Ngay gần tượng Sư tử Lucerne là nơi người ta gọi là “Vườn Sông băng”—và đó là khu vườn duy nhất trên thế giới. Nó nằm trên một khu đất cao. Cách đây bốn hoặc năm năm, một số công nhân khi đang đào móng làm nhà tình cờ phát hiện ra di tích thú vị này từ một thời đại đã lùi vào dĩ vãng. Các nhà khoa học nhận thấy nơi đây là một minh chứng khẳng định các giả thuyết của họ về thời kỳ băng hà; thế là nhờ sự thuyết phục của họ, mảnh đất nhỏ ấy đã được mua lại và bảo vệ vĩnh viễn không cho xây dựng lên trên. Lớp đất được gạt bỏ, để lộ ra những đường rãnh cày xới và xói mòn do sông băng cổ đại tạo ra trong chuyến hành trình chậm chạp và đầy nhọc nhằn của nó. Lòng đá gốc bị đục thủng bởi những cái hố khổng lồ hình cái vạc, vốn được tạo thành do dòng nước xiết cuồn cuộn chảy bên dưới mọi sông băng cuốn những khối đá lớn quay cuồng cọ sát vào trong đó. Những tảng đá tròn khổng lồ này vẫn nằm lại trong các cái hố; chúng cùng với thành hố đã bị mòn nhẵn do sự cọ xá liên hồi trong suốt những ngày tháng xa xôi ấy.

Phải có một lực vô cùng mạnh mẽ mới có thể khuấy đảo những khối đá lớn này theo cái cách đầy mãnh liệt ấy. Vùng đất xung quanh vào thời đó có hình dạng rất khác—các thung lũng từ đó đến nay đã nhô lên thành đồi, còn những ngọn đồi đã biến thành thung lũng. Những tảng đá được phát hiện trong các cái vạc đá đã phải di chuyển một quãng đường rất xa, bởi vì chẳng có loại đá nào giống như thế ở gần đây ngoài Sông băng Rhone ở mãi đằng xa.
Trong mấy ngày đầu, chúng tôi vô cùng mãn nguyện khi được ngắm nhìn hồ Lucerne màu xanh ngắt cùng những dãy núi tuyết chồng chất bao bọc xung quanh—một cảnh tượng vô cùng lôi cuốn, bởi vì có một vẻ đẹp và sức hấp dẫn kỳ lạ, mê hoặc ở một đỉnh núi tuyết uy nghi dưới ánh mặt trời rực rỡ hay dưới ánh trăng đang dịu dàng tô điểm—nhưng cuối cùng chúng tôi quyết định thử làm một chuyến du ngoạn bằng tàu thủy và một chuyến leo bộ nhanh lên Rigi. Quả thực, chúng tôi đã có một chuyến đi tuyệt vời đến Fluelen vào một ngày nắng đẹp lộng gió. Mọi người đều ngồi trên boong trên, trên những chiếc ghế băng, dưới tấm bạt che nắng; ai nấy đều trò chuyện, cười đùa và trầm trồ trước phong cảnh tuyệt diệu; thực ra, một chuyến đi trên hồ đó gần như là sự tận hưởng thú vị tột cùng.

Những ngọn núi là một điều kỳ diệu không bao giờ dứt. Thỉnh thoảng chúng nhô thẳng lên từ mặt hồ, vươn cao ngút ngàn và che khuất con tàu nhỏ bé của chúng tôi bằng khối dáng khổng lồ của mình theo một cách đầy ấn tượng. Đây không phải là những ngọn núi phủ đầy tuyết, thế nhưng chúng vẫn vươn cao tận trời xanh để chạm tới những đám mây và che khuất phần đỉnh trong sương mây. Chúng không hề cằn cỗi hay gai góc, mà được bao phủ bởi một màu xanh tươi, mang lại cảm giác thư thái và dễ chịu cho mắt nhìn. Và đôi khi chúng dựng đứng đến mức người ta không thể tưởng tượng nổi làm sao có thể giữ được thăng thế trên một bề mặt như vậy, thế mà vẫn có những con đường mòn, và người Thụy Sĩ vẫn đi lên đi xuống ở đó mỗi ngày.

Đôi khi, một trong những vách đá quái vật này lại có độ nghiêng nhẹ giống như sườn của những chiếc nhà kho đóng tàu khổng lồ—rồi càng lên cao tít tắp về phía bầu trời, nó lại ngả dốc mạnh hơn một chút, giống như mái nhà kiểu Mansard—và bám víu trên cái mái nhà chóng mặt ấy, người ta có thể thoáng thấy những vật nhỏ xíu giống như chuồng chim bách thanh, rồi nhận ra ngay đó là nhà của những người nông dân—quả là một chốn dung thân lơ lửng giữa không trung. Và giả sử có một người nông dân mộng du bước đi, hoặc đứa con của anh ta ngã khỏi khoảnh sân trước?—thì bạn bè của họ sẽ phải trải qua một chuyến hành trình dài lê thê từ trên độ cao chọc trời đó xuống tận dưới mới tìm thấy thi thể. Thế mà những ngôi nhà xa xôi ấy trông vẫn thật quyến rũ làm sao, chúng tách biệt khỏi thế gian đầy muộn phiền, chìm đắm trong bầu không khí yên bình và mộng mị—chắc chắn không ai đã quen sống ở chốn cao xanh ấy lại muốn quay về sống ở một nơi thấp kém hơn.
Chúng tôi lướt qua những khúc uốn cong xinh xắn nhất của mặt hồ, giữa những bức tường xanh khổng lồ ấy, luôn miệng tận hưởng những niềm vui mới khi khung cảnh tráng lệ tuần tự mở ra trước mắt chúng tôi rồi cuộn lại khuất sau lưng; và thỉnh thoảng chúng tôi lại trải qua cảm giác kinh ngạc đầy hồi hộp khi bất chợt bắt gặp một khối trắng khổng lồ sừng sững như đỉnh Jungfrau uy nghi ở đằng xa hay một người khổng lồ nào đó tương tự, vươn cao đầu và vai vượt lên trên một vùng đồi núi Alps nhỏ hơn ngổn ngang bên dưới.
Có một lần, khi tôi đang say sưa ngắm nhìn một trong những cảnh tượng bất ngờ ấy và cố gắng thu trọn vào tầm mắt hết mức có thể trong lúc nó còn hiện hữu, tôi bỗng bị cắt ngang bởi một giọng nói trẻ trung và vô tư lự:
“Anh là người Mỹ phải không—tôi cũng vậy.”
Cậu ta khoảng mười tám, hoặc có thể mười chín tuổi; dáng người mảnh khảnh và cao trung bình; khuôn mặt cởi mở, bộc trực, hạnh phúc; ánh mắt láo liên nhưng độc lập; chiếc mũi hếch, ra điều hơi rụt rè lùi lại đằng sau bộ ria mép non tơ màu lụa phía dưới cho đến khi được chính thức giới thiệu; chiếc hàm lỏng lẻo, có vẻ hoạt động rất dễ dàng trong các khớp nối. Cậu đội một chiếc mũ rơm vành nhỏ, chóp thấp, quấn dải ruy băng xanh bản rộng thêu hình chiếc mỏ neo màu trắng ở phía trước; áo khoác ngắn bảnh bao, quần dài, áo gác-xê, tất cả đều gọn gàng, lịch sự và hợp thời trang; tất sọc đỏ, giày da bóng khoét rất thấp, buộc bằng ruy băng đen; dải ruy băng xanh quấn quanh cổ, cổ áo bẻ rộng; khuy măng-sét đính kim cương li ti; găng tay da không một nếp nhăn; tay áo sơ mi thò ra ngoài, được cài bằng hai chiếc khuy bạc mờ lớn khắc hình mặt chó—chó sục Anh. Cậu cầm một chiếc gậy ba-toong mảnh dẻ, trên đầu có chạm trổ hình đầu chó sục Anh với đôi mắt bằng thủy tinh đỏ. Kẹp dưới nách là một cuốn ngữ pháp tiếng Đức—sách của Otto. Tóc cậu ngắn, thẳng và mượt, và lát sau khi cậu quay đầu đi một thoáng, tôi thấy tóc được rẽ ngôi đạch đòi rất đẹp ở phía sau. Cậu lấy một điếu thuốc lá từ trong một chiếc hộp xinh xắn, nhét nó vào cái tẩu bằng bọt biển được đựng trong một chiếc bao da, rồi với tay lấy điếu xì-gà của tôi. Trong lúc cậu đang châm lửa, tôi liền lên tiếng:
— Vâng—tôi là người Mỹ.

“Tôi biết ngay mà—lúc nào tôi cũng đoán trúng. Anh đi chuyến tàu nào sang đây thế?”
— Holsatia.
“Bọn tôi đi tàu Batavia—hãng Cunard đấy, chắc anh biết chứ. Chuyến hải trình của anh thế nào?”
— Khá là động.
“Bọn tôi cũng thế. Thuyền trưởng bảo từ trước tới nay ông ấy hiếm khi thấy chuyến nào động dữ dội thế. Anh ở đâu tới vậy?”
— New England.
“Tôi cũng thế. Tôi ở New Bloomfield. Có ai đi cùng anh không?”
— Có—một người bạn.
“Cả nhà tôi đi cùng đấy. Đi du lịch một mình buồn chết đi được—anh có nghĩ thế không?”
— Hơi buồn thật.
“Anh đã sang đây bao giờ chưa?”
— Rồi.
“Còn tôi thì chưa. Chuyến đi đầu tiên của tôi đấy. Nhưng tụi tôi đi khắp nơi rồi—Paris và đủ mọi chốn. Năm tới tôi sẽ vào học ở Harvard. Giờ lúc nào cũng đang học tiếng Đức đây. Không học thuộc tiếng Đức thì không vào được. Tôi biết kha khá tiếng Pháp đấy—tôi xoay sở khá ổn ở Paris, hay bất cứ nơi nào người ta nói tiếng Pháp. Anh đang trọ ở khách sạn nào thế?”
— Schweitzerhof.
“Không đời nào! Thế á? Sao tôi chẳng bao giờ thấy anh ở phòng tiếp khách nhỉ. Tôi hay lui tới phòng tiếp khách lắm, vì ở đó có đông người Mỹ lắm. Tôi làm quen được khối người. Cứ nhìn thấy ai là tôi biết ngay người Mỹ—thế là tôi ra bắt chuyện và làm quen thôi. Tôi thích lúc nào cũng được làm quen với mọi người—anh có thế không?”
— Chúa ơi, có chứ!
“Anh thấy đấy, làm thế sẽ phá vỡ cái sự tẻ nhạt của một chuyến đi thế này, cực kỳ hay luôn. Tôi chưa bao giờ thấy chán trong một chuyến đi kiểu này, miễn là tôi làm quen được với ai đó và có người để trò chuyện. Nhưng tôi nghĩ một chuyến đi thế này sẽ chán ngắt khủng khiếp, nếu người ta chẳng tìm được ai để làm quen và trò chuyện dọc đường. Tôi thích nói chuyện lắm, anh có thế không?”
— Cực kỳ đam mê là khác.
“Anh có thấy chán trong chuyến đi này không?”
— Không phải lúc nào cũng chán, chỉ một phần thôi.
— Thế đấy!—anh thấy chưa, lẽ ra anh phải đi quanh đây để làm quen và nói chuyện chứ. Đó là phong cách của tôi. Đó là cách tôi vẫn hay làm—cứ đi vòng quanh, quanh, quanh và nói, nói, nói—tôi chẳng bao giờ thấy chán cả. Anh đã lên núi Rigi lần nào chưa?”
— Chưa.
“Có định đi không?”
— Chắc là có.
“Anh định trọ ở khách sạn nào thế?”
— Tôi chưa biết. Có nhiều hơn một khách sạn cơ à?
“Ba cái liền. Anh cứ trọ ở khách sạn Schreiber ấy—đảm bảo đông nghịt người Mỹ. Anh vừa bảo anh đi chuyến tàu nào sang nhỉ?”
— City of Antwerp.
“Chắc là tàu Đức nhỉ. Anh có định đi Geneva không?”
— Có.
“Anh định trọ ở khách sạn nào?”
— Khách sạn Hôtel de l’Ecu de Génève.
“Đừng có dại nhé! Chẳng có ma nào là người Mỹ ở đấy đâu! Anh cứ trọ ở mấy cái khách sạn lớn bên kia cầu ấy—chúng đông nghẹt người Mỹ luôn.”
— Nhưng tôi muốn luyện tập tiếng Ả Rập của mình.
“Lạy Chúa tôi, anh biết nói tiếng Ả Rập cơ à?”
— Vâng—đủ để xoay sở qua loa.
— Xừ quỷ thật, ở Geneva anh chẳng xoay sở được đâu—họ có nói tiếng Ả Rập đâu, họ nói tiếng Pháp cơ. Thế còn ở đây anh đang trọ khách sạn nào?”
— Khách sạn Pension-Beaurivage.
— Chà, anh phải trọ ở Schweitzerhof chứ. Không lẽ anh không biết Schweitzerhof là khách sạn tốt nhất ở Thụy Sĩ à?—hãy nhìn vào cuốn Baedeker của anh mà xem.”
— Vâng, tôi biết chứ—nhưng tôi cứ đinh ninh là ở đó chẳng có người Mỹ nào.”
— Không có người Mỹ á! Ôi giời ơi, ở đấy nhung nhúc người Mỹ ấy chứ! Lúc nào tôi chả có mặt ở phòng tiếp khách lớn. Tôi làm quen được bao nhiêu là người ở đấy. Dù không nhiều bằng hồi đầu, vì giờ chỉ có mấy vị mới đến mới dừng chân ở đó—mấy vị kia đi thẳng tuột qua rồi. Anh ở đâu tới thế?”
— Arkansaw.
“Thế á? Tôi ở New England—nhà tôi ở New Bloomfield cơ. Hôm nay tôi đang có một chuyến đi tuyệt cú mèo đây, anh có thế không?”
— Tuyệt trần.
— Tôi cũng gọi thế đấy. Tôi thích kiểu lang thang phóng khoáng, thoải mái thế này, được làm quen và trò chuyện. Cứ thấy người Mỹ là tôi nhận ra ngay; thế là tôi ra bắt chuyện và làm quen. Tôi chẳng bao giờ thấy chán trong một chuyến đi thế này, miễn là được làm quen với người mới và trò chuyện. Tôi thích nói chuyện khủng khiếp luôn nếu vớ được đúng đối tượng, anh có thế không?”
— Tôi thích nó hơn bất kỳ trò tiêu khiển nào khác.
— Tôi cũng có ý đó đấy. Giờ thì có khối kẻ thích cầm một cuốn sách rồi ngồi xuống đọc, đọc, đọc và đọc, hoặc ngẩn ngơ ngắm nghía cái hồ hay mấy ngọn núi non này nọ, nhưng tôi thì không thèm; ừ đấy, nếu họ thích thì cứ việc làm, tôi chẳng có ý kiến gì; còn về phần tôi, nói chuyện mới là thứ tôi thích. Anh đã lên núi Rigi chưa?”
— Rồi.
“Anh trọ ở khách sạn nào thế?”
— Schreiber.
“Đúng chỗ rồi đấy!—tôi cũng trọ ở đấy, đông nghẹt người Mỹ phải không nào? Lúc nào cũng thế—lúc nào cũng vậy. Người ta bảo thế mà. Ai cũng nói vậy cả. Anh đi chuyến tàu nào sang thế?”
— Ville De Paris.
“Chắc là tàu Pháp rồi. Chuyến hải trình thế nào... xin phép anh một phút nhé, có mấy vị người Mỹ tôi chưa gặp bao giờ kìa.”
Thế là cậu ta tót đi mất. Cậu ta đi mà vẫn toàn thây—tôi thoáng có cái ý định tàn nhẫn là phóng cái gậy leo núi vào lưng cậu ta, thế nhưng khi tôi vừa giơ vũ khí lên thì ý định đó bỗng biến mất; tôi thấy mình không nỡ ra tay sát hại cậu ta, bởi cậu ta đúng là một kẻ đần độn vui vẻ, ngây thơ và tốt bụng hết chỗ nói.
Nửa tiếng sau, tôi đang ngồi trên băng ghế để chăm chú quan sát một khối đá liền khối vô cùng uy nghi mà chúng ta vừa lướt qua—một khối đá không phải do con người tạo hình, mà do bàn tay vĩ đại tự do của Tự nhiên ưu ái ban tặng—một khối đá hình kim tự tháp sừng sững cao tám mươi thước, được Tự nhiên nhào nặn từ mười triệu năm trước để chờ đến ngày một người xứng đáng với nó cần đến nó làm đài tưởng niệm. Cuối cùng thì thời điểm ấy cũng đến, và giờ đây vật kỷ niệm vĩ đại này mang tên Schiller bằng những chữ cái khổng lồ khắc trên bề mặt. Thật kỳ lạ là tảng đá này không hề bị bôi nhọ hay vấy bẩn theo bất kỳ hình thức nào. Người ta kể rằng cách đây hai năm, có một kẻ lạ mặt đã đu dây từ đỉnh xuống và sơn chi chít khắp bề mặt bằng những chữ cái màu xanh còn to hơn cả tên của Schiller, với nội dung như sau:
“Hãy dùng Sozodont;”
“Hãy mua Xi- đánh bếp Sun;”
“Thuốc Buchu của Helmbold;”
“Hãy thử dùng Benzaline cho máu.”
Hắn ta đã bị bắt và hóa ra hắn là một người Mỹ. Trong phiên tòa xét xử, vị thẩm phán đã nói với hắn thế này:
“Anh xuất thân từ một vùng đất nơi bất kỳ kẻ vô lại nào thích đều có quyền phỉ báng và súc phạm Tự nhiên, và qua đó súc phạm cả Chúa trời của Tự nhiên, miễn là làm thế hắn có thể đút túi được một xu bẩn thỉu. Nhưng ở đây thì mọi chuyện lại khác. Vì anh là người ngoại quốc và vô tri, tôi sẽ tuyên án nhẹ tay; nếu anh là người bản xứ thì tôi đã xử lý anh nghiêm khắc rồi. Hãy nghe và tuân lệnh đây: —Ngươi sẽ phải lập tức xóa sạch mọi dấu vết của công trình xúc phạm ấy khỏi tượng đài Schiller; ngươi phải nộp phạt mười nghìn quan; ngươi sẽ phải chịu hai năm tù lao động khổ sai; sau đó ngươi sẽ bị đánh bằng roi ngựa, bôi hắc ín và lông vũ, bị lột tai, bị khiêng trên một thanh gỗ ra tận biên giới tổng giáp và bị trục xuất vĩnh viễn. Những hình phạt nghiêm khắc nhất đã được lược bỏ trong trường hợp của ngươi—không phải để khoan hồng cho ngươi, mà là dành cho cái nước cộng hòa vĩ đại đã bất hạnh sinh ra ngươi.”

Những chiếc ghế băng trên tàu được đặt quay lưng vào nhau dọc theo boong tàu. Phần tóc gáy của tôi vô tình cọ sát vào phần tóc gáy của một cặp quý bà. Ngay sau đó, có ai đó đã lên tiếng bắt chuyện với họ và tôi nghe lõm bõm được đoạn hội thoại sau:
“Hai chị là người Mỹ phải không? Tôi cũng thế.”
— Vâng—chúng tôi là người Mỹ.
“Tôi biết ngay mà—lúc nào tôi cũng đoán trúng. Các chị đi chuyến tàu nào sang thế?”
— City of Chester.
“À vâng—hãng Inman. Bọn tôi đi tàu Batavia—Cunard đấy, các chị biết chứ. Chuyến hải trình của các chị thế nào?”
— Khá ổn.
“Thế là may mắn đấy. Bọn tôi gặp trận động dữ dội khủng khiếp. Thuyền trưởng bảo từ trước tới nay ông ấy hiếm khi thấy chuyến nào động dữ dội thế. Các chị ở đâu tới vậy?”
— New Jersey.
“Tôi cũng thế. Không—ý tôi không phải thế; tôi ở New England cơ. Nhà tôi ở New Bloomfield. Mấy đứa trẻ này là con các chị à?—của cả hai người à?”
— Chỉ của một người chúng tôi thôi; chúng là con tôi; bạn tôi chưa lập gia đình.
“Chắc là độc thân nhỉ? Tôi cũng thế. Hai chị đi du lịch một mình à?”
— Không—chồng tôi đi cùng chúng tôi.
“Cả nhà tôi đi cùng đấy. Đi du lịch một mình buồn chết đi được—các chị có nghĩ thế không?”
— Chắc là vậy rồi.

“Kia kìa, núi Pilatus lại xuất hiện rồi kìa. Được đặt theo tên của Pontius Pilate đấy, người đã bắn quả táo trên đầu William Tell ấy mà. Sách hướng dẫn ghi rõ mọi thứ về nó, người ta bảo thế. Tôi chẳng đọc đâu—có một người Mỹ kể cho tôi đấy. Tôi chẳng đọc sách khi đang lang thang thế này để tận hưởng niềm vui đâu. Các chị đã bao giờ nhìn thấy nhà nguyện nơi William Tell từng giảng đạo chưa?”
— Tôi không biết là ông ấy từng giảng đạo ở đó đấy.
— Ồ có chứ, ông ấy giảng ở đó đấy. Người Mỹ đó kể với tôi thế. Anh ta chẳng bao giờ gấp cuốn sách hướng dẫn lại cả. Anh ta rành mọi thứ về cái hồ này hơn cả lũ cá dưới hồ ấy chứ. Hơn nữa, người ta gọi nó là ‘Nhà nguyện Tell’ mà—chính các chị cũng biết điều đó còn gì. Các chị đã sang đây bao giờ chưa?”
— Rồi.
“Còn tôi thì chưa. Chuyến đi đầu tiên của tôi đấy. Nhưng tụi tôi đi khắp nơi rồi—Paris và đủ mọi chốn. Năm tới tôi sẽ vào học ở Harvard. Giờ lúc nào cũng đang học tiếng Đức đây. Không học thuộc tiếng Đức thì không vào được. Cuốn sách này là sách ngữ pháp của Otto. Quả là một cuốn sách cực hay để gạt bỏ cái đám ich habe gehabt haben ra khỏi đầu. Nhưng thực ra tôi có học hành gì đâu khi cứ lang thang kiểu này. Hứng lên là tôi cứ lẩm bẩm cái điệp khúc ich habe gehabt, du hast gehabt, er hat gehabt, wir haben gehabt, ihr haben gehabt, sie haben gehabt của mình—kiểu như bài ‘Khi con nằm xuống con ngủ thiếp đi’ ấy mà, các chị biết đấy, rồi sau đó, có khi ba ngày liền tôi chẳng thèm đụng đến nó nữa. Tiếng Đức hại trí tuệ khủng khiếp; phải tiếp thu nó từ từ từng lượng nhỏ thôi, bằng không thì các chị sẽ thấy bộ não của mình dính bết lại với nhau, và cảm thấy chúng lúc lắc trong đầu y như là bơ chảy vậy. Nhưng tiếng Pháp thì khác; tiếng Pháp chẳng là cái thá gì cả. Tôi chẳng sợ tiếng Pháp hơn một tên lang thang sợ bánh ném đâu; tôi có thể bắn ra mấy chữ j’ai, tu as, il a cùng mấy thứ linh tinh khác dễ như ăn kẹo vắt. Tôi xoay sở khá ổn ở Paris, hay bất cứ nơi nào người ta nói tiếng Pháp. Các chị đang trọ ở khách sạn nào thế?”
— Khách sạn Schweitzerhof.
— Không đời nào! Thế á? Sao tôi chẳng bao giờ thấy các chị ở phòng tiếp khách lớn nhỉ. Tôi hay lui tới đó lắm, vì ở đó có đông người Mỹ lắm. Tôi làm quen được bao nhiêu là người. Các chị đã lên núi Rigi lần nào chưa?”
— Chưa.
“Có định đi không?”
— Chúng tôi đang tính thế.
“Các chị định trọ ở khách sạn nào thế?”
— Tôi chưa biết.
“Thế thì các chị cứ trọ ở khách sạn Schreiber đi—đông nghịt người Mỹ luôn. Các chị vừa đi chuyến tàu nào sang thế?”
— City of Chester.
“À vâng, tôi nhớ là tôi hỏi các chị câu đó rồi thì phải. Nhưng lúc nào tôi cũng hỏi mọi người xem họ đi chuyến tàu nào sang, thế nên thỉnh thoảng tôi quên béng mất lại hỏi lại. Các chị có định đi Geneva không?”
— Có.
“Các chị định trọ ở khách sạn nào?”
— Chúng tôi dự định trọ ở một nhà trọ bình dân.”
“Tôi hầu như không tin là các chị sẽ thích chỗ đó đâu; rất ít người Mỹ ở nhà trọ bình dân lắm. Thế còn ở đây các chị đang trọ khách sạn nào?”
— Khách sạn Schweitzerhof.
— Ồ vâng. Tôi cũng hỏi các chị câu đó rồi còn gì. Nhưng lúc nào tôi cũng hỏi mọi người xem họ trọ ở khách sạn nào, thế nên đầu óc tôi cứ lú lẫn hết cả lên vì mấy cái khách sạn. Nhưng làm thế cho rôm rả chuyện trò, mà tôi thì thích nói chuyện lắm. Nó làm tôi sảng khoái hẳn lên—các chị có thấy thế không—trong một chuyến đi thế này ấy?”
— Vâng—thỉnh thoảng thì có.
“Vâng, tôi cũng thế. Cứ được nói chuyện là tôi chẳng bao giờ thấy chán cả—các chị cũng thế phải không?”
— Vâng—nói chung là vậy. Nhưng quy tắc nào cũng có ngoại lệ.
— À tất nhiên rồi. Bản thân tôi cũng chẳng hứng thú gì chuyện trò với tất cả mọi người. Nếu có ai vừa mở mồm ra là cứ huyên thuyên, huyên thuyên, huyên thuyên về phong cảnh, lịch sử, tranh ảnh và đủ thứ chuyện phát bực lên được, là tôi đâm ra ngứa ngáy chân tay ngay lập tức. Tôi sẽ nói ngay ‘Ờ thôi, bây giờ tôi phải đi đây—hy vọng sẽ gặp lại các chị’—rồi tôi tản bộ đi chỗ khác. Các chị ở đâu tới thế?”
— New Jersey.
“Ối dào ơi, tôi hỏi các chị câu đó lúc nãy rồi còn gì. Các chị đã ngắm tượng Sư tử Lucerne chưa?”
— Vẫn chưa.
“Tôi cũng thế. Nhưng cái người kể cho tôi nghe về núi Pilatus bảo đó là một trong những thứ phải xem đấy. Nó dài tới hai mươi tám thước cơ. Nghe có vẻ vô lý, nhưng dẫu sao anh ta cũng nói thế. Anh ta tận mắt thấy nó ngày hôm qua; bảo là lúc đó nó sắp chết rồi, thế nên tôi đoán chắc giờ nómẻ đèo rồi cũng ngỏm củ tỏi rồi. Nhưng chuyện đó chẳng quan trọng gì, kiểu gì người ta cũng nhồi bông nó lên thôi. Các chị vừa bảo lũ trẻ là con của các chị—hay của cô ấy nhỉ?”
— Con tôi.
— Ồ, hóa ra thế. Các chị có định lên... ơ không, tôi hỏi các chị câu đó rồi. Chuyến tàu nào... ơ không, tôi cũng hỏi câu đó rồi còn gì. Khách sạn nào các chị... ơ không, các chị bảo tôi rồi mà. Để xem nào... ừm.... À, chuyến hải trình kiểu... ơ không, tụi mình bàn nát nước vụ đó rồi còn gì. Ừm... ừm... thôi, chắc chỉ có thế thôi. Chào buổi sáng—rất vui được làm quen với các chị. Chào tạm biệt.”
