Lão nông giàu có tên là Huss.

Hắn thừa hưởng được một gia tài phân bón kếch xù và nhờ siêng năng mà ngày càng vun vén cho nó thêm đầy đặn. Bãi phân này thậm chí còn được đánh hai ngôi sao trong cẩm nang Baedeker. [1] Một họa sĩ vùng Rừng Đen đã vẽ lại nó — coi đó là tuyệt tác đời mình. Nhà vua cũng thân chinh đến ngắm nhìn. Gretchen Huss là con gái kiêm người thừa kế duy nhất. Paul Hoch, chàng thanh niên nhà bên, đến cầu hôn Gretchen — bề ngoài là vậy, nhưng thực chất hắn nhắm đến đống phân kia.

Bản thân Hoch cũng sở hữu không ít xe "tiền tệ" của vùng Rừng Đen, thế nên hắn là một mối bắt bợ rất hời; nhưng hắn lại thực dụng, keo kiệt và khô khan, trong khi Gretchen lại là hiện thân của sự lãng mạn và thi vị. Hans Schmidt, một thanh niên hàng xóm khác, dạt dào tình cảm và thi vị, đem lòng yêu Gretchen, và nàng cũng yêu chàng. Chỉ tiếc là chàng chẳng có lấy một đống phân nào. Lão Huss cấm cửa không cho chàng bước chân vào nhà. Trái tim tan vỡ, chàng bỏ đi vào chốn rừng sâu để tìm cái chết, cách xa thế giới tàn nhẫn — bởi như chàng cay đắng thốt lên: "Con người là cái thá gì, nếu không có phân bón?"
1. Khi sách hướng dẫn của Baedeker nhắc đến một địa điểm và gắn hai ngôi sao (**) đằng sau, điều đó có nghĩa nơi ấy rất đáng ghé thăm. M.T.
[Khoảng cách sáu tháng.]

Paul Hoch đến gặp lão Huss và tuyên bố: "Cuối cùng tôi cũng giàu có như ngài yêu cầu — hãy đến và chiêm ngưỡng gia tài đi." Lão Huss đến xem và phán rằng: "Đủ tiêu chuẩn rồi — hãy đón lấy nó và sống hạnh phúc nhé," — ý lão là cưới Gretchen.
[Khoảng cách hai tuần.]
Đám cưới tề tựu đông đủ tại phòng khách nhà lão Huss. Hoch điềm tĩnh và mãn nguyện, còn Gretchen thì khóc sướt mướt cho số phận hẩm hiu của mình. Viên thủ quỹ trưởng của lão Huss xồng xộc bước vào. Huss giận dữ quát: "Ta đã cho ngươi ba tuần để tìm hiểu lý do tại sao sổ sách của ngươi không khớp, và chứng minh rằng ngươi không phải kẻ biển thủ; thời hạn đã hết — hãy giao ra tài sản bị mất, không thì ngươi sẽ vào tù vì tội ăn trộm." Viên thủ quỹ đáp: "Tôi đã tìm ra rồi." "Ở đâu?" Viên thủ quỹ (vẻ nghiêm nghị, bi tráng): "Nằm ngay trong đống tài sản của chú rể! — hãy nhìn tên trộm kìa — hãy xem hắn tái mét và run lẩy bẩy!" [Cả hội trường xôn xao.] Paul Hoch: "Tiêu đời rồi, tiêu đời rồi!" — ngã lăn quay vào con bò cái trong trạng thái ngất xỉu và bị còng tay ngay lập tức. Gretchen: "Được cứu rồi!" Ngã vào lòng con bê trong niềm vui sướng ngất ngây, nhưng được đỡ lấy bởi vòng tay của Hans Schmidt — người vừa lao vào đúng khoảnh khắc ấy. Lão Huss: "Gì thế, đồ vô lại kia mày dám bén mảng đến đây sao? Buông con bé ra và cút khỏi nơi này." Hans (vẫn đang ôm lấy người thiếu nữ ngất lịm): "Không bao giờ! Lão già tàn nhẫn, hãy biết rằng tôi đến đây với những quyền lợi mà ngay cả ông cũng không thể coi thường."

Huss: "Cái gì? Nói rõ xem nào."
Hans: "Hãy lắng nghe đây. Thế giới đã bỏ rơi tôi, và tôi cũng từ bỏ thế giới, tôi lang thang chốn rừng thiêng nước độc, mong mỏi cái chết nhưng tìm mãi chẳng ra. Tôi sống qua ngày bằng rễ cây, và trong sự cay đắng tột cùng, tôi toàn đào những củ cay đắng nhất, căm ghét cả những loại ngọt ngào. Trong lúc đào bới, cách đây ba ngày, tôi đã chạm trán một mỏ phân! — một Golconda, một mỏ vàng lộ thiên vô tận, toàn là phân đặc nguyên chất! Tôi có thể mua đứt tất cả các người, và vẫn thừa thãi những dãy núi phân bón! Ha-ha, giờ thì ngươi đã hé nụ cười rồi đấy chứ!" [Cả hội trường chấn động lớn.] Màn trưng bày các mẫu vật lấy từ mỏ. Lão Huss (tràn đầy phấn khích): "Đánh thức nó dậy, lay nó dậy đi, chàng thanh niên cao quý, nó thuộc về cậu rồi!" Lễ cưới diễn ra ngay tại chỗ; viên thủ quỹ được phục hồi chức vụ và bổng lộc; Paul Hoch bị tống giam vào ngục. Vua mỏ phân của vùng Rừng Đen sống thọ đến đầu bạc răng long, được ban phước bởi tình yêu của người vợ cùng hai mươi bảy người con, và niềm ganh tị ngọt ngào không kém của tất cả mọi người xung quanh.
Hôm ấy, chúng tôi dùng bữa trưa với món cá hồi chiên tại quán trọ The Plow ở một ngôi làng rất xinh xắn (Ottenhoefen), rồi bước vào phòng sinh hoạt chung để nghỉ ngơi và hút thuốc. Ở đó, chúng tôi thấy chừng chín hay mười vị chức sắc của vùng Rừng Đen đang quây quần bên một chiếc bàn. Họ chính là Hội đồng Giáo xứ. Họ đã tụ tập ở đó từ lúc tám giờ sáng để bầu ra một thành viên mới, và tính đến nay họ đã ngồi uống bia suốt bốn tiếng đồng hồ bằng tiền túi của vị thành viên mới ấy.

Họ đều là những người đàn ông ở độ tuổi năm mươi hoặc sáu thập kỷ cuộc đời, mang gương mặt đôn hậu, nghiêm cẩn, và diện trên mình thứ trang phục quen thuộc qua những câu chuyện về vùng Rừng Đen: những chiếc mũ phớt nỉ màu đen rộng vành, chóp tròn với phần vành uốn cong lên ở mọi phía; những chiếc áo ghi-lê đỏ dài với hàng khuy kim loại lớn, cùng áo khoác alpaca đen có phần eo được đẩy lên tận bả vai. Không có bài phát biểu nào, rất ít lời qua tiếng lại, chẳng có sự phù phiếm nào diễn ra; các thành viên hội đồng cứ thế nạp bia vào người một cách từ từ, đều đặn nhưng chắc chắn, và cư xử đúng mực với dáng vẻ đứng đắn của những người có địa vị, những người có tầm ảnh hưởng, những con người của phân bón.
Buổi chiều, chúng tôi có một chuyến hành trình đầy oi bức leo ngược thung lũng, đi dọc theo bờ cỏ của một dòng suối nước trong vắt đang chảy xiết, băng qua những nông trại, cối xay nước, và vô số những cây thánh giá bên đường cùng tượng các vị thánh và Đức Mẹ. Những cây thánh giá này được những người còn sống dựng lên để tưởng nhớ những người đã khuất, và chúng xuất hiện dày đặc gần như những cột điện ở các xứ sở khác.
Chúng tôi đi theo con đường dành cho xe ngựa và gặp phải cái vận đen quen thuộc: hành quân dưới cái nắng cháy da cháy thịt, và lúc nào cũng thấy bóng râm bỏ chạy khỏi những chỗ mát mẻ ngay trước khi chúng tôi kịp đặt chân tới. Trong suốt những chuyến lang thang, chúng tôi hiếm khi nào bắt gặp một đoạn đường đúng vào thời điểm nó râm mát. Buổi chiều hôm đó thực sự là một khoảng thời gian nóng nực đỉnh điểm, và niềm an ủi duy nhất chúng tôi có thể vớt vát được là việc những người nông dân đang lầm lũi làm việc tít trên sườn núi dốc đứng phía trên đầu chúng tôi còn khổ sở hơn cả chúng tôi nữa. Chẳng mấy chốc, cái sự chói chang và oi bức ngột ngạt ấy trở nên không tài nào chịu đựng nổi nữa; thế là chúng tôi quyết định cắt ngang qua khe núi và bước vào chốn hoàng hôn thâm u, mát lạnh của khu rừng, để đi tìm cái gọi là "con đường cũ" trong cuốn cẩm nang du lịch.
Chúng tôi đã tìm thấy một con đường cũ, và hóa ra đó chính là con đường đúng, mặc dù lúc bước đi trên đó, trong lòng chúng tôi đinh ninh rằng mình đang đi lạc. Nếu đó là con đường sai thì việc vội vã chẳng có ích gì; thế nên chúng tôi thong thả bước, thường xuyên ngồi phịch xuống thảm rêu mềm mại để tận hưởng sự tĩnh lặng thư thái và bóng râm của chốn rừng hoang. Trên con đường dành cho xe ngựa lúc nãy có quá nhiều thứ phân tâm — nào là học sinh, nông dân, xe ngựa, những tốp học sinh đi bộ du ngoạn đến từ khắp nơi trên nước Đức — nhưng con đường cũ này chỉ thuộc riêng về mình chúng tôi.
Thỉnh thoảng, trong lúc nghỉ chân, chúng tôi lại quan sát chú kiến chăm chỉ làm việc. Tôi chẳng tìm thấy điều gì mới mẻ ở nó — và chắc chắn là chẳng có gì đủ sức làm thay đổi quan điểm của tôi về loài vật này. Dường như về mặt trí tuệ, loài kiến đã bị đánh giá quá cao một cách kỳ lạ. Đã qua bao nhiêu mùa hè rồi, tôi vẫn luôn quan sát nó, ngay cả khi lẽ ra tôi nên làm những việc có ích hơn, thế mà tôi vẫn chưa chạm trán được một con kiến sống nào có vẻ khôn ngoan hơn một con kiến chết cả. Tất nhiên là tôi đang nói đến loài kiến thông thường; chứ tôi chưa có kinh nghiệm gì với những con kiến Thụy Sĩ hay châu Phi kỳ diệu biết bầu cử, nuôi quân đội chính quy, bắt nô lệ và tranh cãi về tôn giáo. Những loài kiến đặc thù đó có thể xuất sắc đúng như những gì các nhà tự nhiên học miêu tả, nhưng tôi đoan chắc rằng giống kiến bình thường chỉ là một lũ bịp bợm.

Tất nhiên tôi phải thừa nhận sự chăm chỉ của nó; nó là sinh vật làm việc chăm chỉ nhất trên đời — miễn là có ai đó đang nhìn vào — nhưng cái đầu bọc da cứng nhắc của nó mới là điều tôi muốn lên án. Nó ra ngoài đi kiếm mồi, tóm được một thứ gì đó, và rồi nó làm gì tiếp theo? Về nhà ư? Không — nó đi bất cứ đâu trừ hướng về nhà. Nó chẳng biết nhà mình nằm ở đâu cả. Nhà nó có khi chỉ cách đó vỏn vẹn một thước — mặc kệ chứ, nó không tài nào tìm ra nổi. Như tôi đã nói, nó chộp được chiến lợi phẩm; thường thì đó là thứ chẳng có chút giá trị sử dụng nào cho bản thân nó hay bất kỳ ai khác; nó thường to gấp bảy lần so với mức cần thiết; nó lùng sục để chọn lấy cái điểm cầm nắm oái ăm nhất; nó nhấc bổng vật đó lên không trung bằng toàn bộ sức lực và bắt đầu cắm cổ chạy; không phải chạy về hướng nhà, mà là hướng ngược lại;

chạy không hề bình tĩnh hay khôn ngoan, mà với một vẻ vội vã cuồng loạn vừa phí phạm sức lực; nó đâm sầm vào một hòn sỏi, và thay vì vòng qua, nó lại trèo ngược lên đỉnh hòn sỏi ấy trong khi vẫn lê lết chiến lợi phẩm theo sau, rồi ngã nhũn xuống ở phía bên kia, lồm cồm bò dậy với vẻ mặt giận dữ, phủi bụi trên quần áo, xoa tay, hung dữ túm lấy tài sản của mình, giật phăng sang bên này rồi sang bên kia, đẩy nó lăn lóc về phía trước một lát, rồi lại quay ngoắt cái đuôi hèn mọn ra để kéo lê nó thêm một lát nữa, càng lúc càng nổi khùng lên, để rồi chẳng mấy chốc lại hất bổng món đồ lên không trung và cắm cổ chạy tít theo một hướng hoàn toàn mới; rồi nó đụng phải một cọng cỏ dại; trong đầu nó không bao giờ lóe lên ý nghĩ vòng qua; không, nó phải leo lên bằng được; và quả nhiên nó leo thật, vừa lê lết món đồ vô tích sự của mình lên đến tận đỉnh — một hành động thông minh ngang ngửa việc tôi vác một bao bột mì từ Heidelberg đến Paris qua ngõ ngọn tháp nhà thờ Strasbourg; khi lên đến đỉnh rồi, nó mới ngớ người nhận ra đấy không phải là chỗ cần đến; liếc mắt đánh giá cảnh quan xung quanh rồi hoặc là lủi thủi trèo xuống, hoặc là lăn kềnh xuống, và lại bắt đầu cắm cổ chạy một lần nữa — theo lệ thường, lại theo một hướng hoàn thế mới. Sau nửa tiếng đồng hồ lồng lộn, nó kết thúc hành trình bằng việc dừng chân cách đúng sáu inch so với điểm xuất phát ban đầu và đặt gánh nặng xuống; trong khi đó, nó đã càn quét qua mọi ngóc ngách trong bán kính hai thước xung quanh, trèo lên tất cả mọi cọng cỏ dại và hòn sỏi mà nó vô tình giẫm phải. Bây giờ nó mới lau mồ hôi trên trán, duỗi các chân, rồi lại vô định bước đi với một vẻ vội vã bạo liệt như cũ. Nó hoàn toàn không nhớ mình đã từng nhìn thấy chỗ này bao giờ chưa; nó ngó nghiêng xung quanh để tìm ra hướng nào không phải là đường về nhà, túm lấy bọc đồ của mình rồi xách mé lao đi; nó lại trải qua chuỗi phiêu lưu y hệt như lúc trước; cuối cùng dừng lại nghỉ ngơi và một người bạn xuất hiện. Hiển nhiên là người bạn kia sẽ trầm trồ khen ngợi chiếc cẳng cào cào từ năm ngoái là một chiến lợi phẩm vô cùng cao quý, đồng thời hỏi xem nó vớ được ở đâu.
Rõ ràng là chủ nhân của chiến lợi phẩm không nhớ chính xác mình đã nhặt nó ở đâu, nhưng cho rằng chắc là "quanh đâu đây thôi". Rõ ràng là người bạn ngỏ ý hợp tác giúp vận chuyển nó về nhà. Thế rồi, với một sự phán đoán ngốc nghếch đậm chất loài kiến (tôi không có ý chơi chữ đâu nhé), chúng túm lấy hai đầu của chiếc cẳng cào cào đó và bắt đầu gồng mình kéo giật lùi về hai hướng đối lập bằng tất cả sức lực. Chẳng mấy chốc chúng lại phải dừng lại để hội ý với nhau. Chúng kết luận rằng có gì đó sai sai, dù không tài nào đoán ra được là sai ở điểm nào. Thế rồi chúng lại lao vào kéo bừa như cũ. Kết quả y nguyên. Những lời qua tiếng lại buộc tội lẫn nhau tiếp diễn. Hiển nhiên là con này quy chụp con kia là kẻ phá hoại. Chúng lao vào khóa chặt lấy nhau và nhai ngấu nghiến hàm của đối phương một hồi; sau đó lăn lộn tả tơi trên mặt đất cho đến khi một con bị mất râu hoặc gãy chân và buộc phải lết ra một góc để băng bó. Rồi chúng làm hòa và lại lao vào công việc theo cái kiểu điên rồ muôn thuở ấy, chỉ có điều là con kiến tàn tật giờ đây ở thế bất lợi; mặc sức nó cố găng gượng kéo đến đâu chăng nữa, con khỏe hơn vẫn cứ lôi tuột cả chiến lợi phẩm lẫn nó đi theo ở cái đuôi bên kia. Thay vì bỏ cuộc, nó cứ bám chặt lấy, để rồi ống chân bị bầm dập tơi tả trước mọi chướng ngại vật cản đường. Chẳng mấy chốc, khi cái cẳng cào cào ấy đã bị lôi đi lê lết khắp cái mặt đất quen thuộc đó thêm một lần nữa, nó cuối cùng cũng bị vứt bỏ ngay xấp xỉ chỗ mà nó từng nằm ban đầu, hai con kiến đầm đìa mồ hôi đứng đực ra trầm ngâm ngắm nghía nó rồi kết luận rằng cẳng cào cào khô hóa ra cũng chỉ là một thứ tài sản tồi tệ chẳng ra gì, thế là mỗi con lại lủi thủi tản ra theo một hướng khác nhau để xem liệu mình có vớ được một chiếc đinh cũ hay món gì đó đủ nặng để tạo sự giải trí nhưng đồng thời lại vô giá trị đến mức khiến một con kiến phải khao khát sở hữu nó hay không.

Ngay ở vùng Rừng Đen đó, trên sườn núi, tôi từng tận mắt chứng kiến một con kiến diễn lại toàn bộ vở kịch lố bịch này với một con nhện chết có trọng lượng nặng gấp mười lần cơ thể nó. Con nhện lúc đó chưa chết hẳn, nhưng cũng đã ngắc ngoải chẳng thể chống cự nổi. Nó có cái thân tròn vo to bằng hạt đậu. Con kiến nhỏ — nhận thấy có kẻ đang quan sát mình — bèn lật ngửa con nhện lại, cắm ngập răng nanh vào cổ nó, nhấc bổng lên không trung rồi cắm cổ chạy nước đại, vấp phải những hòn sỏi nhỏ, dẫm lên chân nhện khiến chính nó ngã chúi đầu, lê lết con nhện thụt lùi, đẩy xác nó xềnh xệch về phía trước, kéo nó vượt qua những hòn đá cao sáu inch thay vì vòng qua chúng, trèo lên những ngọn cỏ dại cao gấp hai mươi lần cơ thể mình rồi nhảy bổ xuống từ đỉnh của chúng — và cuối cùng vứt quẳng nó giữa đường để mặc cho bất kỳ con kiến đần độn nào khác muốn hốt xác thì hốt. Tôi đã đo lại quãng đường mà gã ngu ngốc này đã vượt qua, và rút ra kết luận rằng những gì mà nó hoàn thành trong vòng chưa đầy hai mươi phút sẽ tương đương với một khối lượng công việc thế này đối với một con người — nếu tính theo tỷ lệ tương đối: nghĩa là, buộc giật cục hai con ngựa nặng tám trăm cân lại với nhau, vác chúng đi mười tám trăm thước, chủ yếu là leo qua (chứ không vòng qua) những tảng đá có chiều cao trung bình sáu inch, và trong suốt hành trình đó phải trèo lên rồi nhảy tót xuống từ đỉnh của một vách đá hiểm trở cỡ thác Niagara cùng ba ngọn tháp nhà thờ, mỗi ngọn cao một trăm hai mươi phút; và sau đó đặt bẵng những con ngựa xuống một nơi hoang vắng, chẳng có ai trông nom, rồi lủi đi tận đẩu tận đâu để thỏa mãn một phép màu ngớ ngẩn nào đó chỉ vì lòng kiêu hãnh.
Khoa học gần đây đã phát hiện ra rằng loài kiến hoàn toàn chẳng tích trữ bất cứ thứ gì cho mùa đông. Phát hiện này sẽ khiến nó bị gạch tên khỏi văn học, ít nhất là ở một mức độ nào đó. Nó chẳng chịu làm việc bao giờ, trừ khi có người đang đứng nhìn, và thậm chí chỉ làm khi kẻ quan sát có vẻ mặt ngây ngô kiểu nhà tự nhiên học và có vẻ đang cặm cụi ghi chép. Hành vi này chẳng khác nào lừa bịp, và nó sẽ làm tổn hại uy tín của loài kiến trong mắt các trường học Chủ Nhật. Nó thậm chí không có đủ sự khôn ngoan để phân biệt được thứ gì ăn được và thứ gì không. Sự dốt nát này sẽ làm suy giảm sự tôn trọng của thế giới dành cho nó. Nó không thể đi dạo vòng quanh một gốc cây rồi tự tìm đường về nhà nổi. Sự đần độn này đã rõ mười mươi, và một khi sự thật phũ phàng này được xác lập, những người có tư duy sẽ ngừng tôn sùng nó, còn những kẻ đa sầu đa cảm sẽ chẳng thèm vuốt ve nó nữa. Sự siêng năng được ca tụng bấy lâu của nó hóa ra chỉ là một sự hão huyền vô tích sự, bởi vì nó chẳng bao giờ tha được thứ gì về đến nhà từ điểm xuất phát. Điều này tước đoạt nốt tom tém danh tiếng còn sót lại và hoàn toàn phá hủy giá trị cốt lõi của nó như một biểu tượng đạo đức, vì nó sẽ khiến những kẻ lười biếng phải chần chừ không thèm đến học tập nó nữa. Thật là kỳ lạ, vượt quá mọi tầm hiểu quả, khi một kẻ bịp bợm trơ trẽn như loài kiến lại có thể qua mặt được từng ấy quốc gia và duy trì trò hề đó qua bao nhiêu thời gian mà mãi vẫn không bị phát hiện.
Loài kiến thì khỏe thật, nhưng chúng tôi lại chứng kiến một sinh vật mạnh mẽ khác, ở một nơi mà trước đó chúng tôi hoàn toàn không ngờ tới sự hiện diện của một cơ bắp cường tráng đến thế. Một cây nấm độc — loại thực vật vươn mình đạt kích thước trưởng thành chỉ trong một đêm — đã tự bứt phá và nâng bổng một thảm kim thông cùng đất mùn có thể tích gấp đôi cơ thể nó lên không trung, rồi chống đỡ nó ở đó, tựa như một chiếc cột gánh lấy mái lều. Chắc là mười nghìn cây nấm độc, nếu biết cách chọn điểm tựa, cũng có thể nhấc bổng một con người lên ấy chứ. Nhưng làm thế để làm gì nhỉ?
Toàn bộ cuộc hành trình của chúng tôi trong buổi chiều hôm ấy đều là leo dốc. Khoảng năm giờ hoặc năm giờ rưỡi, chúng tôi đã lên đến đỉnh, và đột nhiên bức màn rậm rạp của khu rừng rẽ sang hai bên, mở ra trước mắt chúng tôi một thung lũng sâu thẳm tuyệt đẹp cùng toàn cảnh những ngọn núi phủ rừng bạt ngàn với những chóp đỉnh tỏa sáng dưới ánh mặt trời và sườn núi bị khoét sâu bởi những khe thung lũng mờ ảo trong sắc tím hoàng hôn. Khe núi ngay dưới chân chúng tôi — được gọi là Allerheiligen — tạo ra một khoảng không gian bằng phẳng ngập tràn cỏ xanh ở phần thượng nguồn, tựa như một tổ ấm ấm cúng và nên thơ, cách ly hoàn toàn với thế giới bận rộn ngoài kia, và chính vì thế các tu sĩ thời xưa đã không bỏ lỡ cơ hội thám thính nơi này; và bằng chứng là những di tích tu viện mang sắc nâu trầm mặc, xinh xắn của họ vẫn còn nằm lại đây, chứng minh rằng bảy trăm năm trước các tu sĩ cũng có bản năng tinh tế hệt như những bậc tu sĩ ngày nay trong việc săn lùng những góc nhỏ trác tuyệt nhất trên một vùng đất.
Một khách sạn lớn giờ đây đang mọc lên lấn chiếm một góc khuất của khu di tích và đang phất lên nhờ lượng khách du lịch mùa hè tấp nập. Chúng tôi đi xuống khe núi và thưởng thức một bữa tối sẽ vô cùng trọn vẹn nếu như món cá hồi không bị đem đi luộc. Người Đức chắc chắn sẽ luộc cá hồi hoặc bất kỳ thứ gì khác nếu để họ tự do tự túc nấu nướng. Đây là một luận điểm khá có trọng lượng để củng cố cho giả thuyết rằng họ chính là những hậu duệ nguyên thủy của những bộ lạc hoang dã trên vùng bờ biển Scotland. Vài năm trước, một chiếc tàu buôn chở đầy cam đã gặp nạn ở một trong những hòn đảo ngoài khơi đó, và những kẻ hoang dã dịu dàng nọ đã nhiệt tình giúp đỡ người thuyền trưởng đến mức ông hào phóng cho họ bao nhiêu quả cam tùy thích. Hôm sau, ông hỏi họ thấy cam thế nào. Họ lắc đầu và bảo rằng:
"Đem nướng thì dai nhách; mà dẫu có luộc lên đi nữa, thì chúng cũng chẳng phải là thứ mà một kẻ đang đói khát có thể thèm thuồng."

Chúng tôi tiếp tục đi xuống khe núi sau bữa tối. Nơi đây thật đẹp — sự hòa quyện giữa vẻ nên thơ của rừng già và nét hoang dã gập ghềnh của vách đá. Một dòng suối trong vắt như pha lê réo rắt đổ xuống thung lũng, và càng về phía hạ nguồn, nó càng uốn lượn qua một khe núi hẹp nằm giữa những vách đá sừng sững rồi lao mình qua một chuỗi các tầng thác. Sau khi vượt qua ngọn thác cuối cùng, người ta có thể ngoái đầu nhìn lại khung cảnh dòng thác vô cùng mãn nhãn — chúng tuôn trào thành một chiếc cầu thang bảy bậc gồm những dòng thác bọt tung trắng xóa và lấp lánh, tạo nên một bức tranh quyến rũ đến lạ thường.