Ngày 1 tháng 7.—Ông Daveis ăn sáng cùng tôi. Qua tiếp xúc gần gũi hơn, tôi lại thấy chướng mắt trước một vài cung cách kiểu châu Âu lục địa của ông ta hơn cả lúc ban đầu; quả là khó cho một người Mỹ khi muốn uốn nắn hành vi của mình theo đúng chuẩn mực lịch sự hoàn hảo của chúng ta. Dù sao thì tôi cũng đã xử sự đúng mực, đồng thời mời tiểu thư Ferrier—người mà ông ta hết sức ngưỡng mộ—đến dùng bữa tối cùng. Một người bạn trẻ cũng đến tham dự, thế nên xét về mọi mặt tôi đều đã trọn lễ lịch sự. Thomson cũng dùng bữa tối với chúng tôi. Sau bữa tối, tôi đưa những người khách xa lạ đi hóng mát một vòng quanh các ngọn đồi Corstorphine, rồi trở về theo đường Cramond. Tôi đã gửi cho ông Gibson dự án của Cadell cho kỳ Lammas, trong đó huy động 15.000 bảng để chia cổ tức 3 shilling cho mỗi cổ phần tại thời điểm đó. Tôi nghĩ các người quản trị tài sản nên lắng nghe đề xuất này, bởi nó sẽ thanh toán được một nửa khoản nợ của tôi.
Ngày 2 tháng 7.—Đã nhận được bảo chứng từ John Gibson rằng khoản tiền 15.000 bảng sẽ được dùng đúng như tôi đề xuất. Nếu điều này có thể lặp lại hằng năm cho đến năm 1835 thì mọi chuyện coi như xong, và kết thúc êm đẹp; thế nhưng, ôi cay đắng thay! công chúng lại hay thay lòng đổi dạ, còn những ngôi sao ưa thích của họ thì rồi cũng già đi. Dù vậy, nếu tôi sinh năm 1771 thì đến năm 1831 tôi mới sáu mươi tuổi, và theo logic đó, đến năm 1835 tôi mới sáu mươi tư, cho nên tôi vẫn có thể gồng gánh vượt qua mà chưa đến mức lão nua như ngài Robert Preston. Dù sao đi nữa, đó là tất cả những gì tôi có thể trông cậy vào.
Tôi đã hoàn thành phần việc buổi sáng và bị giữ lại muộn ở Tòa án; về đến nhà, tôi ăn một bữa tối ngon miệng, rồi thiếp đi sau đó dù đã cố gượng, thành ra buổi tối làm việc chẳng ra đâu vào đâu. Tâm trí người ta dễ bị phân tán bởi những công việc giấy tờ vụn vặt nhưng mệt nhoài ở văn phòng; ngày tôi được giải phóng sắp đến rồi, nhưng tôi e là chỉ được một thời hạn ngắn thôi, vì tôi ngờ rằng liệu họ có thông qua Luật Tòa án hay không.
Ngày 3 tháng 7.—Ngày mới của tôi bắt đầu lúc bảy giờ như thường lệ. Ngài Adam đến ăn sáng. Tôi đọc bản in tác phẩm Hành trình người thiên lý do Southey biên tập, và dự định sẽ viết bài điểm sách. Giá mà lúc này tôi có sẵn sách vở trong tay. Tôi đến Tòa án và ở lại đó đến hai giờ; sau đó đi xem các bản vẽ tu bổ Murthly, dinh thự của ngài John hoặc James Stewart do Gillespie Graham đang xây dựng. Ông ta thiết kế nó theo phong cách thời Vua James VI, một kiểu Hy Lạp lai căng—tuy nhiên trông rất ảo diệu và đẹp mắt. Tôi đọc cuốn Every-day Book của Hone, và có thiện cảm với ông hơn tôi tưởng sau những cơn cuồng nhiệt chống tôn giáo của ông ta. Hôm nay chúng tôi sẽ dùng bữa tối với gia đình Skene.
Chúng tôi đã đến dùng bữa đúng như dự định, gặp gỡ vợ chồng ông Strange, Lãnh chúa Forbes và những người bạn khác.
Ngày 4 tháng 7.—Một ngày làm việc trọn vẹn và nghiêm túc, chỉ bị gián đoạn vào buổi tối bởi ông——, người đã ban cho tôi sự hiện diện tự nguyện của mình với tất cả sự tự do và thoải mái theo phong cách lục địa. Nhưng dù sao thì mọi chuyện vẫn có thể tệ hơn, vì lối trò chuyện của ông ta cũng khá ổn; chỉ có điều thật thiếu tinh tế khi cho rằng mình lúc nào cũng được một người xa lạ hoan nghênh vào bất kỳ giờ nào trong ngày; nhưng tôi đã nhét đầy tài liệu vào cặp rồi, nên cũng chẳng tiếc gì nửa tiếng đồng hồ.
Ngày 5 tháng 7.—Tôi thức dậy trước bảy giờ và tiếp tục công việc, đến giờ ăn sáng tôi đã chép tới trang 133; dung lượng có thể lên tới 160 hoặc 170 trang tùy thuộc vào khoảng trống và tư liệu tôi có. Buchanan đến và chép được khoảng mười lăm trang của anh ấy, tương đương với trang của tôi theo tỷ lệ ba đổi một. Vì vậy chúng tôi đã đạt khoảng trang 138 và sắp cập bến. Lúc hai giờ, tôi đi đưa đám George Burnet tội nghiệp, con trai của Gilbert Innes, dưới một trận mưa lớn chưa từng thấy. Đến bốn giờ tôi đã về lại Shandwick Place và ghi chép những dòng này. Hôm nay tôi dùng bữa tối với Câu lạc bộ; cầu trời cho tạnh ráo trước sáu giờ!
Chúng tôi họp mặt tại nhà hàng Barry, dùng một bữa tối tuyệt vời, nhưng chỉ có ít hội viên tham dự. Ôi chao! Tuổi sáu mươi đâu thể hăng hái đến những buổi tụ họp như thế như thời mười sáu, và Câu lạc bộ của chúng tôi đã chứng kiến khoảng cách giữa hai mốc đời đó. Tôi đã về nhà và đi ngủ thì Charles tới thức tôi dậy. Tội nghiệp thằng bé! Nó đang tiến triển rất tốt với đôi chân bị thấp khớp.
Ngày 6 tháng 7.—Sáng nay tôi chẳng làm được gì mấy ngoài việc sửa vài bản in thử, rồi ở Tòa án suốt cả buổi sáng. Khoảng hai giờ tôi ghé qua văn phòng ông Cadell và được biết việc chia cổ tức đã được thu xếp xong. Ngài Adam tình cờ gặp chúng tôi và tranh thủ ngỏ ý để nhận được lời mời đến Cockenzie vào năm tới, vì ông ấy bị mê hoặc bởi lời mô tả sống động của tôi về món cá tuyết nướng ngói. Tôi về nhà trong tình trạng mệt mỏi lử đử, ngủ chợp mắt nửa tiếng (tôi chẳng thích chứng đờ đẫn này chút nào), đọc cuốn I Promessi Sposi (Những người đính hôn) rồi ngồi chơi xào xạc. Tiểu thư Kerr đến dùng bữa tối và chơi nhạc cho chúng tôi nghe.
Ngày 7 tháng 7.—Sáng nay tôi sửa các bản in thử mà J.B. tiến hành khá lề mề, lại còn đưa ra đủ thứ lý do ngành in vốn có sẵn trong tay. Dù hôm nay là Thứ Tư xử án thập phân, nhưng quỷ quái thay lại trùng vào ngày Tòa án Tối cao phiên xử một vụ kiện của tôi; thế là tôi phải ngồi đó nghe điều tranh tụng cả chục vụ án xin tăng bổng lộc cho giáo sĩ, rồi tự hỏi liệu có giáo khu xứ Scotland nào lại không tìm ra được một lý do để mở rộng khoản trợ cấp cho mục sư hay không. Tôi trở về sau hai giờ chiều, đồng hành cùng một trận mưa rào ướt sũng; tôi bị ướt ngoi ngóp và người nóng bừng. Nhưng chúng ta việc gì phải than khóc vì lẽ đó, em yêu?[394] Tôi lại thích một chút giông bão thời tiết; nó cho thấy trong người tôi vẫn còn giữ được chút chất khí hái của ngày xưa. Tôi nhờ ông Buchanan giúp đóng gói giấy tờ và đồ đạc, thế là xong được một phần công việc chẳng mấy dễ chịu đó.
Ngày 8 tháng 7.—Tôi nhận thư như thường lệ, nhưng chẳng có bản in thử nào mãi cho đến lúc chuẩn bị đi ra ngoài. Trên đường từ Tòa án trở về tôi gặp Skene, ông mang đến tin tức rằng chuyến đi thăm của chúng tôi vào thứ Bảy phải hủy bỏ, vì Colin tội nghiệp đã lên thành phố trong tình trạng sức khỏe rất yếu. Tôi ghé thăm ông ấy và thấy ông đang chịu đựng một chứng liệt nhẹ mãn tính, tinh thần suy sụp, dáng vẻ thảm hại, tệ hơn rất nhiều so với lần cuối tôi gặp. Vợ và con gái ông ở trong phòng, vô cùng đau đớn. Chúng tôi chỉ trao đổi vài lời cầu chúc phục hồi và những ngày tốt đẹp hơn, điều mà tôi nghi ngờ là cả hai chúng tôi đều chẳng dám hy vọng. Bởi lẽ tôi chỉ đang nhìn vào cái bóng của một người bạn tri kỷ suốt nhiều năm dài; còn ông ấy, tuy nói rằng gặp tôi khiến ông thấy khá hơn, chắc hẳn cũng chẳng nghĩ rằng chúng tôi sẽ gặp lại nhau trong những hoàn cảnh tươi sáng hơn. Tất nhiên, chúng tôi sẽ đi thẳng đến Abbotsford thay vì đi qua Harcus như dự định ban đầu.
Ngày 9 tháng 7.—Tôi đang phải bận tâm giúp đỡ hai thiếu nữ gặp khó khăn. Người thứ nhất là bạn của Harriet Swinton, cô ấy dịch từ tiếng Ý một tác phẩm được viết theo mô hình cuốn I Promessi Sposi, nhưng tôi e rằng cô không nên kỳ vọng quá nhiều vào giới xuất bản. Đối với họ, một bản dịch chỉ là một bản dịch thuần túy—tức là thứ mà họ có thể sở hữu với giá một guinea cho mỗi tờ in, và họ sẽ không chấp nhận một bản dịch xuất sắc với mức giá cao hơn. Người thứ hai là tiểu thư Young, con gái của Bác sĩ Young đáng kính ở Hawick. Nếu cô ấy có thể rút ra từ thư từ và ghi chép của cha mình những tư liệu để viết nên một bản tiểu sử đơn giản, chỉn chu về đời ông, tôi sẵn sàng đứng tên làm người biên tập, và tôi nghĩ công việc đó có thể thành công; nhưng để làm một ấn phẩm quy mô lớn—thì ôi chao, người bạn Dogberry ạ,[396] thời đó qua rồi. Tôi đã ăn tối với Hội Bannatyne, nơi chúng tôi có một buổi tụ họp rất xôm trò. Đề cập đến các bài hát, một kẻ từng trải già đời phải công nhận sự tiến bộ của thời đại, khi mọi từ ngữ khiêu dâm đều bị lược bỏ, và những lời ám chỉ bậy bạ đều được che đậy. Người ta dễ nảy ra ý muốn nói—
"Hãy thề với ta, hỡi Kate, như một quý bà chính hiệu,
Bằng một lời thề giòn giã đàng hoàng, và bỏ ngay cái kiểu 'thật tình',
Cùng mấy lời thề thốt ngọt ngào như bánh gừng phủ ớt."[397]
Tôi nghĩ rằng phong thái mới này mang tính làm dáng nhiều hơn là sự cải thiện thực sự.
Ngày 10 tháng 7.—Thức dậy khá muộn: chắc là tại rượụ vang săm-panh và món súp rùa đêm qua, bởi sự cải cách của chúng tôi đâu có bao gồm việc ăn chay. Rồi Ardwell tội nghiệp đến ăn sáng; tiếp đến là con gái của Bác sĩ Young. Tôi đã cùng Cadell lên kế hoạch về cuốn tiểu sử của cha cô ấy, do tôi làm biên tập. Nếu cô ấy làm ăn tương đối ổn thì cô có thể thu được kết quả rất tuyệt. Tiếp theo là đến Tòa án, nơi sáu mươi bản án đã được tuyên và thư ký chép lại, tôi hy vọng tất cả đều chính xác, mặc dù sai sót rất dễ xảy ra trong một đám đông như vậy, còn ông——, một trong những người tốt nhất có thể, lại đần độn một cách tệ hại. Dù sao đi nữa, Anne, Charles và tôi cùng lên đường đi Abbotsford. Chúng tôi xuất phát khoảng hai giờ, và vì nước sông quá sâu nên mãi sau bảy giờ mới đến nơi; bữa tối cùng các việc vụn vặt đã lấp đầy phần còn lại của ngày.
Ngày 11 tháng 7, Abbotsford.—Tôi sửa các bản in thử và phần còn lại cho đến khoảng một giờ. Sau đó xuất phát đi dạo đến Chiefswood, tôi sẽ đi từng chặng một, mang theo một cuốn sách trong túi. Tôi đã bắt đầu đọc cuốn Lawrie Todd, tác phẩm đáng lẽ ra phải hay hơn thế nếu xét đến tài năng không ai tranh cãi của tác giả. Ông ấy lẽ ra đã có thể sánh ngang với Cooper, nhưng lại tụt lại phía sau rất xa. Chẳng có gì đáng kinh ngạc: Galt tội nghiệp đang ở trong tù con nợ King's Bench khi viết tác phẩm này. Cảnh túng thiếu chẳng phải là thứ mài sắc thiên tài, dù người ta vẫn bảo cái khó ló cái khôn.
Ngày 12 tháng 7.—Lại một ngày mưa gió, nhưng tôi đã hai lần đi lên đi xuống trên hiên nhà, đồng thời cũng viết được một đoạn bản thảo khá ưng ý, dù có phần bối rối vì thiếu sách vở tham khảo. Vợ chồng Bác sĩ Lockhart cùng cháu Violet đến dùng bữa trưa rồi chia tay chúng tôi để lái xe đi Peebles. Tôi đọc sách, nhàn nhã dạo chơi và khao khát sắp xếp lại đồ đạc cho ngăn nắp. Dù vậy, tôi đã bắt tay vào làm việc từ lúc bảy giờ sáng.
Ngày 13 tháng 7.—Đúng là "thật ngu ngốc làm sao!"[400] Tôi nhận được thư của một gã thanh niên thuộc một gia đình tự cho là uyên bác, thông báo rằng em gái gã đã hiểu nhầm sự quan tâm của tôi đến mức cho rằng chỉ vì khiêm tốn nên tôi mới chưa bày tỏ những mong muốn và hy vọng nhất định. Đối tượng là một người phụ nữ có địa vị xã hội: xét ở khía cạnh đó thì lòng hư vinh của tôi có thể được thỏa mãn. Nhưng làm sao có thể nghĩ rằng tôi lại muốn chiếm hữu một gã lính gác lực lưỡng chuyên đứng canh gác ở điện St. James chứ! Cầu Chúa giải thoát cho tôi! Tôi đã từ chối mà chẳng cần lựa lời khách khí, và cũng chẳng cần phải quá tế nhị khi đẩy lùi một cuộc tấn công như vậy.
Ngày 14 tháng 7.—Dự thảo Luật Tòa án Tối cao hiện đã được đưa ra Thượng viện, nên kỳ này nó sẽ chính thức được tiến hành, và tôi cho rằng mình phải chuẩn bị nhận quyết định nghỉ việc. Tôi khó có thể hình dung ra khả năng mình sẽ không quay trở lại Edinburgh nữa. Thư ký Buchanan của tôi đã đến đây và giúp tôi hoàn thành các bức thư về Thuật ma quỷ, quỷ bắt nó đi. Nhưng công việc thế là đã xong xuôi. Hai quý bà, phu nhân Latouche ở Dublin và cô cháu gái, tiểu thư Boyle, đến ở lại một hai ngày. Người cô là một mệnh phụ già nua đáng kính; lối trò chuyện đúng chất một người đạo đức bị hoảng sợ đến mất trí bởi sự hung hãn và mê tín của những kẻ làm phép lạ ở miền Tây. Tiểu thư Boyle là một thiếu nữ xinh đẹp, khá trầm tính so với một cô gái Ireland.
Ngày 16 tháng 7.—Hôm qua chúng tôi sang thăm Lessudden và đưa phu nhân Latouche đi cùng. Hôm nay, sau khi họ rời đi, chúng tôi tự đi đến nhà Thiếu tá John ở Ravenswood và mời một nhóm đông anh em họ đến dùng bữa tối ngày mai.
Vào buổi tối, một nhóm người nước ngoài đến trước cửa, tôi bước ra thì gặp Bá tước Ladislaus de Potocki, một dòng họ danh giá ở Ba Lan, đi cùng phu nhân và em vợ ông, vì vậy tôi đã mời rượu, cà phê, trà. Người phu nhân có vẻ đẹp vô cùng ấn tượng. Nếu một người phụ nữ như cô ấy mà đem lòng yêu một ông quan tước thọt chân, gần sáu mươi tuổi, thì quả là chuyện đáng để người ta bàn tán! Tôi đã hoàn thành cuốn Thuật ma quỷ.[402]
Ngày 17 tháng 7.—Lại một ngày thời tiết tồi tệ, mưa tầm tã đến mức không thể đi dạo, đe dọa một mùa màng thất thu nặng nề. Tôi bị quấy rỡ bởi những bức thư xin tiền; con ngựa Pegasus của một nhà văn chẳng khác nào chiếc xe ngựa bưu chính đỗ trước cửa quán trọ: số lượng kẻ ăn xin là không thể đếm nổi. Những lời lẽ họ tán dương lòng từ thiện của tôi khiến cái tiếng tốt của tôi trở nên phiền hà chẳng kém gì tiếng tốt của Joseph Surface.[403] Một bữa tối với các anh em họ, đứng đầu là Điền chủ trẻ vùng Raeburn—phải gọi ông ấy như vậy dù ông ấy gần như bằng tuổi tôi. Em trai ông là Robert, người đã ở Ấn Độ suốt bốn mươi năm trừ một chuyến về thăm ngắn ngủi: một gã đàn ông lực lưỡng, phong độ, người đã dũng cảm đương đầu với số phận và giữ vững vị thế như một người nam nhi chi chí. Vốn là bà con thân thích và bạn bè, chúng tôi đã có một ngày sum họp thật vui vẻ. Tất cả đều ra về khi đêm xuống.
Ngày 18 tháng 7.—
"Thời gian trôi, chẳng biết bằng cách nào."
Thế là tôi đã bước sang tuần thứ hai của kỳ nghỉ—dù sao thì việc gì tôi phải ghi chú điều đó?—kỳ nghỉ và kỳ xử án đối với tôi trong tương lai có lẽ cũng như nhau cả thôi. Chuyến đi xa vĩnh viễn rồi cũng phải tính đến, đó là tín hiệu cuối cùng để giải tán, và đó là một suy nghĩ nghiêm trọng.
Tôi đã sửa xong hai tập bản in thử, một tập gửi theo xe thư, một tập gửi theo chuyến xe Blucher ngày mai.
[Không có ghi chép nào trong khoảng thời gian từ ngày 18 tháng 7 đến ngày 5 tháng 9.]
[Ông Lockhart nhận xét rằng chính trong khoảng thời gian này sức khỏe của ngài Walter Scott đã đạt đến mức phục hồi tốt nhất. Dòng ghi chú ngắn sau đây được gửi kèm bài điểm sách tác phẩm Bunyan của Southey tới Chiefswood vào ngày 6 tháng 8:—
"Lockhart thân mến, Tôi gửi cho anh tài liệu kèm theo này. Tôi vốn định tự mình mang sang cùng sự trợ giúp của 'Daddy Dun', nhưng tôi thấy thời tiết đang đổ mưa lớn thực sự.
"Tôi đoán tất cả mọi người đều ở trong nhà, và mấy thợ làm vườn nhỏ tuổi đều đã nghỉ việc.—Thân ái, W.S."]
Một lời thỉnh nguyện vừa đùa vui vừa chân thành, thể hiện sự quan tâm liên tục của ngài Walter đối với sự đãi ngộ dành cho vị 'Mục sư Sampson' tốt bụng, cũng được viết vào thời gian này gửi cho Công tước vùng Buccleuch:—
"ABBOTSFORD, ngày 20 tháng 8.
"Vị mục sư giáo khu ——— vừa ngã xuống cùng với những chú gà trống đen khác của mùa này, khiến tôi một lần nữa đánh táo gan đưa ra lời thỉnh cầu khiêm nhường ủng hộ George Thomson, người gia sư lâu năm của gia đình này. Trường hợp của anh ấy Đức Ngài đã quá rõ, nên tôi sẽ rất có lỗi nếu nói dài dòng thêm. Đạo đức của anh ấy là không thể chê trách, tài năng rất đáng trân trọng. Anh ấy có vài nét kỳ quặc trong cung cách, nhưng điều đó hoàn toàn không ảnh hưởng đến cái đầu hay tấm lòng của anh ấy....
"Tôi sẽ coi đây là một trong những ân huệ sâu sắc nhất trong vô số ân huệ mà tôi nợ dòng họ Buccleuch. Tôi đoán chắc hôm nay Đức Ngài đã bắn được cả chục con cống chim săn. Xin hãy để người trùng tên với Ngài bỏ túi một vị mục sư."