấy nằm song song bên nhau trên một dòng sông băng, từ đó được khiêng về Zermatt và chôn cất trong nghĩa trang nhà thờ.
Thi hài của Lord Douglas chưa bao giờ được tìm thấy. Bí mật về nơi chôn cất của ngài, cũng giống như của Moses, mãi mãi là một ẩn số.]
Một chuyến đi bộ từ St. Nicholas đến Zermatt là một trải nghiệm tuyệt diệu. Thiên nhiên được kiến tạo theo một quy mô vĩ đại ở vùng đất đó. Người ta cứ liên tục bước đi giữa những bức tường đá dựng đứng ngút ngàn mây trời, với những chỏm cao phía trên vỡ vụn thành muôn hình vạn trạng những khối hình siêu việt lấp lánh ánh trắng lạnh lẽo trên nền trời xanh thẳm; và đây đó, người ta lại bắt gặp một dòng sông băng lớn đang phô diễn vẻ hoành tráng trên đỉnh vách đá, hay một ngọn thác duyên dáng đang tung bọt trắng xóa nhảy múa bên những sườn đồi xanh ngắt. Chẳng có gì tẻ nhạt, rẻ tiền hay tầm thường ở đây cả—tất cả đều tráng lệ vô cùng. Thung lũng ngắn ngủi ấy giống như một phòng trưng bày nghệ thuật đầy danh tiếng, bởi nó không hề chứa đựng chút tầm thường nào; từ đầu chí cuối, Đấng Tối Cao đã trang hoàng nơi đây bằng những tuyệt tác của Ngài.

Chúng tôi tới Zermatt vào lúc ba giờ chiều, sau chín tiếng cất bước từ St. Nicholas. Khoảng cách, theo sách hướng dẫn là mười hai dặm; còn theo máy đo bước chân là bảy dặm. Chúng tôi lúc này đã đặt chân đến trái tim và ngôi nhà của những nhà leo núi, đúng như mọi thứ bày biện trước mắt đã minh chứng. Những đỉnh núi tuyết không hề giữ khoảng cách hay tỏ ra xa cách theo kiểu quý tộc; chúng nép mình quây quần sát lại gần bằng một vẻ thân mật, gần gũi; những hướng dẫn viên với dây thừng, rìu phá băng và các dụng cụ khác của nghề nghiệp đáng sợ ấy được quấn quanh người, đang đậu thành một hàng dài trên bức tường đá trước cửa khách sạn để chờ đợi khách hàng; những nhà leo núi da ngăm đen rám nắng trong trang phục chuyên dụng, theo sau là hướng dẫn viên và phu phen khuân vác, hết đợt này đến đợt khác kéo về sau những chuyến thám hiểm chết người giữa các đỉnh núi và sông băng của vùng High Alps; từng đoàn khách du lịch nam nữ cưỡi la nối đuôi nhau diễu hành không dứt hướng về phía khách sạn sau những cuộc phiêu lưu hoang dã—những câu chuyện mà mỗi lần được kể lại bên lò sưởi ở Anh hay Mỹ sẽ lại càng trở nên hùng hồn hơn, để rồi cuối cùng vượt xa cả ranh giới của sự thực.
Chúng tôi không hề nằm mơ; đây không phải là một ngôi nhà giả tưởng của dân leo núi Alp do trí tưởng tượng đang hưng phấn của chúng tôi nhào nặn ra; không, bởi vì chính ngài Girdlestone bằng xương bằng thịt đang ở đây, vị quý tộc Anh nổi tiếng chuyên tự mình săn tìm đường lên những đỉnh núi Alp hiểm trở nhất mà không cần hướng dẫn viên. Tôi chẳng đủ sức để tưởng tượng ra một con người như Girdlestone; việc nhận thức được sự tồn tại của ông ta khi đang nhìn thẳng vào ông ta ở cự ly gần đã là giới hạn tối đa của tôi rồi. Tôi thà đối mặt với cả một công viên Hyde Park đầy đại bác còn hơn là phải nhìn vào những dáng hình tử thần ghê rợn mà ông ta từng đối mặt giữa các chỏm núi và vực thẳm. Có lẽ chẳng có niềm vui nào sánh được với niềm vui leo lên một ngọn núi Alp hiểm trở; nhưng đó là niềm vui chỉ dành riêng cho những ai tìm thấy sự hoan hỉ trong đó. Tôi không hề vội vã đưa ra kết luận này; có thể nói tôi đã đi đến nó bằng chuyến tàu chở sỏi đá vậy. Tôi đã nghiền ngẫm kỹ càng mọi thứ và hoàn toàn chắc chắn mình đúng. Khao khát leo núi của một kẻ sinh ra đã mang dòng máu leo núi rất khó mà thỏa mãn; khi cơn thèm khát ấy bùng lên, hắn ta giống như một kẻ đang chết đói đứng trước một bữa yến tiệc thịnh soạn; dù có đang bận bịu việc gì đi nữa thì cũng phải dẹp sang một bên. Ngài Girdlestone vừa trải qua kỳ nghỉ hè quen thuộc của mình trên dãy Alps, và dùng nó theo cách thường lệ của ông: săn tìm những cơ hội độc nhất vô nhị để tự bẻ gãy cổ mình; kỳ nghỉ đã chấm dứt và hành lý đã được đóng gói sẵn để về nước Anh, thế nhưng đột nhiên cơn thèm khát trèo lên ngọn Weisshorn vĩ đại lại trỗi dậy trong ông, bởi ông vừa nghe lỏm được một tuyến đường mới lên núi hoàn toàn bất khả thi. Hành lý lập tức được khui tung ra, và giờ đây ông cùng một người bạn, lưng đeo balô, tay thủ rìu phá băng, cuộn dây thừng và bình đựng sữa, đang chuẩn bị lên đường. Họ sẽ qua đêm ở một nơi nào đó trên cao giữa vùng tuyết phủ, rồi thức dậy từ lúc hai giờ sáng để hoàn thành chiến dịch. Tôi có một khao khát mãnh liệt muốn được đi cùng họ, nhưng đã đè nén nó xuống—một kỳ tích mà dẫu có sự kiên cường đến đâu, ngài Girdlestone cũng chẳng thể làm nổi.
Ngay cả phụ nữ cũng vướng vào cơn sốt leo núi và không tài nào rũ bỏ nổi nó. Một nữ nhà leo núi nổi tiếng thuộc phái đẹp ấy đã từng thử chinh phục đỉnh Weisshorn vài ngày trước khi chúng tôi đến, để rồi cô cùng các hướng dẫn viên bị lạc đường trong một trận bão tuyết trên cao giữa các chỏm núi và sông băng, buộc phải lang thang vất vưởng một hồi lâu mới tìm được lối xuống. Khi vị nữ quý tộc này đặt chân được xuống đến chân núi, cô ấy đã đứng trên đôi chân của mình suốt hai mươi ba tiếng đồng hồ!
Mấy người hướng dẫn viên mà chúng tôi thuê trên đèo Gemmi đã có mặt ở Zermatt từ trước khi chúng tôi tới đó. Thế nên chẳng có gì cản trở chúng tôi dấn thân vào một cuộc phiêu lưu bất cứ khi nào chúng tôi chọn được thời điểm và mục tiêu. Tôi quyết định dành buổi tối đầu tiên ở Zermatt để nghiên cứu về bộ môn leo núi Alp nhằm chuẩn bị tinh thần.
Tôi đã đọc qua vài cuốn sách, và đây là một số điều tôi thu thập được. Giày của người leo núi phải chắc chắn và nặng, có đóng đinh tán nhọn ở đế. Gậy trèo núi phải làm bằng loại gỗ tốt nhất, vì nếu nó gãy thì cái giá phải trả có lẽ là tính mạng. Người ta nên mang theo một chiếc rìu để đục các bậc thang trên băng khi ở độ cao lớn. Phải có một chiếc thang, bởi vì có những vách đá dựng đứng có thể vượt qua bằng dụng cụ này—hoặc vật dụng này—nhưng sẽ chẳng tài nào vượt qua nổi nếu thiếu nó; một chướng ngại vật như thế từng buộc du khách phải lãng phí hàng giờ đi tìm tuyến đường khác, trong khi một chiếc thang có thể tiết kiệm cho anh ta mọi rắc rối. Người ta phải chuẩn bị từ một trăm rưỡi đến năm trăm feet dây thừng chắc chắn, dùng để thả cả nhóm xuống những sườn dốc quá ư dốc và trơn trượt đến mức không thể vượt qua bằng bất kỳ cách nào khác. Người ta phải có một chiếc móc thép gắn vào một sợi dây khác—một thứ cực kỳ hữu dụng; bởi vì khi đang leo lên mà gặp phải một gờ đá thấp nhưng lại quá cao đối với chiếc thang, anh ta sẽ vung sợi dây này lên cao giống như cách quăng lọng, chiếc móc sẽ bám chặt vào đỉnh gờ đá, và rồi du khách cứ thế leo lên sợi dây bằng cả hai tay—luôn phải cẩn trọng tự nhủ bản thân hãy quên ngay đi cái ý nghĩ rằng nếu chiếc móc tuột ra, anh ta sẽ cứ thế rơi mãi không dừng cho đến khi đáp xuống một xó xỉnh nào đó ở Thụy Sĩ mà chẳng ai mảy may trông đợi sự hiện diện của mình. Một điều quan trọng nữa—phải có một sợi dây để buộc tất cả các thành viên trong nhóm lại với nhau, sao cho nếu có ai đó trượt chân ngã khỏi sườn núi hoặc rơi xuống một vực thẳm không đáy trên sông băng, những người còn lại có thể níu chặt dây mà cứu anh ta lại. Người ta phải có một chiếc mạng che mặt bằng lụa để bảo vệ gương mặt khỏi tuyết, mưa đá, gió bão, cùng một cặp kính bảo hộ có màu để bảo vệ đôi mắt khỏi kẻ thù nguy hiểm mang tên bệnh mù tuyết. Cuối cùng, phải có vài người khuân vác để mang theo lương thực, rượu và các dụng cụ khoa học, cùng với túi chăn để cả đoàn ngủ qua đêm.

Tôi khép lại buổi đọc sách của mình bằng một cuộc phiêu lưu hú vía mà ông Whymper từng trải qua trên ngọn Matterhorn khi ông đang một mình dò dẫm thám thám hiểm ở độ cao năm ngàn feet phía trên thị trấn Breil. Ông đang thận trọng lách mình vòng qua một góc vực nơi mép trên của một sườn dốc phủ tuyết đóng băng sắc bén tiếp giáp với nó. Sườn dốc này thoai thoải đổ xuống một khoảng vài trăm feet, dẫn vào một khe núi uốn lượn rồi kết thúc tại một vách đá cao tám trăm feet nhìn xuống một dòng sông băng. Chân ông trượt, và ông ngã nhào.
Ông kể lại rằng:
“Balô kéo đầu tôi chúi xuống trước, và tôi lao sầm vào mấy mảng đá cách đó chừng chục feet; chúng vướng phải thứ gì đó và hất văng tôi khỏi mép vực, đầu cắm chân giơ nhào lộn xuống khe núi; chiếc gậy trượt tuột khỏi tay tôi, và tôi cứ thế xoay tít lao xuống trong một chuỗi những cú nảy người, cú sau dài hơn cú trước; lúc thì qua lớp băng, lúc thì đâm vào đá, đầu đập vào đá bốn năm lần, mỗi cú va đập lại mạnh hơn lần trước. Cú nảy cuối cùng hất tôi văng vút qua không trung trong một bước nhảy dài năm mươi hoặc sáu mươi feet từ bên này sang bên kia khe núi, và may mắn thay tôi đập cả phần bên trái cơ thể vào các mô đá. Chúng giữ quần áo tôi lại được chốc lát và tôi ngã ngửa ra đến lớp tuyết với đà rơi bị chặn đứng. Đầu tôi thật may mắn lại hướng lên đúng chiều, và vài cú với tay tuyệt vọng đã giúp tôi khựng lại ngay cổ khe núi và sát ngay bên mép vực thẳm. Gậy, mũ và mạng che mặt lướt qua rồi biến mất, và tiếng va đập của những hòn đá—do tôi khơi mào—khi chúng rơi xuống sông băng, đã nói lên việc tôi suýt chút nữa thì bị tiêu diệt hoàn toàn. Quả thực, tôi đã rơi gần hai trăm feet trong bảy hoặc tám cú nảy. Thêm mười feet nữa thôi là tôi đã thực hiện một cú nhảy vọt khổng lồ dài tám trăm feet lao thẳng xuống dòng sông băng bên dưới rồi.

Tình thế khi ấy đủ nghiêm trọng rồi. Tôi không thể buông tay khỏi mấy mảng đá dù chỉ một giây, và máu từ hơn hai mươi vết rách đang phun xối xả. Những vết thương nặng nhất nằm ở trên đầu, và tôi vô vọng dùng một tay bịt lại trong khi tay kia vẫn bám chặt. Chẳng ăn thua gì; máu cứ thế trào ra thành từng dòng phun mù mịt theo mỗi nhịp đập. Cuối cùng, trong một phút lóe sáng tựa linh cảm, tôi tung chân đá văng một cục tuyết lớn rồi đắp lên đầu như một miếng băng gân. Ý kiến đó thật là sáng suốt, và dòng máu chảy đã thuyên giảm phần nào. Sau đó, vừa trườn dậy, tôi vừa lết được đến một nơi an toàn—vừa đúng lúc trước khi ngất lịm đi. Mặt trời đang lặn khi tôi tỉnh lại, và trời đã tối đen như mực khi tôi vượt qua đoạn Cầu thang Lớn đi xuống; nhưng nhờ sự kết hợp giữa may mắn và cẩn trọng, toàn bộ hành trình hạ sơn dài tới bốn ngàn bảy trăm feet về tới Breil đã được hoàn thành mà không hề trượt chân hay lạc đường lấy một lần.”
Những vết thương khiến ông phải nằm liệt giường mấy ngày trời. Rồi ông đứng dậy và lại leo ngọn núi đó lần nữa. Bản tính của một kẻ leo núi thực thụ là thế; càng thấy vui, hắn lại càng muốn dấn thân nhiều hơn.
