Cách lâu đài Hornberg chừng hai dặm về phía hạ nguồn có một hang động nằm ở vách đá thấp, mà theo lời người lái bè, thời xưa từng có một tiểu thư xinh đẹp của dòng họ Hornberg—Nữ bá tước Gertrude—trú ẩn. Chuyện ấy đã xảy ra từ bảy trăm năm trước. Nàng có rất nhiều người cầu hôn giàu có, quý tộc, và chỉ có một kẻ nghèo hèn, vô danh là hiệp sĩ Sir Wendel Lobenfeld. Với cái bản tính ngốc nghếch vốn có của nữ chính trong tiểu thuyết lãng mạn, nàng lại đem lòng yêu mến vị hiệp sĩ nghèo hèn, vô danh ấy.

Với sự sáng suốt bẩm sinh của người cha trong tiểu thuyết lãng mạn, vị lãnh chúa von Berlichingen thời bấy giờ đã tống giam con gái mình vào ngục tối, hay hầm nhốt người, hoặc một xó xỉnh quái quỷ nào đó, và quyết định rằng nàng sẽ phải ở yên đó cho đến khi chọn được một người chồng trong số những kẻ cầu hôn giàu có và quý tộc của mình. Bọn họ thường xuyên đến thăm và làm phiền nàng bằng những lời van xin, nhưng vô ích, bởi trái tim nàng vẫn luôn hướng về chàng Thập tự quân nghèo khó bị rẻ rúng đang chiến đấu ở Đất Thánh. Cuối cùng, nàng quyết định không thể chịu đựng thêm sự quấy rầy của những kẻ giàu có ấy nữa; thế là vào một đêm giông bão, nàng trốn thoát, xuôi theo dòng sông và ẩn mình vào hang động ở bờ bên kia. Cha nàng cho người lùng sục khắp nơi nhưng chẳng tìm thấy chút dấu tích nào của nàng. Khi ngày tháng trôi qua mà vẫn biệt vô âm tín, lương tâm ông bắt đầu cắn rứt, liền cho ra thông cáo rằng nếu nàng còn sống và chịu quay về, ông sẽ không phản đối nữa, nàng muốn kết hôn với ai cũng được. Những tháng ngày cứ thế nặng nề trôi qua, hy vọng hoàn toàn vụt tắt trong lòng lão bá tước, ông từ bỏ mọi thú vui và công việc thường nhật, dâng mình cho các việc thiện và khát khao cái chết đến giải thoát.
Giờ đây, cứ đúng nửa đêm mỗi ngày, vị tiểu thư bất hạnh lại đứng ở cửa hang, khoác lên mình bộ y phục trắng và cất lên một khúc tình ca nhỏ mà chàng Thập tự quân đã sáng tác riêng cho nàng. Nàng thầm nghĩ rằng nếu chàng còn sống trở về, những người nông dân mê tín sẽ kể cho chàng nghe về con ma hay hát trong hang, và ngay khi họ miêu tả bài hát đó, chàng sẽ nhận ra rằng ngoài hai người ra chẳng ai khác biết đến giai điệu ấy, nhờ vậy chàng sẽ đoán được là nàng còn sống và sẽ đến tìm nàng. Thời gian thấm thoát trôi qua, người dân trong vùng trở nên vô cùng lo lắng về Hồn ma trong Hang động Bị ám. Người ta đồn rằng xui xẻo đủ điều luôn giáng xuống bất cứ kẻ nào bất hạnh nghe được khúc ca ấy. Cuối cùng, mọi tai họa xảy ra quanh vùng đều bịổ dồn lên đầu khúc âm thanh đó. Hậu quả là chẳng có người chèo thuyền nào dám bén mảng đi ngang qua hang vào ban đêm; còn dân làng thì né tránh nơi này ngay cả giữa ban ngày.

Thế nhưng, thiếu nữ chung tình vẫn cứ hát, đêm này qua đêm khác, tháng này qua tháng nọ, và kiên nhẫn chờ đợi; phần thưởng rồi sẽ đến với nàng. Năm năm đằng đẵng trôi qua, và cứ mỗi khi nửa đêm về sáng, những khúc ca ai oán ấy vẫn văng vẳng lan tỏa khắp vùng đất tịch mịch, trong khi những người chèo thuyền và nông dân ở đằng xa phải bịt chặt tai lại và run rẩy cất lên một lời cầu nguyện.
Và rồi chàng Thập tự quân cũng trở về nhà, làn da rám nắng và đầy những vết sẹo chiến trận, nhưng mang theo một danh Vọng lớn lao và lừng lẫy để đặt dưới chân người vợ chưa cưới của mình. Lãnh chúa già của Hornberg đón nhận chàng như con đẻ, muốn chàng ở lại bên cạnh để làm niềm an ủi và phúc đức cho tuổi già của mình; thế nhưng câu chuyện về lòng trung thành của thiếu nữ trẻ dành cho chàng cùng những hậu quả bi thảm của nó đã biến vị hiệp sĩ thành một con người khác hẳn. Chàng không thể tận hưởng những phút giây nghỉ ngơi xứng đáng. Chàng nói rằng trái tim mình đã tan nát, rằng phần đời còn lại sẽ dành trọn cho những nghĩa cử cao đẹp vì nhân loại, để từ đó tìm lấy một cái chết xứng đáng và một cuộc đoàn tụ phước hạnh với trái tim can trường, chân thực—người mà tình yêu dành cho chàng còn vinh quang hơn tất cả những chiến thắng trên chiến trường.
Khi nghe về quyết định này của chàng, dân làng liền đến và kể rằng trong Hang động Bị ám có một con ác thú tàn độc trá hình con người, một sinh vật đáng sợ mà chưa một hiệp sĩ nào dám đối mặt, đồng thời khẩn khoản xin chàng hãy trừ khử mối họa đang tàn phá vùng đất này. Chàng nhận lời. Họ kể cho chàng nghe về khúc ca ấy, và khi chàng gặng hỏi đó là bài hát gì, họ đáp rằng ký ức về nó đã phai mờ, bởi chẳng ai còn gan dạ để lắng nghe nó trong suốt hơn bốn năm qua.
Gần đến nửa đêm, chàng Thập tự quân xuôi dòng nước trên một chiếc thuyền, tay cầm chắc cây nỏ sở trường. Chàng lướt đi trong im lặng giữa bóng nước mờ ảo phản chiếu từ những vách đá và hàng cây, đôi mắt đăm đăm nhìn chằm chằm về phía vách đá thấp đang đến gần. Khi tiến lại gần hơn, chàng nhận ra cửa hang đen ngẫm. Kìa—đó có phải là một bóng trắng không? Đúng vậy. Khúc ca ai oán bắt đầu cất lên, vang vọng và lan tỏa khắp đồng cỏ và sông nước—chiếc nỏ từ từ được giương lên tư thế ngắm bắn, một đường ngắm chuẩn xác được xác lập, mũi tên xé gió bay thẳng tới mục tiêu—bóng trắng ngã gục xuống, vẫn đang hát dở, vị hiệp sĩ rút những cục bông gót ra khỏi tai, và nhận ra giai điệu xưa cũ—quá muộn rồi! Ôi, giá như lúc đó chàng đừng nhét bông vào tai!

Chàng Thập tự quân lại lên đường ra trận, và chẳng bao lâu sau đã hy sinh trên chiến trường vì Thánh giá. Truyền thuyết kể rằng trong suốt mấy thế kỷ sau đó, linh hồn của vị thiếu nữ bất hạnh vẫn cất tiếng hát mỗi đêm trong hang vào lúc nửa đêm, nhưng khúc nhạc ấy không hề mang theo lời nguyền rủa nào; và mặc dù rất nhiều kẻ ngóng chờ âm thanh huyền bí ấy, chỉ một số ít có diễm phúc nghe được, bởi vì chỉ những ai chưa từng thất hứa mới có thể lắng nghe. Người ta tin rằng tiếng hát ấy vẫn tiếp tục vang lên, nhưng ngặt nỗi chẳng một ai nghe thấy nó trong suốt thế kỷ này.

