[TIÊU ĐỀ CHƯƠNG: Chương 4: Tháng Tư]
Ngày 15 tháng 4, Naples.—Tôi sắp sửa rời Naples sau chừng ba bốn tháng lưu lại đây. Dù thời tiết hết sức thất thường, sức khỏe của tôi đang hồi phục thấy rõ. Do bị gián đoạn vì nạn dịch tả cùng những sự phiền hà khác, tôi chẳng làm được bao nhiêu việc. Tôi chỉ mới gửi về nhà các bức thư qua đường L.L. Stuart và ba tập của quyển "Cuộc vây hãm Malta". Tôi gửi chúng qua con trai của Lord Cowper—ông Cowper đang trên đường trở về vì đã hết hạn nghỉ phép—cùng hai rương sách nhờ anh em nhà Turner ở Malta chuyển giùm, họ sẽ chất lên một con tàu để gửi tới ông Cadell thông qua Whittaker. Tôi hy vọng chúng sẽ đến nơi an toàn. Tôi đã mua một chiếc xe ngựa kín loại nhỏ, được bảo đảm là đồ mới của Anh, tốn mất 200 bảng, để tiện cho hành trình trở về nhà. Xe chở được Anne, Charles và hai người gia nhân. Sáng mai chúng tôi sẽ khởi hành đi Rome, sau đó sẽ bắt đầu chặng đường về quê nhà, bởi kế hoạch đi Hy Lạp đã tan thành mây khói do nghe đâu Ngài Frederick Adam sắp đi Madras, nên ông ấy sẽ không thể điều một tàu hộ vệ đến như đã hứa. Tôi đã tốn một khoản tiền lớn cho chi phí y tế, sách vở và các thứ khác, song cũng chưa đến mức thái quá.
Trong lúc này, rất có thể chúng tôi sẽ phải trải qua một chuyến đi đầy kì thú. Bọn tướng cướp, những kẻ vốn là chủ đề của biết bao câu chuyện, nay lại hoạt động trở lại và đã có nhiều chuyến xe bị chặn bắt. Việc viết lại lịch sử của những kẻ hung tợn này hẳn sẽ là một tác phẩm thú vị và thu hút đông đảo độc giả. Washington Irving từng thử sức với đề tài tương tự, nhưng người đứng ra thực hiện công trình này phải là một người Ý, hiểu biết thấu đáo về đất nước, tính cách và tập quán của dân tộc mình. Ông R——, một dược sĩ, đã kể cho tôi nghe một sự việc kì lạ xảy ra ở Calabria khoảng sáu năm về trước; tôi xin ghi lại ngay sau đây như một nguồn tin đáng tin cậy, dù bản thân không thể đứng ra bảo đảm tính xác thực.
CÁI CHẾT CỦA IL BIZARRO.
Kẻ này, xuất phát từ bản tính ma xảo nhưng vô cùng tàn nhẫn, được gọi là Il Bizarro, tức "Kẻ Kì Quái". Hắn là thủ lĩnh của một băng cướp đường và cai trị chúng bằng uy quyền riêng, cho đến khi lực lượng phát triển lên tới 1.000 người bao gồm cả kị binh lẫn bộ binh. Hắn duy trì lực lượng này trên vùng núi Calabria, nằm giữa quân Pháp và quân Naples; hắn thách thức cả hai phe và cướp phá khắp vùng. Những khoản tiền thưởng hậu hình được treo để bắt hắn nhưng chẳng đem lại mấy kết quả, bởi hắn luôn cẩn trọng tự vệ để không bị chính băng nhóm của mình phản bội—vốn là số phận chung của những kẻ tướng cướp thành danh trong nghề. Cuối cùng, một viên đại tá người Pháp, mà tôi đã quên tên, đã đóng quân tại địa bàn của Bizarro và gặt hái thành công lớn khi giăng một vòng vằn khép chặt quanh hắn cùng phe lũ, dồn hắn vào giữa các nếp gấp của một đoàn quân. Đã gần như cạn đường chống cự, tên tướng cướp cùng vợ—một phụ nữ rất xinh đẹp—và đứa con mới vài tháng tuổi đã ẩn nấp bên dưới vòm của một cây cầu cũ. Nhờ một sự thoát thân tưởng chừng như phép màu, họ đã không bị phát hiện bởi một toán quân mạnh mà người Pháp bố trí ngay trên đỉnh vòm cầu. Đêm cuối cùng cũng hạ xuống mà sự việc vẫn chưa bị lộ, dù nguy cơ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Khi trời tối đên như mực, tên tướng cướp yêu cầu người vợ và đứa trẻ phải giữ im lặng tuyệt đối, rồi quyết định lẻn ra khỏi chỗ ẩn nấp; vừa bước ra, hắn vừa đặt tay lên cổ họng đứa bé. Thế nhưng, khi vừa bắt đầu di chuyển, đứa trẻ theo lẽ tự nhiên đã cất tiếng khóc. Trong cơn giận dữ, người cha đã siết chặt tay một cách tàn nhẫn đến mức đứa trẻ tội nghiệp không bao giờ còn có thể cất tiếng làm phiền ai được nữa. Tội ác ghê rợn này đã dẫn đến hồi kết cho cuộc đời của tên cướp.
Người vợ vốn chưa bao giờ yêu thương hắn, mặc dù hắn tin tưởng cô hơn bất kỳ ai cận kề bên mình. Cô vốn là vợ của một người đàn ông khác bị chính người chồng thứ hai này sát hại, và cô bị ép buộc phải bước vào cuộc hôn nhân thứ hai đó, cũng như phải giả vờ đóng vai một người vợ thương yêu chồng. Trong những chuyến bôn tẩu, chỉ duy nhất cô biết hắn ngủ ở đâu mỗi đêm. Hắn để đám tay chân tập trung thành một nhóm trên đỉnh một ngọn đồi quang đãng và cắt cử người canh gác xung quanh. Sau đó, hắn cùng vợ đi riêng vào rừng, chọn một thung lũng hẹp—một bụi rậm tăm tối và sâu thẳm trong ngự—rồi dựng trại nghỉ đêm tại đó. Một con chó săn cừu Calabria to lớn, kẻ luôn đi theo hắn, được buộc vào một cái cây cách đó một khoảng để bảo vệ giấc ngủ cho hắn. Sau khi đặt khẩu súng trường trong tầm tay với từ chỗ nằm, hắn chìm vào giấc ngủ chập chờn điển hình của kẻ mang cái nghề cướp bóc. Nhờ những biện pháp phòng ngừa như vậy, hắn đã bảo vệ được giấc ngủ của mình suốt nhiều năm trời.
Nhưng sau cái chết của đứa trẻ, giọt nước tràn ly cho những tội ác của hắn đối với người mẹ bất hạnh, và tâm trí cô đã quyết định phải trả thù. Một buổi tối, hắn lại cắm trại nghỉ đêm với những biện pháp phòng ngừa tương tự, nhưng lần này không còn may mắn như trước. Hắn đã đặt khẩu súng trường bên cạnh và chìm vào giấc ngủ như thường lệ; đúng lúc đó, người bạn đời của hắn lặng lẽ ngồi dậy. Trước khi hắn kịp nhận ra điều đó, cô đã chộp lấy khẩu súng trường và nổ súng thẳng vào ngực hắn, kết thúc ngay lập tức cả cuộc đời lẫn những tội ác của kẻ tàn bạo. Cô hoàn tất công việc của mình bằng cách chặt đứt đầu tên tướng cướp, mang nó đến thị trấn chính của tỉnh, nộp cho cảnh sát và nhận khoản tiền thưởng treo trên đầu hắn. Người phụ nữ này hiện vẫn còn sống, một người đàng hoàng, có vẻ ngoài nguy hiểm, nhưng hầu như không ai oán trách cô nếu xét đến những cay đắng mà cô đã phải chịu đựng.
Con chó đã giãy giụa dữ dội để thoát ra khi nghe thấy tiếng súng. Có người nói người phụ nữ đã bắn chết nó; kẻ khác lại bảo vì quá hung dữ, nó đã cắn gần gãy cây thân gỗ non chắc chắn mà nó bị buộc vào. Con chó đó xứng đáng có một người chủ tốt hơn.
Doanh trại từ xa của băng cướp đã bị xáo động bởi tiếng nổ từ khẩu súng trường của Bizarro vào lúc nửa đêm. Chúng chạy qua các bụi rậm để tìm thủ lĩnh, nhưng khi thấy hắn đã mất mạng và mất đầu, chúng kinh ngạc đến mức nhiều kẻ đã ra hàng chính quyền và giải nghệ. Băng nhóm của Bizarro, vốn sống nhờ vào sự ma xảo của hắn, cũng tan rã sau cái chết của thủ lĩnh.
Một câu chuyện khác cũng tàn bạo không kém câu chuyện trên được kể lại về sự man rợ của tên tướng cướp này, điều dường như khiến hắn xứng đáng bị coi là một trong những kẻ khốn nạn đáng ghê tởm nhất mang cái tên của hắn. Một sĩ quan người Pháp, người từng tích cực ráo riết truy lùng hắn, đã rơi vào tay hắn và bị hành hình theo cách của Marsyas hay Thánh Polycarp—nghĩa là giữa trưa hè oi ả, viên sĩ quan bị lột da sống, rồi bị bôi mật ướt đượm khắp người và để mặc cho tất cả các loài côn trùng không thể chịu nổi của bầu trời phương Nam xâu xé. Đội quân của viên sĩ quan cũng được thông báo nơi họ có thể tìm thấy người chỉ huy của mình nếu họ muốn đến đón. Vì phải mất hơn hai ngày sau người ta mới tìm thấy người đàn ông tội nghiệp, nên chẳng còn lại gì ngoài những hài cốt thảm thương của ông.
Tôi không đảm bảo tính xác thực của những câu chuyện này, nhưng đó là những điều hiện đang được lưu truyền rộng rãi.
[Chuyến đi từ Naples đến Rome], Ngày 16 tháng 4.—Sau khi lưu lại Naples vài tháng, chúng tôi quyết định làm một chuyến đi đến Rome trong Tuần Thánh để xem các nghi lễ tôn giáo diễn ra tại đây, mặc dù sự lộng lẫy đã giảm bớt do sự nghèo túng của Đức Giáo hoàng. Vì vậy, vào ngày 15, chúng tôi khởi hành từ Naples khi các con tôi đang cảm thấy không được khỏe. Chúng tôi đi qua Champ de Mars, rồi tiếp tục qua Terra di Lavoro, một vùng đất giàu có và phì nhiêu, và dùng bữa sáng tại St. Agatha, một nơi tồi tàn; tuy nhiên chúng tôi lại gặp phải một trải nghiệm xui xẻo. Tôi đã mua một chiếc xe ngựa đi đường dài, được bảo đảm là do Anh chế tạo và đầy đủ mọi tiêu chuẩn. Thế nhưng, khi vừa đi được nửa dặm, một cái bụi cây va vào khiến chiếc bánh xe văng ra; bằng đủ mọi cách xoay xở, chúng tôi mới chật vật quay lại được Agatha, nơi chúng tôi phải ở trong một phòng trọ tồi tàn và ăn một bữa tối tồi tệ. Dù vậy, người dân ở đây rất lịch sự và không có cướp đường hoạt động, do chúng bị khiếp sợ bởi lực lượng hộ tống của Vua vùng Westphalia, người đang trên đường đến Naples. Bánh xe đã được sửa chữa chắc chắn, và vào lúc bảy giờ sáng, chúng tôi lên đường với chút lo âu về những ảnh hưởng sức khỏe khi băng qua đầm lầy rất ẩm ướt gọi là Pontine Bogs nằm giữa Naples và Rome. Đây không phải là thời điểm mà những luồng khí độc hại này nguy hiểm nhất, mặc dù dường như chẳng có lúc nào là an toàn cả. Chúng tôi chú ý đến vùng Capua nổi tiếng, vốn được chia thành Capua mới và Capua cũ. Capua mới nằm bên bờ sông Volturno, dòng sông dẫn nước vào các hào nước xung quanh. Đây vẫn là một căn cứ có sức mạnh nhất định trong chiến tranh hiện đại. Đường vào Capua cũ bị cản trở bởi một chiếc cầu cổ có kiến trúc kì lạ, gồm một số tháp đá đồ sộ đã sụp đổ một nửa. Chúng tôi không đi quá gần chúng, nhưng vị trí này trông rất kiên cố. Chúng tôi đi qua Sinuessa hay Sessa, một thị trấn cổ của người Hy Lạp nằm không xa bờ biển. Con đường từ Naples đến Capua trông giống như một khu vườn cây ăn trái ở cả hai bên, nhưng ôi chao! Nó lại chạy xuyên qua những đầm lầy địa ngục này, nơi không thể tránh khỏi và sự việc từ nhiều người bạn của tôi đã chứng minh là cực kỳ nguy hiểm. Con đường, dù mang dáng vẻ uốn lượn giữa các ngọn đồi, trên thực tế ở phía bên trái lại bị giới hạn bởi dải bờ biển chạy về hướng bắc. Nó đi vào tuyến đường thích hợp hơn tại một đầm lầy biển nổi tiếng tên là Cameria, nơi mà lời sấm truyền từng phán rằng "Ne moveas Camarinam", và việc vi phạm điều răn này đã dẫn đến một trận dịch bệnh. Con đường ở đây là một đèo núi hoang sơ được bao bọc bởi một vách đá dựng đứng; một bên bao phủ bởi vô số bụi cây hoang, hoa cỏ, còn bên kia là biển cả. Sau đó, chúng tôi đến một vị trí quân sự, nơi Murat từng đóng một toán quân và nã pháo vào các pháo thuyền của người Anh, những kẻ cũng chẳng hề chậm trễ trong việc đáp trả. Khi đó người Anh đang đóng quân tại Ý và Sicily dưới quyền của Ngài [John Stuart]. Chúng tôi dùng bữa tối tại nơi này, một nửa được dùng làm doanh trại, một nửa làm quán trọ. (Nơi này hiện nay gọi là Terracina). Gần đó, người ta chỉ cho xem một ngọn tháp tròn được gọi là lăng mộ của Cicero, dù điều này còn đáng nghi ngờ. Trước khi rời Terracina, lẽ ra tôi nên đề cập đến khung cảnh thị trấn và lâu đài Gaeta nhìn từ con đèo. Đó là một lâu đài có sức phòng thủ rất lớn. Lẽ ra tôi cũng nên nhắc đến Aversa, nơi nổi tiếng với một trại tâm thần hoạt động theo phương pháp nhân đạo là không làm kích động cảm xúc của bệnh nhân. Sau chuyến đi dài đằng đẵng trên con đường tồi tệ này, chúng tôi đã ngủ thiếp đi bất chấp những lời cảnh báo ngược lại, và trước khi chúng tôi thức giấc, chúng tôi đã ở trong bán kính hai mươi dặm quanh thành phố Rome. Tôi nghĩ mình đã cảm nhận được tác hại của không khí độc và hơi ẩm qua một cơn đau đầu dữ dội.
Sau một đoạn leo dốc thẳng đứng trên con đường trơn trượt lát đá tồi tàn, Velletri đã đón tiếp chúng tôi và xếp chỗ ở trong một biệt thự hoặc lâu đài cổ, vốn là nơi cư ngụ ban đầu của một quý tộc lâu đời. Tôi rất muốn ngắm nhìn nó một chút; nhưng tôi đã quá mệt mỏi vì chuyến đi. Tôi e rằng thời gian dành cho những cuộc tìm hiểu như vậy của tôi nay đã không còn. Monte Albano, một nơi dễ chịu, cũng nên được nhắc tới, đặc biệt là một khu rừng sồi vĩ đại dẫn thẳng bạn đến khu vực lân cận Rome. Con trai Charles của tôi đã nhờ bạn chúng tôi là Ngài William Gell đặt giùm chỗ ở, điều này xét đến sức khỏe kém của ông ấy thì quả là thiếu công bằng. Con gái tôi cũng nhờ một ân huệ tương tự, nhưng họ lại quên đưa ra chỉ dẫn chính xác làm thế nào để liên lạc với bạn bè về việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Thế là chúng tôi ở đó, theo những gì chúng tôi có lý do để tin tưởng, sở hữu tới hai căn hộ mà lại chẳng biết đường đến căn nào. Chúng tôi tiến vào Rome qua một cánh cổng được trùng tu bởi một trong các Đức Giáo hoàng cũ, nhưng tôi quên mất là ai, và thế là chúng tôi đi diễu hành qua các con phố dưới ánh trăng để tìm kiếm, nếu có thể, chút dấu vết nào của ông William Gell bác học hay cô Ashley xinh đẹp. Cuối cùng, chúng tôi tìm thấy người người gia nhân cũ, người đã dẫn chúng tôi đến chỗ trọ do Ngài William Gell đặt sẵn, nơi mọi thứ đều thoải mái, bao gồm cả một bếp lửa ấm áp mà sự mệt mỏi cùng cái lạnh của đêm tối đòi hỏi. Chúng tôi giải tán ngay sau khi dùng một ít thức ăn, rượu vang và nước uống.
Chúng tôi đã có một giấc ngủ ngon lành, nhưng vào sáng hôm sau
HẾT