Nhật Ký Sir Walter Scott

Lượt đọc: 180 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tháng Sáu

❊ ❊ ❊

Ngày 1 tháng Sáu.—Hôm qua tôi cũng đã hoàn thành vài dòng ghi chép ngắn ngủi về cuốn sách mang tên Điềm triệu theo lời đề nghị của Blackwood. Tác phẩm có vài nét khiến tôi hài lòng, văn phong cũng khá, dẫu cốt truyện chưa được dẫn dắt thật khéo léo. Trưa qua tôi dùng bữa thân mật cùng gia đình Skene, và được Ngài Chánh ủy phái viên ghé thăm; chúng tôi gặp nhau như hai người cùng chịu tang trước một tai ương chung. Bản tính ông có nét gì đó vô cùng nhân hậu.

Ngài R. Dundas nhã ý mời tôi về chơi miền quê ba ngày vào tuần tới, một lời đề nghị khiến tôi động lòng khôn xiết, chỉ riêng viễn cảnh được gặp lại Anne thôi cũng đủ xao xuyến. Nhưng có lẽ tôi phải kiềm lòng lại và tự nhủ như nàng Tilburina:

“Bổn phận ơi, ta nguyện hiến thân này.”[278]

Nếu làm được vậy, tôi sẽ xứng đáng có một kỳ nghỉ vào khoảng ngày 15 tháng Sáu, và tôi tin đợi đến lúc đó mới là thượng sách.

Ngày 2 tháng Sáu.—Nhận được một bức thư dễ chịu từ Sophia, con bé tội nghiệp; bên ấy mọi bề đều yên ổn, thật tạ ơn Chúa.

Hôm qua tôi viết được một khối lượng khá tốt, những năm trang giấy, gần gấp đôi định mức thường ngày.

Tôi đã quyết chí sẽ không về Abbotsford cho đến tận nửa tháng nữa.

Lẽ ra tôi chẳng cần nhọc công ép mình nén lòng làm gì, bởi đằng nào cũng chẳng đi được, Hamilton vừa phát một cơn gút.

Gibson có vẻ hết sức phấn chấn trước những kiến giải tôi đưa ra cho anh về bản chất yêu sách của Công ty Constable. Vấn đề quy về chỗ này: một khi không còn tư cách chịu trách nhiệm với tư cách nhà xuất bản, họ không thể đòi hỏi các quyền hạn của cương vị ấy, hay viện dẫn bất kỳ yêu sách nào phát sinh từ những hợp đồng ký kết trong thời gian họ còn giữ cương vị đó.

Ngày 3 tháng Sáu.—Sáng nay tôi mệt mỏi vô cùng vì chứng ứ mật và những hệ lụy của nó, mất ngủ nhiều đến mức phải dậy muộn hơn để bù lại. Tôi phải mở bản đồ ra nghiên cứu các chiến dịch ở Ý thay vì cặm cụi viết lách.

Ngày 4 tháng Sáu.—Hôm qua tôi hoàn thành một khối lượng việc khá, còn hôm nay thì thật đồ sộ, hầu như suốt ngày chẳng rời khỏi bàn viết, trừ vài phút khi Phu nhân Rae ghé thăm. Tôi rất mừng được gặp lại người bạn cũ của vợ tôi, người mà thời trẻ chúng tôi từng có biết bao mối giao hảo thân tình. Tôi không chắc làm việc cật lực đến thế có phải là điều hay chăng; nhưng con người ta khi đã vào cơn hứng khởi thì phải biết chớp lấy chính mình, cũng như đối với kẻ khác vậy. Lúc có hứng, người ta làm việc nhiều gấp đôi trong một nửa thời gian, mà kết quả lại tốt gấp bội so với lúc khác. Người đời cứ luôn miệng ca ngợi phương pháp, và ở vài phương diện thì nó cũng tốt thật, phát huy tác dụng rõ rệt nơi giới doanh nhân; nhưng tôi hồ nghi liệu những kẻ sống theo lề thói xơ cứng, cứ đúng giờ hẹn mới chịu cầm bút lên hoặc đặt bút xuống, có bao giờ vượt thoát khỏi kiếp tầm thường chăng. Phu nhân Louisa Stuart xưa kia hay kể với tôi về ông Hoole, dịch giả của Tasso và Ariosto—người trên cương vị ấy quả là một tay cự phách trong việc biến vàng ròng thành chì vụn. Ông ta vốn là một thư ký ở Sở Đông Ấn, chuyên mặc áo cổ tay xếp nếp dài và vận bộ đồ màu thuốc hít, thỉnh thoảng có ghé thăm thân phụ bà [John, Bá tước xứ Bute]. Bà đôi khi trò chuyện với ông ta và lấy làm buồn cười khi thấy ngày nào ông ta cũng hoàn thành đúng chừng ấy câu thơ đôi, chẳng thừa chẳng thiếu một câu; thói quen đã biến công việc ấy thành nhẹ nhõm với ông ta, dẫu đối với người đọc nó có nặng nề đến đâu.

Thế nhưng, nếu tôi buông bút xuống như cơn đau nơi lồng ngực đang nhắc nhở, tôi biết làm gì đây? Nếu ngồi nghĩ ngợi, ôi chao, tôi sẽ lại khóc mất thôi—thật là ủy mị vô lối; vả lại giờ đây tôi chẳng còn người bạn nào—tuyệt nhiên không—để san sẻ nỗi buồn phiền mỏi mệt trong nửa giờ chập choạng bóng hoàng hôn. Hãy biết tạ ơn đời—tôi vừa nhận được tin lành từ Abbotsford.

Ngày 5 tháng Sáu.—Dẫu nay là thứ Hai, tôi cũng chẳng thể nào gắng gượng thúc đẩy công việc, như lời Bayes từng nói.[279] Vừa bận sửa bản in thử vừa phải viết thư từ, đến giờ tôi mới viết nổi hai trang, mà lại trầy trật cùng cảm giác đau nhói nơi ngực. Làm việc quá sức thế này có thể chuốc lấy một chứng bệnh trầm trọng nào đó; song một khi đã trả xong nợ nần sòng phẳng cho người ta, tôi cũng chẳng màng sống chết, chỉ mong sao không phải chịu đựng nỗi đau đớn kéo dài. Harden ghé thăm tôi. Ông ta tranh luận rằng Huân tước M. đã phô trương thái quá tầm quan trọng của mình trong kỳ bầu cử, và bảo Henry đang rất lo lắng về chuyện đó. Tôi gợi ý với ông ta về sự cần thiết phải đối trọng lại điều này trong lần tới, mà ngày ấy thì sắp đến rồi.

Thomson cũng ghé qua bàn về Câu lạc bộ Bannatyne.

Hai sự gián đoạn ấy làm tôi khuây khỏa đôi chút, dẫu bản thân vẫn là một kẻ khốn khổ khôn cùng.

Dẫu sao thì tôi cũng đã gắng gượng cày xong sáu trang; và khiến Wurmser tội nghiệp phải hạ kiếm đầu hàng trên sườn dốc pháo đài Mantua—đầu tôi nhức buốt—mắt mỏi nhừ—lưng đau nhức—ngực cũng ê ẩm—và quả tim tôi, tôi tin chắc rằng nó đang quặn thắt, hỏi Bổn phận còn có thể đòi hỏi gì hơn nơi tôi nữa?

Ngày 6 tháng Sáu.—Sáng nay thức dậy thấy đỡ hơn nhiều nhờ đã uống chút thuốc, cảm giác đau nhức kỳ lạ ở lưng và ngực đã tan biến. Tôi ngờ là do cơ hoành; dẫu vậy vẫn phải để mắt tới. Chưa kịp điểm tâm mà tôi đã giải quyết xong nửa phần việc trong ngày nếu tính theo định mức thông thường.

Làm việc cật lực. John Swinton, người bà con của tôi, đến thăm,—cung cách rất đỗi ân cần và nồng hậu; lòng tôi bao giờ cũng thấy ấm áp trước mối dây liên hệ với dòng họ Swinton, những người luôn trung thành với tâm thức Scotland cổ kính. Harden cũng ở lại cùng tôi. Tôi trò chuyện với ông về những việc Huân tước M. đã làm trong kỳ bầu cử; tôi nhận thấy ông không tán thành—tôi nhớ những chuyến viếng thăm này diễn ra vào hôm mùng 5.

Ngày 7 tháng Sáu.—Lại một ngày làm việc miệt mài, duy chỉ có lúc tám giờ rưỡi tôi phải sang chỗ Trưởng Đoàn Luật sư để hội ý về vụ Constable,[280] và gặp mặt vị Trưởng đoàn kể trên cùng các ông J.S. More và J. Gibson. Tôi nhận thấy họ tràn trề hy vọng thắng kiện đúng như mức độ mà giới luật gia thường tỏ ra; và tôi nghĩ mình hiểu rõ các đồng nghiệp nói năng ra sao một khi họ thực sự chân thành. Bản thân tôi lại chẳng thể dốc lòng tha thiết với vụ việc này. Trước đây, mỗi lần xong những công việc như thế về nhà, tôi thường đem tin tức kể cho Charlotte tội nghiệp, nàng sẽ đổi nét mặt buồn rầu hay hớn hở tùy theo tâm trạng của tôi trước tin mừng hay hung; giờ đây chuyện ấy chỉ thoáng qua lòng tôi nhẹ bẫng. Suýt nữa tôi đã quên bẵng cuộc hẹn nếu J.G. không gửi thiếp nhắc. Lúc đi tới nhà viên Trưởng đoàn, tôi đi ngang qua một người thổi kèn túi trên phố và không kìm lòng được bèn cho anh ta một đồng shilling để nhờ thổi bài Pibroch a Donuil Dhu lấy may—tôi thật trẻ con biết bao!

Ngày 8 tháng Sáu.—Sáng nay trào mật và nhức đầu. Một con chó sủa suốt đêm khiến tôi chợp mắt chẳng được bao lăm. Chú chó tội nghiệp! Tôi dám chắc nó cũng có nỗi thống khổ riêng, hệt như tôi vậy. Lúc Dalgleish vào mở cửa sổ như thường lệ vào sáu giờ rưỡi, tôi buộc phải bảo anh khép lại, rồi nằm mãi đến chín giờ mới dậy, và giờ tôi ngồi đây. Thời trẻ bao lần tôi đáng bị nhức đầu mà chẳng hề hấn gì, nên có lẽ Tự nhiên giờ đang đòi nợ cũ đấy thôi. Phải rồi, nhưng cay đắng thay là sự thiếu vắng bàn tay chăm sóc trìu mến xưa kia vẫn luôn sẵn sàng, với giọng nói hạ thật khẽ và bước chân rón rén nhẹ nhàng sang sửa lại gối đầu—rồi cất lời an ủi và đỡ đần,—nay đã mất—mất rồi—mãi mãi—vĩnh viễn—thiên thu. Thôi thì, vẫn còn một thế giới khác, và chúng ta sẽ lại tương phùng nơi không còn những nỗi bi thương cùng sự yếu đuối trần tục bủa vây chốn này. Amen, nguyện được như lời. Hãy để đôi tay và khối óc chuyển sang đề tài khác, rồi con tim ắt cũng phải theo sau.

Tôi nghĩ việc ngồi lì bao nhiêu ngày và lao lực quá độ có thể là nguyên nhân gây ra cơn nhức đầu này. Hôm nay ắt phải ép mình đi bách bộ một chuyến. Thật kỳ lạ là điều từng làm tôi say mê nơi thôn dã nay ở chốn này lại hóa thành một hình phạt! Mà thôi, nghĩ lại thì tôi sẽ đến chỗ Ngài Chánh Huân tước Tòa Tài chính để tham vấn ý kiến ngài về vụ tranh chấp với Constable; nếu tôi thắng kiện, điều mà tôi tin là có nhiều hy vọng, ông Gibson bảo sẽ có đủ ngân quỹ để chia trả sáu shilling trên mỗi bảng nợ, đó là chưa kể đến bất kỳ khoản nào thu được từ Constable hay Hurst, mà hoàn toàn là tiền mặt ròng do chính tôi làm ra. Ráng thêm một phen cày ải như thế nữa là hoàn toàn khả thi, nhất là nếu cuốn sách về Boney thành công, mà cái gã tinh quái ấy vốn có tài gặt hái thành công. Tôi tin rằng chỉ cần một cú hích như thế nữa là ta chạm tới đáy vực để ngoi lên, bởi lẽ chắc chắn bọn Constable, Robinson và đồng sự phải bồi hoàn chút đỉnh; cuộc tranh đấu này bõ công để ta đánh đổi bằng một cơn nhức đầu.

Hôm nay tôi đã viết xong năm trang, bất chấp nhức đầu, uể oải và đủ mọi thứ.

Ngày 9 tháng Sáu.—Sáng nay đã sửa xong một bản in thử hóc búa. Những trận chiến này từng vùi thây biết bao sinh mạng—tôi e chúng cũng sẽ lấy mạng tôi mất. Nhưng thôi, phía đón gió trời đang quang đãng dần; vậy nên ta cứ cặm cụi bước tiếp.

Đêm qua ngủ ngon. Mà nhân tiện, cuốn Nhật ký này khiến tôi có vẻ ích kỷ đến mức không thể chấp nhận được—sao lại quá đỗi bận tâm đến những nhu cầu tự nhiên lẫn phi tự nhiên của bản thân như thế! Huân tước Mackenzie[282] ghé chơi, và chúng tôi hàn huyên hồi lâu về công việc. Những quy định mới ban hành về việc chuẩn bị hồ sơ vụ án ở Tòa Ngoài vận hành chẳng mấy suôn sẻ, thành thử bộ máy cũ vốn đã rất xoàng xĩnh nay lại bị thay thế bằng một thứ máy móc hầu như chẳng chịu nhúc nhích. Mackenzie than rằng công việc của ông tăng gấp ba mà ông thì không kham nổi. Tôi hồ nghi không biết sự ngặt nghèo thái quá của các quy tắc tố tụng có thực sự thích hợp trên thực tế hay chăng, bởi người ta luôn tìm cách lách luật dựa trên các lập luận về lẽ công bằng. Chẳng hạn, tôi không nộp được một văn bản đúng thời hạn luật định, và chỉ vì một sự cố ngẫu nhiên, có lẽ do sự tắc trách của một gã học việc văn phòng luật sư, mà tôi phải thua kiện. Hình phạt hoàn toàn không tương xứng với lỗi vi phạm, và hệ quả là người ta sẽ nghĩ ra đủ mọi ngóc ngách để né tránh bằng các thủ thuật pháp lý cùng những điều tương tự. Các thẩm phán lại lắng nghe những điều này; chúng diễn ra thường xuyên hơn, và rốt cuộc quy tắc của Tòa án chẳng khác nào một con bù nhìn rơm. Trước đây, những sự chậm trễ kiểu này được ngăn chặn bằng các khoản tiền phạt tương ứng. Nhưng Tòa án đã quá thường xuyên châm chước cho khoản phạt mọn ấy. Giá như họ nghiêm khắc hơn, truy thu tiền phạt thẳng vào người đại diện pháp lý mà không cho phép họ đòi lại từ thân chủ, thì tệ nạn này có lẽ đã được chấn chỉnh. Tôi e quy định hiện hành quá đỗi khắc nghiệt nên khó lòng đem lại kết quả tốt.

Một hệ lụy của việc thúc đẩy các vụ án quá nhanh ở các Tòa cấp dưới là chúng bị kháng cáo hàng loạt lên cấp trên, và Huân tước Gifford[283] từ trước đến nay đã phán quyết các vụ này bằng sự sáng suốt và nhanh chóng đến mức khiến người ta hết sức hài lòng. Hậu quả về lâu dài là Tòa án Tối cao Scotland trên thực tế sẽ đóng đô tại London. Thế rồi sụp đổ tan tành—những biểu tượng quốc gia của lòng tôn kính và ngưỡng vọng—từ Giới Thẩm phán Scotland, Giới Luật sư Scotland, cho đến chính nền Luật pháp Scotland, và—và—“khúc ca xưa từ đây tắt hẳn.”[284] Giá như tôi còn được như thuở trước, tôi sẵn sàng chiến đấu ngập máu đến tận đầu gối trước khi để cơ sự trôi dạt đến nông nỗi ấy. Nhưng đó là một thảm họa mà dòng chảy vĩ đại của thời cuộc đang đưa đẩy mỗi ngày một gần hơn—

“Và ai ngăn nổi thế cờ, hỡi Dick?”

Tôi sẽ luôn tự hào về Malachi vì đã đẩy lùi được người phương Nam, hay chí ít cũng góp phần làm được điều đó, trong ít nhất một lần.

Ngày 10 tháng Sáu.—Hôm nay là một ngày xử các vụ án thuế thập phân bất thường tại Tòa. Suốt buổi sáng và buổi tối, tôi cặm cụi sửa bản in thử—cả thảy bốn thếp; và tôi đã viết xong định mức ba trang cùng thêm một ít nữa. Với tốc độ tính nhuận bút của Constable, ba trang mỗi ngày sẽ đem lại khoảng 12.000 đến 15.000 bảng mỗi năm. Họ đã gửi văn bản yêu sách; điều đó chẳng làm tôi nao núng mảy may.

Ngày 11 tháng Sáu.—Gặp phải những giấc mơ dữ dội về Charlotte tội nghiệp. Thức giấc, cứ ngỡ người bạn đời gắn bó sắt son thuở nào vẫn đang nằm bên cạnh; và chỉ đến khi hoàn toàn tỉnh táo, tôi mới cay đắng nhận ra rằng nàng đã nằm sâu dưới lòng đất tăm tối, xa xôi muôn trùng, và chiếc giường của tôi nay đã hóa góa bụa. Tôi tin hiện tượng mộng mị phần lớn bắt nguồn từ xúc giác kép, xảy ra khi một bàn tay này bắt chéo đặt lên bàn tay kia trong giấc ngủ. Mỗi bàn tay đều đồng thời truyền đi và tiếp nhận cảm giác va chạm từ bàn tay kia, và trí tưởng tượng trong lúc ngủ của chúng ta đã gán cảm giác phức tạp ấy cho sự hiện diện của một sinh thể khác, trong khi thực chất nó chỉ do chính các chi của ta tự tác động lẫn nhau mà thôi. Thôi thì, bắt tay vào việc—incumbite remis.

Ngày 12 tháng Sáu.—Đã hoàn thành tập thứ ba của cuốn Napoleon. Tôi tiếp tục viết lại từ ngày 1 tháng Sáu, thời điểm sớm nhất mà tôi có thể gắng gượng hướng tâm trí vào đó sau mất mát to lớn của đời mình. Kể từ dạo ấy, quả thực tôi đã sống cuộc đời của một ẩn sĩ, ngoại trừ những lúc phải đến Tòa năm ngày mỗi tuần, mỗi ngày chừng ba tiếng đồng hồ. Trừ khoảng thời gian đó ra, tôi chỉ toàn đọc và viết về chủ đề Boney, và tối qua đã hoàn tất, để rồi sáng nay gửi tới nhà in những trang cuối cùng trong số năm mươi hai trang viết kể từ ngày 1 tháng Sáu. Quả là một vệt dài kinh khủng; nhưng nỗi đau buồn giam hãm tôi ru rú trong nhà, và lao động là cứu cánh duy nhất của tôi. Ballantyne đánh giá tác phẩm rất cao—rất tốt, song chắc chắn tôi sẽ [lường trước] những chỗ thiếu chuẩn xác. Giá như được làm lại từ đầu, tôi sẽ nhờ ai đó đọc duyệt qua. Nhưng ai có thể là người đó được đây? Giữa cõi nhân gian này, tôi còn lại ai để có thể chia sẻ mối thâm giao sâu sắc dường ấy? Chẳng còn một ai. “Tanneguy du Châtel, ou es-tu!”[285]. Đã viết được năm trang.

Ngày 13 tháng Sáu.—Chiều tối qua sau bữa trà, tôi ra ngoài bách bộ và ghé thăm Ngài Chánh ủy phái viên cùng gia đình Macdonald Buchanan, cái dòng tộc tử tế và thân tình ấy. Trời nóng nực vô cùng, và lũ rệp giường cũng hung hãn tương xứng theo đó. Đêm qua tôi bị hành hạ suốt hai tiếng đồng hồ trong cơn sốt thực sự. Tôi phải thu xếp chỗ ở khác cho mùa đông thôi. Thật đáng tiếc khi đồ đạc cũ của tôi lại bị đem bán vội vã đến thế! Cách khôn ngoan hơn lẽ ra là cho thuê căn nhà kèm đủ tiện nghi. Nhưng thôi, bằng tiếng Hy Lạp thì mọi sự cũng như nhau cả. “Peccavi, peccavi, dies quidem sine lineâ!” Tôi đi bộ đến thăm vài nơi; người nóng bức khủng khiếp; uống bia gừng; viết thư từ. Rồi đúng lúc chuẩn bị dùng bữa tối, bỗng một lão mục sư to bè, chân bẹt, đầu óc rỗng tuếch chuyên bới việc vặt bước vào quấy rầy tôi về quyền thừa kế tước hiệu Bá tước xứ Annandale của một con chiên trong giáo xứ lão, điều mà lão ngỡ tưởng đã được chứng minh rõ ràng từ tập Dân ca Biên giới. Lão kể một câu chuyện kỳ lạ—rằng ba anh em nhà Johnstone, những người có con cháu thừa kế quyền đại diện dòng nam của các thủ lĩnh vùng Biên giới vĩ đại này, đã buộc phải trốn lên phương bắc do mối thù gia tộc với nhà Maxwell, và đã đồng thuận đổi tên họ. Họ ngủ lại bên sườn đồi Soutra, hỏi một người chăn cừu tên vùng đất ấy, rồi thống nhất từ nay về sau sẽ tự xưng là dòng họ Sowtra hay Sowter Johnstone. Lão già đầu óc tối tăm như hũ nút ấy chẳng hiểu nổi một lời nào tôi hỏi hay giải thích cho lão, cứ lải nhải huyên thuyên mãi khiến tôi chỉ ước lão biến khuất mắt vào hố Annandale Beefstand.[286] Ông Gibson ghé qua sau giờ trà, và chúng tôi bàn chuyện làm ăn. Sau đó tôi thấy uể oải và mụ mẫm, cứ ngồi gà gật bên cuốn sách thay vì viết lách. Thành thử nhìn chung, Confiteor, confiteor, culpa mea, culpa mea!

Ngày 14 tháng Sáu.—Buổi sáng tôi bắt đầu bằng một trang rưỡi trước bữa điểm tâm. Làm cách này bao giờ cũng hiệu quả nhất. Người ta đứng như đứa trẻ sắp bị dìm xuống nước tắm, run rẩy và co ro cho đến khi gáo nước đầu tiên dội ào xuống mang tai, rồi sau đó lại hớn hở tung tăng như cánh chim chìa vôi. Tôi vừa từ Tòa Nghị viện trở về nhà; và giờ đây, anh bạn Nap. ơi, ta sẽ giáng cho ngươi một đòn đích đáng! Thiết nghĩ tôi rất muốn làm hòa với lương tâm mình bằng cách hoàn thành sáu trang tối nay. Đã mua một mẩu phô mai Gruyère nhỏ thay cho cái thứ đặc sản nhà làm cứng nghẹn họng kia. Đã bao giờ tôi tự mua món gì cho cái miệng của chính mình đâu? Nhưng thôi, chẳng nhắc đến chuyện ấy nữa. Và bây giờ, trở lại với cối xay cơm áo gạo tiền.

Ngày 15 tháng Sáu.—Tôi lao lực suốt cả buổi tối nhưng chẳng tiến triển được bao nhiêu. Có quá nhiều sách cần phải tra cứu; thành thử tất cả những gì tôi thực sự làm được chỉ là hoàn thành định mức ba trang. Tôi sẽ cố gắng bù lại phần thiếu hụt của ngày thứ Ba vào hôm nay và ngày mai. Nhận thư từ Walter—mọi sự đều bình an. Hôm qua Charles Sharpe có ghé thăm.

Ngày 16 tháng Sáu.—Hôm qua tôi ngồi ở Tòa đến gần bốn giờ chiều. Dĩ nhiên tôi chỉ đủ thời gian để hoàn thành định mức của mình. Tôi e hôm nay cũng chẳng làm thêm được bao nhiêu, vì tôi đã nhận lời dùng bữa tối tại nhà Hector. Hôm qua tôi được tặng hai bức tranh khắc từ bức chân dung Sir Henry Raeburn vẽ tôi, đó (tội nghiệp anh!) là tác phẩm cuối cùng anh vẽ trong đời, và chắc chắn không phải là bức tồi nhất của anh.[287] Tôi rất hân hạnh được tặng lại một bức cho cậu Davidoff trẻ tuổi để gửi cho người chú của cậu, vị Đại úy Đen lừng danh trong chiến dịch năm 1812. Thật kỳ lạ khi ông ấy lại quan tâm đến việc có được hình bóng của một kẻ mà con đường tạo dựng danh tiếng lại khác xa mình đến thế. Nhưng tôi ý thức được rằng, nếu thơ ca hay văn xuôi của tôi có chút gì đáng giá, thì đó chính là nét khoáng đạt, nhanh nhảu của ngòi bút vốn làm vui lòng giới binh lính, thủy thủ cùng lớp trẻ có tâm hồn can trường và năng động. Tôi chưa bao giờ là kẻ ngồi thở dài dưới bóng râm—chẳng phải kẻ chuyên viết

“Khúc tình ca, đoản thi cùng điệu hát đồng quê,

Dệt bằng mối mộng mơ, và ngân nga đầu ngọn sậy.”[288]

[Abbotsford, Thứ Bảy,] ngày 17 tháng Sáu.—Hôm nay rời Edinburgh sau giờ làm việc ở Tòa Nghị viện để về [đây]. Hai cô con gái đón tôi ở Torsonce, thật là một niềm bất ngờ thú vị, và tất cả chúng tôi cùng trở về trên chiếc xe tứ mã. Mọi sự ở Abbotsford đều đâu vào đấy và tốt đẹp dưới sự quản lý mới. Tôi lại bước vào phòng ngủ của gia đình và ngả lưng trên chiếc giường góa bụa của mình. Đây quả là một thử thách đau đớn khôn cùng, nhưng tuyệt đối không được né tránh quyết tâm ấy. Thật tình, tôi không muốn người ta nghĩ rằng có bất cứ điều gì trên đời này có thể đánh gục được tôi.[289]

Ngày 18 tháng Sáu.—Sáng nay viết đến mười hai giờ rưỡi—một ngày làm việc hiệu quả—với tập Biên niên ký Canongate. Thiết nghĩ tôi có thể khiến tác phẩm này đáp ứng được kỳ vọng. Sau đó tôi đi xe ngựa đến Huntly Burn và ghé thăm Chiefswood. Bách bộ về nhà. Miền quê đang khát mưa cháy bỏng; song nhìn chung thời tiết thật dễ chịu, khô ráo và ấm áp, thoảng những làn gió mát lành. Những cánh rừng non đang vươn lên tươi tốt sum sê đến mức tôi chưa từng thấy ở nơi nào khác. Chỉ cần tôi rũ sạch được những gánh nặng nợ nần này, chúng sẽ còn tỏa bóng rộng lớn và rậm rạp hơn nữa. Nhưng để đạt được điều đó, tôi phải cày ải thôi.

Cứ thế, tôi làm việc khá đều tay cho đến hai giờ; sau đó đi dạo; dùng bữa trưa xong lại cùng các con gái ra ngoài. Đã hút hai điếu xì gà, lần đầu tiên trong suốt hai tháng qua.

Ngày 19 tháng Sáu.—Làm việc quả thực rất suôn sẻ, và vì trời nóng như thiêu như đốt nên chúng tôi ăn tối ngoài trời ngay giữa đại sảnh giữa những bộ áo giáp, rồi ra ngoài từ lúc chập tối. Đi bộ ra hồ rồi quay về qua lối hồ Marle; một buổi tối vô cùng thú vị.

Ngày 20 tháng Sáu.—Hôm nay cũng là một ngày làm việc cật lực. Thời tiết oi bức rất thuận lợi cho việc tập trung, chỉ hiềm nỗi nó khiến người viết sinh buồn ngủ. Cầu Chúa cho độc giả đừng phải chịu chung cái cảm giác ấy! Nhưng những ngày miệt mài làm việc thì nhật ký lại ngắn ngủi. Hôm nay chúng tôi lại dùng bữa tối ở đại sảnh, rồi đi xe ngựa tới Ashestiel vào buổi tối để hóng gió mát.

Ngày 21 tháng Sáu.—Chúng tôi làm đúng theo lộ trình đã định. Đối với một chuyến đi nghỉ xả hơi thì tôi đã chu toàn công việc rất tốt. Hai mươi trang của Croftangry, mỗi trang tương đương năm trang in, là minh chứng cho sự cần mẫn của tôi, và tôi đã có một sự đổi gió tuyệt vời nhờ sự bầu bạn của hai Anne. Đã thu xếp xong các khoản chi tiêu nhỏ nhặt tại đây.

[Edinburgh,] ngày 22 tháng Sáu.—Đã trở lại hòn đảo Patmos của tôi. Nhận được tin lành từ Lockhart. Vợ anh bình an, và bé John Hugh đã khá hơn. Anh có nhắc đến Southey tội nghiệp đã bày tỏ nhiều sự quan tâm dành cho tôi, thậm chí rơi nước mắt. Thật kỳ lạ—chẳng lẽ tôi là một kẻ sắt đá đến thế ư? Tôi sẽ chẳng thể nào rơi lệ vì anh ấy, dẫu nếu anh ấy gặp cơn hoạn nạn, tôi sẵn sàng làm bất cứ điều gì để giúp đỡ. Đôi khi tôi tự nghĩ mình không xứng đáng với những thiện cảm mà người đời dành cho, bởi cảm xúc của tôi chắc chắn chịu sự dẫn dắt của lý trí nhiều hơn là bốc đồng. Nhưng mỗi người đều có một cách riêng để bày tỏ sự quan tâm, và cách của tôi là sự khắc kỷ ngay cả giữa nỗi đau xé lòng nhất. Agere atque pati, Romanum est. Tôi mong mình không trở nên tồi tệ hơn vì thiếu đi nét dịu dàng mà tôi thấy ở bao người khác, một phẩm chất thật đáng mến biết bao. Tôi nghĩ điều đó không hề làm nguội lạnh ước muốn được giúp ích nơi nào tôi có thể. Song sự thật là, tôi giỏi chịu đựng hoặc hành động hơn là an ủi vỗ về. Ngay từ những năm tháng ấu thơ sớm nhất, trái tim tôi đã luôn cự tuyệt trước sự chi phối của hoàn cảnh bên ngoài đối với bản thân mình cũng như người khác. Non est tanti!

Hôm nay tôi bị giữ lại ở Tòa từ mười giờ rưỡi đến gần bốn giờ chiều; dẫu vậy tôi vẫn hoàn thành và gửi đi một gói bản thảo cho Cadell, số này sẽ hoàn tất một phần ba tập 1 của bộ Biên niên ký.

Henry Scott ghé vào đúng lúc tôi đang dùng bữa tối, và ngồi lại trong khi tôi ăn món bít tết bò. Một kẻ sành ăn hẳn sẽ nghĩ tôi đang chịu nhiều thiệt thòi khi phải quay lại với bữa ăn đạm bạc của gã lực điền gồm thịt bò luộc và cháo súp Scotland, sau những bữa ăn khá cầu kỳ ở Abbotsford, nhưng tôi chẳng mảy may bận lòng về phương diện ấy. Đó là lẽ tự nhiên—dẫu tôi chẳng phải kẻ tu hành khổ hạnh như cha tôi thuở trước.

Ngày 23 tháng Sáu.—Nắng nóng kinh khủng, và nạn hạn hán đang đe dọa mùa cỏ khô cùng lúa mạch. Rời khỏi Tòa lúc mười hai giờ rưỡi, và đi bộ đến tận cuối dãy phố Heriot Row để thăm Phu nhân Don tội nghiệp; tôi để lại danh thiếp vì bà không tiếp khách. Tôi mừng vì cuộc gặp gỡ đau lòng này được hoãn lại. Hôm nay tôi nhận được 10 bảng từ Blackwood cho bài viết về cuốn Điềm triệu. Đã có thời tôi chẳng thèm nhận những khoản thuế mọn từ cây bạc hà và thì là này, nhưng chó đói thì chẳng chê bánh bẩn, và tôi, với bao con người đang trông cậy vào mình, phải tận dụng thời gian một cách tốt nhất có thể—xin Chúa rủ lòng thương xót!

[Blair-Adam,] ngày 24 tháng Sáu.—Hôm qua rời Edinburgh sau giờ xử án ở Tòa, lúc mười hai giờ rưỡi, rồi cùng Ngài Chánh Huân tước Tòa Tài chính và William Clerk sang bên này để nghỉ lại một hai ngày tại Blair-Adam như thường lệ. Thông thường, đây là một dịp vô cùng náo nhiệt. Chúng tôi thuê một cỗ xe bốn ngựa thanh nhẹ rồi rong ruổi khắp chốn để tìm kiếm những điều kỳ thú. Nhưng những biến cố gia đình của Ngài Chánh ủy phái viên cùng nỗi bất hạnh của riêng tôi đã khiến kỳ nghỉ năm nay trầm lắng hơn mọi khi, và một nỗi u sầu lộ rõ bao trùm lên cuộc hội ngộ của nhóm chúng tôi. Dẫu vậy, không bỏ qua chuyến đi này là một quyết định sáng suốt, bởi buông lơi sợi dây gắn kết với cuộc đời ở bất kỳ điểm giao hảo dễ chịu nào cũng đồng nghĩa với việc sớm tự đẩy mình vào sự thờ ơ và kiếp sống thực vật thụ động của tuổi già.

Ngày 25 tháng Sáu.—Lại một ngày nóng chảy mỡ; nhiệt kế chỉ tới 78 độ ngay tại chốn này. Hôm qua ở Edinburgh nhiệt độ lên tới 80 độ. Hễ toan làm việc gì hoạt bát là chúng tôi lại tan chảy ra thành nước. Chúng tôi tha thẩn suốt buổi sáng quanh quẩn trong trang viên, ngồi nhiều và đi lại ít nhất có thể vì trời quá nóng.

Blair-Adam qua ba thế hệ liên tiếp thuộc quyền sở hữu của những con người say mê và am hiểu nghệ thuật tôn tạo cảnh quan, và có thể xem đây là một nơi mà bàn tay con người cùng khiếu thẩm mỹ đã góp phần to lớn để hoàn thiện thiên nhiên. Một dải đất nhấp nhô thoai thoải kéo dài xuống chân ngọn đồi mang tên Benarty, vốn dĩ trơ trụi, phủ đầy rêu phong và đầm lầy, nay đã được ba thế hệ con, cha và ông nội phủ xanh; trong khi những triền dốc lượn sóng và các thung lũng trũng sâu, nơi bảy tám mươi năm trước hẳn trông chẳng khác nào những nếp nhăn nheo trên các bãi đầm lầy đen ngòm, nay đã được tiêu úng và rải vôi, bao bọc bởi những cánh rừng rậm rạp, đặc biệt là loài vân sam phát triển tươi tốt lạ kỳ, và phủ kín bằng những thảm cỏ tuyệt hảo. Buổi tối chúng tôi dạo chơi bằng xe droskie rồi bách bộ.

Ngày 26 tháng Sáu.—Lại một ngày nắng nóng không hề thuyên giảm; nhiệt kế chỉ 82 độ; ở Edinburgh ắt hẳn phải cao hơn, nơi tôi sẽ trở về vào tối nay, khi mặt trời lặn bớt gay gắt giúp việc đi lại khả dĩ hơn. Trở về đó sẽ tốt cho công việc của tôi—song với bản thân tôi thì chẳng mấy dễ chịu; có sự cách biệt một trời một vực giữa sự sạch sẽ, ngăn nắp của Blair-Adam với chỗ trọ của bà Brown, dẫu kẻ đã thoát khỏi những cảnh ngộ tệ hơn chẳng có quyền gì mà ta thán về những thứ ấy. Nhưng tính cẩn thận ngăn nắp của Charlotte tội nghiệp có lẽ đã khiến tôi đâm ra kỹ tính. Nàng chuộng sự sạch sẽ, thậm chí đến mức tỉ mỉ như người phương Đông. Thật kỳ lạ làm sao khi những ký ức sâu đậm thuộc về một cõi khác lại ăn khớp với những sự việc vụn vặt nhất trong đời sống của chúng ta đến nhường này.

Ngài Chánh Huân tước Tòa Tài chính kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện về thói quen thâm căn cố đế vẫn bộc lộ mãnh liệt lúc lâm chung. Một vị Thẩm tra viên Tòa Đại thần đang nằm trên giường bệnh hấp hối—một người vô cùng giàu có. Có một việc hệ trọng khẩn cấp đòi hỏi phải làm một bản khai hữu thệ, và viên luật sư sau khi tìm kiếm không gặp một hai vị Thẩm tra viên khác, bèn đánh bạo hỏi xem liệu ngài ——— có thể tiếp nhận lời tuyên thệ hay không. Lời đề nghị dường như tiếp thêm cho ông ta chút sức tàn trong chốc lát; người ta gọi thư ký của ông tới, và sau khi lễ tuyên thệ diễn ra đúng thủ tục, vị Thẩm tra viên được đỡ ngồi dậy trên giường, khó nhọc ký tên vào văn bản; khi ngả người nằm xuống lại, ông ta ra hiệu cho viên thư ký—“Wallace.”—“Dạ, thưa ngài?”—“Ghé tai lại đây—thấp xuống—thấp xuống nữa. Anh đã thu nửa đồng crown tiền phí chưa?” Chưa kịp tới sáng thì ông ta đã qua đời.

[Edinburgh,] ngày 27 tháng Sáu.—Trở về Edinburgh vào đêm muộn hôm qua, và trải qua một đêm ngột ngạt mồ hôi nhễ nhại. Ngày hôm nay cũng nóng bức dữ dội. Dẫu vậy, tôi cũng hoàn thành gần trọn định mức của mình, và đọc được khá nhiều tài liệu về Chiến dịch Ai Cập. Nhận được những tin tức an lòng về Anne, và qua con bé là tin về Sophia. Bác sĩ Shaw hồ nghi không biết lưng của bé Johnnie tội nghiệp có thực sự gặp vấn đề gì không. Tôi mong đứa cháu thân yêu sẽ thoát khỏi cảnh tật nguyền cùng những nỗi yếu nhược gắn liền với tình trạng bất lực ấy. Bản thân tôi đã có thể kiên cường vượt lên rất tốt, bất chấp tật thọt chân của mình, nhưng điều đó đòi hỏi những nỗ lực phi thường, vả lại thể chất tôi cũng vốn rất khỏe. Dùng bữa tối với Colin Mackenzie; một đàn con tuyệt vời đang lớn khôn vây quanh ông, sắp thành những chàng trai cô gái và đang rảo bước đuổi sát gót thế hệ chúng tôi. Có vài tiếng sấm và vài cơn mưa rào mà tôi e là chỉ rơi rải rác cục bộ. Nóng—nóng—quá đỗi nóng nực.

Ngày 28 tháng Sáu.—Lại một buổi sáng oi ả, và có vẻ như một ngày nhàn rỗi, dẫu tôi đã đọc được khá nhiều. Nhưng tôi cũng ngủ đẫy giấc, sửa các bản in thử, và chuẩn bị cho một bước khởi đầu lớn bằng cách nạp đầy các sự kiện và ý tưởng vào tâm trí.

Ngày 29 tháng Sáu.—Tối qua tôi ra ngoài bách bộ chừng một tiếng đồng hồ và ghé thăm một hai nơi—buổi tối thật dễ chịu khôn xiết—

“Lửa hạ nồng nàn ngày đã trút,

Trăng lên dìu dịu ánh thanh lương;

Nỗi niềm tù hãm vơi đôi chút,

Lòng kẻ tha hương bớt đoạn trường.”[290]

Tôi thường tự hỏi làm sao Tom Campbell, với tài năng thiên bẩm thực thụ dường ấy, lại không duy trì được một vị thế lớn hơn trước công chúng như anh từng làm trước đây. Tờ Tạp chí dường như đã làm anh tê liệt. Tác giả không chỉ của tập Những niềm vui của hy vọng, mà còn của các thi phẩm Hohenlinden, Lochiel, v.v., lẽ ra phải ngự trị trên đỉnh cao chót vót của văn đàn. Đằng này anh lại thiếu đi sự táo bạo, sợ hãi công chúng, và tệ hại hơn nữa là sợ cả cái bóng danh tiếng của chính mình. Anh cũng là người quá chuộng việc gọt giũa sửa chữa, một điều cũng thất bại trong sáng tác hệt như trong giáo dục vậy. Biết bao đứa trẻ thông minh bị đòn roi uốn nắn thành kẻ đần độn, và biết bao áng văn độc đáo bị sửa chữa đến mức hóa ra tầm thường. Thế nhưng lẽ ra Tom Campbell phải làm được nhiều hơn thế rất nhiều. Những hứa hẹn thời trai trẻ của anh là vô cùng to lớn. John Leyden từng giới thiệu tôi với anh. Về sau hai người họ bất hòa. Khi tôi ngâm bài Hohenlinden cho Leyden nghe, anh bảo: “Mặc xác nó, này anh bạn, hãy bảo cái gã ấy rằng tôi ghét cay ghét đắng nó, nhưng quỷ tha ma bắt nó đi, nó đã viết nên những vần thơ tuyệt mỹ nhất được xuất bản trong suốt năm mươi năm qua.” Tôi đã chuyển lời trung thực như một sứ giả của Homer, và nhận lại câu trả lời: “Hãy nói với Leyden rằng tôi ghê tởm anh ta, nhưng tôi biết trân trọng giá trị lời tán thưởng đầy tính phê bình của anh ta.” Mối thù này do đó đã có chiều hướng được xoa dịu. “Khi Leyden từ Ấn Độ trở về,” Tom Campbell từng nói, “chẳng biết anh ta sẽ ăn thịt bao nhiêu kẻ ăn thịt người và xé xác bao nhiêu con hổ nữa đây!”

Đã giúp một nữ thi sĩ nghèo 1 bảng. Gibson viết thư báo cho tôi hay rằng người ta trả giá 2.300 bảng cho căn nhà tội nghiệp; nó đáng giá hơn thế 300 bảng, song tôi sẽ không đem ý kiến hay sự tiện thuận của riêng mình ra đối chọi với lời khuyên chân thành và đầy thiện ý: vậy nên xin vĩnh biệt, căn nhà số 39 tội nghiệp. Cả một phần đời của tôi đã trôi qua nơi ấy! Nó đã che chở cho tôi từ thuở tráng niên cho đến lúc xế bóng tàn niên; và giờ đây tôi phải nói lời từ biệt với nó. Tôi đã vĩnh biệt người vợ tội nghiệp của mình, người bao năm qua là bà chủ tao nhã và nhân từ của nơi đây,—và tôi chẳng cần phải bận lòng về những căn phòng trống hoác; dẫu vậy lòng tôi vẫn không khỏi bàng hoàng. Tôi đã làm một thị dân Edinburgh quá lâu rồi, giờ đây chỉ còn là một kẻ ngụ cư. Thôi mặc kệ; tất cả đều là công việc trong ngày cả.

J. Ballantyne và B. Cadell dùng bữa tối với tôi, và như Pepys vẫn thường nói, mọi sự đều hết sức tươm tất. Chúng tôi cùng nhau uống hết một chai sâm panh, một chai vang claret, một hai ly vang port, và mỗi người một cốc toddy whisky. J.B. can đảm uống phần của mình pha với nước nóng; còn của tôi thì ướp đá.

Ngày 30 tháng Sáu.—Lại thêm một ngày nóng nực kinh hoàng, chẳng hợp với ai ngoài lũ ruồi nhặng. Đã thế người ta lại còn bị giam chân trong thành phố.

Hôm qua tôi đã đồng ý giao tác phẩm mới[291] cho Cadell, ấn bản 1.500 cuốn, ông ấy chịu mọi chi phí và trả thêm 500 bảng—hai trăm năm mươi bảng vào lễ Lammas, để thanh toán khoản tiền J. Gibson đã ứng trước cho chuyến đi sang Ấn Độ của cháu Walter, con người anh tôi. Món nợ kiểu này như một cái gai đâm vào mắt người ta, và Gibson thì mới bước vào nghề kinh doanh, lại còn vướng bận đôi chút vào các công việc của tôi nữa. Dự định của chúng tôi là tập Tạp văn hay Biên niên ký này sẽ được kín đáo đưa ra mắt công chúng, và chúng tôi hy vọng nó sẽ thu hút được sự chú ý. Nếu không, tự chúng tôi sẽ phải hướng sự chú ý của công chúng vào nó. Chừng một nửa tập 1 đã được viết xong, và nếu tôi không lầm thì trên đời này còn có những thứ kinh tởm hơn thế nhiều.

Tôi bị giữ lại ở Tòa đến bốn giờ; không khí ngột ngạt ghê gớm, buộc phải uống nước lã để giải khát, thứ mà trước đây tôi vốn khinh thường, ngay cả khi ở giữa những bãi hoang dưới ánh mặt trời tháng Tám thiêu đốt, trong cơn hầm hập của việc vận động và hàng trăm con suối đang tuôn trào quanh mình.

Đã sửa các bản in thử, v.v., khi trở về. Tôi nghĩ mình đã vượt qua được những phản đối của các bên nhận ủy thác đối với việc tiếp tục xuất bản bộ tiểu thuyết khổ nhỏ. Đã nhận được thư của Cadell về tập Biên niên ký.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.