Nhật Ký Sir Walter Scott

Lượt đọc: 180 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
July.

❊ ❊ ❊

Ngày 1 tháng 7, [Abbotsford].—Một ngày vô cùng dễ chịu, nhưng trong suốt cả ngày tôi chẳng làm được

"Nửa việc cho ra trò."

Trước bữa sáng, tôi tự cho phép mình vui với sở thích sưu tầm sách cũ: ghi toàn bộ những cuốn sách mới tậu gần đây vào danh sách tạm thời để dễ xếp lên kệ và đánh dấu. Sau điểm tâm, thấy trời đẹp quá nên tôi ra ngoài dạo bước—tiết trời ấm áp nhưng có làn gió nhẹ làm dịu đi, khung cảnh xung quanh thật tuyệt vời; thảm cỏ xanh tươi tốt vừa mát mắt vừa mềm mại dưới từng bước chân, lại ngào ngạt hương thơm. Tôi đi lang thang ngắm nhìn những khu rừng mới trồng của mình. Về đến nhà thì Sir Adam sang chơi. Tôi cứ la cà trong thư viện cho tới tận giờ ăn tối. Nếu hôm nay có việc gì làm được thì chắc cũng phải chờ tới tối. Nhưng tôi e là chẳng làm thêm được gì đâu. Người ta cũng đâu thể làm việc liên miên mãi được.

"Cánh cung của Apollo đâu phải lúc nào cũng giương căng."

Đấy, có cả điển tích chứng minh đàng hoàng.

Ngày 2 tháng 7.—Buổi sáng ngồi viết, chỉnh sửa bài luận về vùng Cao nguyên (Essay on the Highlands), giờ thì đã gần hoàn thành rồi. Tôi thanh toán xong các khoản sổ sách với Tom và Bogie. Lúc hai giờ chiều, tôi sang Huntly Burn để khảo sát khu vực dự định trồng rừng mới, đặt tên là Rừng Jane (Jane's Wood). Tối dùng bữa với gia đình Ferguson.

Ngày 3 tháng 7.—Buổi sáng tập trung viết lời giới thiệu cho tập "Chronicles of the Canongate"; có khi người ta lại bảo mình bộc lộ cái tôi quá đà. Tôi nghe tin hôm qua xảy ra một vụ tai nạn thương tâm. Một người thợ thiếc (chắc là đang say rượu) lội qua con suối đối diện Faldonside cùng một con lừa chở mấy đứa con của hắn. Dòng nước xiết đã cuốn trôi con lừa, làm một đứa trẻ tội nghiệp chết đuối; đứa còn lại may mắn được cứu sống khi đang ôm chặt lấy con lừa. Xác đứa trẻ trôi dạt tận xuống Deadwater-heugh. Tội nghiệp sinh linh bé nhỏ, sống làm kiếp thợ thiếc có khi còn khổ hơn là chết! Gia đình Ferguson tối nay sang ăn cơm đông đủ; ngoài ra còn có Tiến sĩ Brewster.

Ngày 4 tháng 7, [Edinburgh].—Sáng sớm làm việc được một chút, ăn sáng xong tôi đi dạo. Thời tiết dễ chịu đến mức nghĩ đến cảnh phải rời miền quê mà lòng đau như cắt. Tuy nhiên, khoảng bốn giờ chiều tôi cũng khởi hành và đến Edinburgh lúc hơn chín giờ tối. Trên đường đi tôi chợp mắt một lúc, thời gian còn lại thì đọc cuốn "De Vere".[1] Tác phẩm này viết tốt về mặt ngôn từ và cảm xúc, nhưng lại quá ít hành động để được coi là một cuốn tiểu thuyết lôi cuốn. Mọi thứ đều được tải qua đối thoại—hoặc tệ hơn là qua những dòng suy ngẫm của chính tác giả, một thủ pháp vụng về nhất trong các loại thủ pháp.

Ngày 5 tháng 7.—Sáng nay làm việc và gửi cho J.B. phần Lời giới thiệu của tập Chronicles, trong đó có cả phần "Lời tự thú"[2] của tôi, đồng thời có viết thêm một chút cho chính phần Tự thú này nhưng viết không được trôi chảy. Trong lòng thấy không vui; nỗi âu lo u uất cứ bám riết lấy tôi. Chắc lại tại chứng dư mật rồi. "Nhưng ta sẽ xóc lại tinh thần để chiến đấu với tên giặc này." Tên giặc ấy chính là căn bệnh tâm trí quái ác; đến gần trưa thì tôi đã hoàn toàn bình phục. Sau bữa tối, tôi ra Portobello trò chuyện với cậu bé Johnnie và kể cho nó nghe lịch sử trận Prestonpans. Giờ đây chẳng còn mấy ai tha thiết với những câu chuyện cũ ấy nữa.

Ngày 6 tháng 7.—Sáng nay tôi viết được khá nhiều, dù chưa hoàn thành hẳn hạn mục công việc. Phiên tòa kéo dài đến tận ba giờ rưỡi; thật là vắt kiệt sức lực trong cái thời tiết oi nồng này. Tôi trở về ăn tối một mình vì Anne đã cùng một nhóm bạn đi Roslin. Đến chiều, một cô Bell xông vào nhà; cô này từng quấy rầy tôi cách đây ít lâu về cuốn sách của cô ấy, nhằm giải thích và vạch trần hành vi của một gã Tartuffe theo phái Giám lý—kẻ đã dùng thư nặc danh để phá vỡ mối duyên giữa cô và người cầu hôn đã được chấp thuận. Tôi đã cố giải thích để cô hiểu rằng người dân Edinburgh chẳng mấy ai bận tâm đến những bất công của cô đâu, vì chẳng ai biết rõ các bên liên quan để mà biến nó thành một vụ bê bối hấp dẫn cả, nhưng vô ích. Tôi tin là cô ấy đã phải chịu bất công lớn thật.[3] Hôm nay có thư từ nhà xuất bản Longman và Công ty gửi cho J.B., càm ràm về việc phát hành bản in lần thứ hai, vì họ bảo rằng hiện vẫn còn tồn 700 bản trong tổng số 5000 bản, dù bản in đầu tiên[4] mới ra mắt được năm ngày. Họ còn muốn gì nữa đây? Tuy vậy, nghe thế cũng chẳng dễ chịu chút nào.

Ngày 7 tháng 7.—Đêm qua trời vô cùng oi bức, làm tôi khó chịu trong người; chẳng lẽ tôi lại ngớ ngẩn đến mức phải lo lắng vì những lời tiên đoán của mấy "triết gia phương Đông" này sao. Thư của Lockhart mang lại những triển vọng rất khả quan; nếu có đòn giáng nào dữ dội đến mức đảo lộn mọi thứ thì chắc chắn nó đã đề cập tới rồi. R. Cadell rất kiên định và quyết tâm tiến hành xuất bản bản in lần thứ hai. Thôi thì mong mọi chuyện đều êm đẹp—có lo nghĩ cũng chẳng giải quyết được gì. Sáng nay Charles xuống đây trong tình trạng cháy túi, tội nghiệp gã trẻ tuổi, nhưng chúng tôi sẽ sớm giải quyết việc đó thôi. Lockhart gửi 100 bảng tiền thù lao viết bài phê bình; tôi hy vọng khoản tiếp theo sẽ dành cho Sophia, vì tình hình tài chính phía trước trông rất triển vọng, và nếu các quỹ thác bảo đảm tiến triển tốt thì tôi chưa bao giờ thấy thong dong đến thế. Tôi sẽ phải cẩn trọng để không vướng vào nợ nần lần nữa. Khi mọi việc đã xong xuôi, tôi thật sự chẳng thích những lời quạ kêu của mấy con chim lợn ở St. Paul chút nào. "Sinh sự sự sinh, đi đêm lắm có ngày gặp ma." Nhưng mà—Dù sao thì tôi vẫn cứ cặm cụi làm việc với tập Chronicles. Tôi sẽ dốc sức cho nó. Nhất định là vậy, thề có Chúa!

Ngày 8 tháng 7.—Hôm nay tôi chẳng làm được gì mấy ngoài việc sắp xếp giấy tờ, gom hóa đơn, biên nhận... vào đâu ra đấy thật gọn gàng. Tôi tin rằng triển vọng tươi sáng trong việc thanh toán được một số khoản nợ nần—vốn như cái gai đâm vào thịt, thậm chí đâm vào tận mắt tôi—đã góp phần lớn tạo nên tâm trạng này. Ngay cả các bản in thử tôi cũng chẳng buồn hiệu đính; đúng hơn là không thể, vì tôi đã hủy bỏ hai tờ in thử theo yêu cầu cấp thiết của Jacobo, và chính tôi cũng đồng tình với ý kiến của cậu ấy; bởi như tôi đã nói hôm qua, chúng tôi phải và sẽ dốc lòng dốc sức. Việc lặt vặt sắp xếp lại mọi thứ tuy phiền phức nhưng chúng lại cho thấy một bức tranh minh bạch về tình hình tài chính của tôi. Tiền dành cho các khoản thanh toán cần thiết đã sẵn sàng, và vì thế có một niềm vui thanh thản dâng lên không xuất phát từ bất kỳ sự tính toán hèn mọn nào, bởi mục tiêu của nó là hướng tới lẽ công bằng và sự tự chủ tài chính. J.B. tội nghiệp cùng ăn tối với tôi, cậu ấy nói về những dự định của mình bằng một giọng đầy hy vọng và tươi sáng. Cầu Chúa cho sự siêng năng chân chính sớm gặt hái kết quả viên mãn.

Ngày 9 tháng 7.—Viết lách vào buổi sáng. Đến mười một giờ, tôi theo hẹn cùng Colin Mackenzie tới Viện Hàn lâm Mới Edinburgh. Tại lớp năm của thầy Mitchell, chúng tôi được nghe đọc tiếng Hy Lạp; tôi vốn không phải chuyên gia môn này nên chỉ đánh giá được là học sinh đọc và giải thích rất trôi chảy. Ở lớp của hiệu trưởng Williams, chúng tôi nghe dịch thơ Virgil và sử Livy một cách ứng biến xuất sắc ngay khi mở sách ra. Điều tôi thấy đặc biệt kinh ngạc là thầy hiệu trưởng đưa ra bản tiếng Anh, còn học sinh lập tức dịch ngược lại sang tiếng La-tông một cách vô cùng khéo léo; không phải lặp lại chính xác nguyên văn mà thường dùng các từ đồng nghĩa, điều này chứng tỏ bài tập đòi hỏi tư duy chứ không phụ thuộc vào học vẹt. Tôi không thể không thốt lên một sự thật lòng rằng: bấy lâu nay ai cũng biết học sinh may mắn thế nào mới có được vị hiệu trưởng này, thì giờ đây chúng tôi mới hiểu rằng chính thầy hiệu trưởng cũng thật may mắn khi có được những học trò như thế. Trong số các bạn trẻ ở đó, tôi thấy có con trai của John Swinton, con trai của Johnstone ở Alva, và con trai của Craufurd Tait.[5] Tối ăn cơm ở nhà John Murray; cùng dự có ông bà Philips từ Liverpool, Tướng Charles Stuart xứ Blantyre, Ngài Abercromby, Clerk và Thomson. Một buổi tối thật đầm ấm.

Ngày 10 tháng 7.—Hiệu đính các bản in thử nhưng không viết thêm được gì. Tôi ở tòa án đến tận hai giờ chiều. Sau đó tôi đi theo lối đường Mound vòng một đoạn xa để đến chỗ Cadell giải quyết chút công việc. Trên đường về tôi gặp Barôn Hume nên hai người cùng dạo bước trong công viên. Cậu ấy đã kể lại những khoảnh khắc cuối đời của người chú nổi tiếng của mình bằng những lời lẽ đáng chú ý như sau: Buổi sáng ngày ông D. Hume[6] qua đời, Tiến sĩ Black đến thăm. Bệnh nhân than phiền rằng đêm qua đã phải chịu đựng rất nhiều đau đớn và e ngại rằng cuộc vật lộn này có thể còn kéo dài dai dẳng vài ngày hoặc vài tuần nữa trong sự khổ sở. "Không đâu, thưa ngài," Tiến sĩ Black nói bằng sự bình thản và chân thành đặc trưng của ông, "tôi đã xem xét các triệu chứng và nhận thấy vài dấu hiệu buộc tôi đi đến kết luận rằng sự ra đi đang đến rất gần rồi." "Ông có chắc chắn điều đó không, Bác sĩ?" "Hoàn toàn chắc chắn," vị bác sĩ đáp. Nhà triết học đang hấp hối đưa tay ra bắt tay người bạn y khoa của mình. "Cảm ơn ông," ông nói, "vì tin tức này." Thế mới thấy những lời đồn đại rằng ông bị dằn dằn xé nội tâm trên giường bệnh là vô căn cứ đến nhường nào.

Ăn tối tại nhà Ngài Abercromby để gặp riêng Lord Melville. Chúng tôi đã có một cuộc trao đổi kín giữa khoảng thời gian sau bữa tối và trước giờ uống trà. Tôi rất tiếc khi thấy người bạn lâu năm của mình—vị chính khách chính trực và người quân tử hào hoa này—bị tước mất quyền lực cùng nguồn thu nhập từ chức vụ, điều mà một gia đình đông con như của ông chắc chắn coi là vô cùng quan trọng. Ông vẫn vui vẻ, không hề gượng gạo, và đón nhận sự sa sút của mình như một người trí tuệ và dũng cảm. Trước đây tôi từng nuôi ý nghĩ rằng ông đã quá vội vàng khi từ chức; nhưng từ những bức thư riêng tư mà ông cho tôi xem—những thư từ qua lại giữa ông và Canning—rõ ràng việc ông từ chức là điều bắt buộc phải xảy ra, không phải vì lý do cá nhân mà vì nó giải phóng ghế Bộ trưởng Hải quân cho Công tước xứ Clarence, bởi đơn từ chức của ông đã bị chộp lấy ngay lập tức. Chẳng nghi ngờ gì nữa, nếu ông do dự hoặc chần chừ đằng sau các bạn mình thì người ta cũng sẽ dùng biện pháp mạnh để ép buộc, thay vì để ông tự nguyện rút lui một cách đàng hoàng hơn như ông đã làm—ít nhất là theo cảm nhận của tôi. Tin tức đầu tiên mà Lord Melville nhận được về người kế nhiệm mình là thông qua ông——, người đã nói với ông như một tin chấn động rằng sắp sửa có một Công tước xứ York mới[7]. Lord M. ít hiểu ẩn ý đó đến mức còn hỏi lại xem có phải người đưa tin muốn nói Công tước xứ Cambridge đã tiếp quản vị trí của Công tước xứ York hay không, cho đến khi được giải thích rằng đó là ẩn dụ về việc Công tước xứ Clarence nhận ghế Bộ trưởng Hải quân. Có những lời ít ỏi nhưng lại chứa đựng cả một câu chuyện lớn. Lord Melville cho biết không một ai trong số họ nghi ngờ các cuộc thương lượng của Canning với phe Whig ngoại trừ Công tước xứ Wellington, người đã phát hiện ra điều đó qua giới phu nhân mười ngày trước. Tôi hỏi ông tại sao mọi người lại bị động đến thế, và không thể không nói rằng tôi thấy họ đã hành động thiếu cân nhắc, lẽ ra họ có thể đứng vững đối diện với Canning. Ông thừa nhận sự thật trong lời tôi nói và có vẻ trách sự thiếu can đảm của Peel. Nếu ở vị trí của Peel, ông nói, ông sẽ đề xuất thành lập một chính phủ tuyên bố không vì lợi ích cá nhân để làm Thủ tướng hay tương tự, mà dựa trên nguyên tắc ủng hộ các chính sách của Lord Castlereagh và Lord Liverpool. Tôi nghĩ điều này hẳn sẽ được Nhà vua chấp thuận. Mr. Peel rõ ràng là e sợ đối thủ lớn Canning của mình, và có lẽ đã bỏ cuộc quá sớm. Canning từng nói chức vụ Thủ tướng là gia tài của ông; do thể trạng, ông không thể nắm giữ nó quá hai năm, và sau đó nó sẽ truyền lại cho Peel. Tham vọng là thế đấy! Bạn cũ bị ruồng bỏ—nguyên tắc cũ bị thay đổi—mọi nỗ lực được dùng để lái con tàu Quốc gia theo một hướng đi mới, và tất cả chỉ để làm Palinurus cầm lái trong vỏn vẹn hai năm!

Ngày 11 tháng 7, [Abbotsford].—Sáng sớm ngồi chỉnh sửa các bản in thử; không sáng tác thêm được gì. Tôi rời đi lúc một giờ và đến đây khoảng giữa sáu và bảy giờ tối. Thời tiết thật tuyệt vời.

Ngày 12 tháng 7.—Mở hành lý và sắp xếp đồ đạc; mấy đứa trẻ ranh đang ăn trộm anh đào ở khu vườn bên ngoài. Nhưng tôi thà hy sinh cả ngàn cây thông lợn để làm một hàng rào chắc chắn cho năm sau còn hơn. Để hoa quả hớ hình như thế là không nên; bởi nếu Adam thời còn ngây thơ thuần khiết còn gục ngã vì một quả táo, thì đứa trẻ ranh Jamie Moffatt kia làm sao cưỡng lại nổi những quả táo vàng trong cái thời đại gian dối này! Anne và tôi dạo bộ đến Huntly Burn—một chuyến đi chơi thật dễ chịu. Nơi đó giờ đây đã trở nên thực sự thơ mộng; các cô nhà Ferguson đã thể hiện một gu thẩm mỹ tuyệt vời.

Ngày 13 tháng 7.—Hai khách quý—Linh mục Gilly[8], một phó giám mục ở Durham, cùng người vợ trẻ đẹp của ông—đã tới dùng bữa tối với chúng tôi và gặp gỡ Mr. Scrope. Tôi được nghe toàn bộ câu chuyện về việc phát hiện ra thi hài của Thánh Cuthbert[10] tại Nhà thờ lớn Durham. Người Công giáo dĩ nhiên sẽ phủ nhận tính xác thực của hài cốt này; nhưng tôi nghĩ điều đó đã được chứng thực qua trang phục và các chi tiết khác. Hôm nay là một ngày thật vui vẻ, và lòng tôi rất thanh thản vì buổi sáng tôi đã hoàn thành xong hạn mức công việc.

Ngày 14 tháng 7.—Sáng nay đã hoàn thành xong phần việc và tin rằng từ giờ mọi thứ sẽ tiến triển tốt đẹp. Viết được khoảng năm trang. Hai năm qua tôi thật ngốc khi tự nhốt mình thiêu đốt trong căn phòng hướng chính Nam; mùa đông thì ấm áp đấy nhưng mùa hè thì nóng như vại bát quái. Giờ tôi đã dọn sang căn thư viện rộng rãi mát mẻ, một trong những căn phòng dễ chịu và đẹp đẽ nhất xứ Scotland, và sẽ không dùng lại phòng làm việc cũ cho đến khi qua hết đợt nóng. Sự kiện chuyển phòng này nghe trang trọng chẳng kém gì việc Cha tuyên úy xứ Wakefield dọn từ phòng vàng sang phòng nâu. Nhưng tôi tin rằng công việc sáng tác của mình sẽ tiến bộ vượt bậc nhờ sự thay đổi này. Chiều tối dạo bước ra bờ hồ.

Ngày 15 tháng 7.—Hôm nay hoàn thành được sáu trang và khép lại tập 1 của Chronicles. Tập này hơi dài; nhưng tôi nghĩ câu chuyện cuối cùng rất thú vị và không nên xé lẻ ra nhiều phần. Tôi e là J.B. sẽ chê nó bình dân; mà nếu cậu ấy thấy thế thì người khác cũng sẽ nghĩ vậy. Tuy nhiên—tiến lên nào. Tối đến đánh xe sang Huntly Burn.

Ngày 16 tháng 7.—Một buổi sáng làm việc hiệu quả với các câu chuyện Tales. Ban ngày hiệu đính nhiều bản in thử. J.B. cho rằng trong lời giới thiệu dự định, tôi đã tỏ ra quá coi thường cái nghề đã giúp mình sống tốt đến vậy, và ẩn ý rằng tôi có thể dễ dàng khiến người khác hùa theo quan điểm của mình mà coi nhẹ tài năng của tôi cũng như thành quả tôi đã đạt được từ đó. Tôi cũng không biết nữa. Một mặt, tôi không muốn đè nén quan điểm thật của mình về sự coi thường mà tôi dành cho những chuyện này; nhưng mặt khác, vì trách nhiệm với người khác, tôi không thể tự đập gãy cung tên của mình hay tự làm bẩn tổ của mình, và việc tỏ ra coi nhẹ công sức của chính mình nghe có vẻ gượng gạo và mang màu sắc dối lòng; vì vậy, cân nhắc mọi lẽ, tôi sẽ xóa bỏ đoạn đó. Không phải lúc nào cũng nên nói ra sự thật. Chiều tối, chúng tôi có một chuyến đánh xe đi dạo thật thú vị đến Ashestiel cùng Đại tá Ferguson và cô em gái.

Ngày 17 tháng 7.—Tôi đã hoàn thành một khối lượng công việc nhọc nhằn: bảy trang Tales. Cả ngày chỉ quanh quẩn quanh nhà. Cho Bogie 10 bảng để đi mua gia súc ngày mai ở Chợ phiên St. Boswell. Lại có một chuyện phiền muộn nực cười đây. Ông Harper, một người định cư từ vùng này sang Botany Bay, vì nghĩ rằng mình nợ tôi một lời giới thiệu với Tướng M'Allister và Sir Thomas Brisbane, đã nảy ra sáng kiến mang về biếu tôi một đôi chim đà điểu Úc (Emu). Tôi ước gì lòng biết ơn của ông ta đi theo một hướng khác, hoặc cứ im lùm như những người khác mà tôi từng giúp đỡ nhiều hơn. Ban đầu tôi nhận hai con vật đó vì trong sự dốt nát của mình, tôi cứ tưởng chúng là một loài vẹt xanh đỏ nào đó, tuy tôi chẳng ưa gì tiếng ồn của chúng, nhưng nếu treo trong sảnh giữa đống áo giáp thì chúng cứ việc kêu la tùy thích. Nhưng hóa ra con đà điểu Úc của ông lại cao tới sáu bộ, chẳng khác gì loài đà điểu châu Phi hay đà điểu Úc đầu mũ. Thật bực mình! Biết đâu chúng lại xào xáo luôn cả bộ sưu tập vũ khí cổ của tôi không chừng. Chuyện này làm tôi nhớ đến câu chuyện về mấy con cò già trong tiểu thuyết của Theodore Hook[10]. Không, tôi quyết không nhận đà điểu gì hết!

Ngày 18 tháng 7.—Sáng nay bắt đầu viết về lịch sử của Sir William Wallace. Tôi hy vọng mình có thể dung hòa được giữa những gì trẻ con có thể hiểu và những gì không làm độc giả trưởng thành cảm thấy nhàm chán. Những sự thật ly kỳ có lẽ là công thức tốt nhất. Nghe tin Mr. Owen Rees và John Gibson đã hòa giải êm đẹp những bất đồng về bản in mới nhất của cuốn Napoleon, các Trụ trì đồng ý cho nhà xuất bản trả chậm trong chín tháng. Hai ba ngày nay, thần kinh tôi trở nên vô cùng nhạy cảm, dễ bị kích thích mạnh bởi những điều nhỏ nhặt nhất; vẻ đẹp của chiều tà, tiếng gió hè vi vu cũng làm nước mắt tôi rơm rớm một cách không hề dễ chịu. Nhưng tôi phải vận động và rèn luyện cho bản thân cứng cỏi lên. Chẳng có ích gì khi nuông chiều những tâm trạng như thế. Đời người đâu thể sống mãi với những cảm xúc ấy.

Chúng tôi có một buổi họp mặt nho nhỏ và ăn nhẹ bên bờ hồ, nơi Mr. Bainbridge buông câu nhưng không mấy thành công. Thuyền trưởng Hamilton cùng hai anh em nhà Stirling—họ hàng của người bạn cũ Keir của tôi—cũng ở đó và cùng tôi dạo một vòng lớn về nhà. Tôi đi bộ tốt hơn mấy ngày trước. Mr. Scrope ăn tối cùng chúng tôi; ông ấy than phiền về bệnh gút, vốn là bạn đồng hành tồi tệ cho những chuyến săn hươu.

Ngày 19 tháng 7.—Trưa nay tôi đã hoàn thành xong hạn mức công việc và còn viết thêm được khá nhiều. Gửi năm hay sáu trang cho James Ballantyne, tức là đã chuẩn bị xong xuôi, rồi tiếp tục viết cho đến chiều. Sau đó tôi lái xe sang Huntly Burn và đi dạo qua các khe núi cho đến giờ ăn tối. Sau bữa tối, tôi đọc sách và làm việc tới lúc đi ngủ. Hôm nay tôi đã viết tốt, đi bộ tốt, nói chuyện hay và chẳng có gì phải hối tiếc.

Ngày 20 tháng 7.—Đã gửi thư cho J.B. kèm theo bản thảo bổ sung, và làm vượt hạn mức—khoảng bốn tờ, tôi nghĩ vậy. Tôi ngỏ ý tặng đôi đà điểu Úc cho Công tước xứ Buccleuch. Tôi có hẹn với Thuyền trưởng Hamilton cùng các bạn của ông là anh em nhà Stirling đi lên Newark hôm nay. Nhưng thời tiết dường như muốn nói không.

Dù sao thì khách của tôi cũng đến và chúng tôi đã lên Newark. Ở đây xảy ra một tai nạn nhỏ, vì con chó Spice của tôi bị lạc và chúng tôi không thể tìm thấy nó. Vì không có người làm cưỡi ngựa đi cùng, tôi đành phải bỏ mặc nó với số phận, dự định sáng mai sẽ cử người đi tìm. Mấy người quản rừng đều là những "bạn tốt" (bonos socios) của tôi, như lão chủ quán trong kịch "The Devil of Edmonton"[11] thường nói, họ thà bắn một đứa trẻ còn hơn là bắn một con chó của tôi. Nhưng vùng này có nhiều kẻ lưu manh và bẫy sập, tôi thật xấu hổ khi phải thú nhận rằng mình đã miễn cưỡng đến mức nào khi bỏ lại chú chó nhỏ tội nghiệp. Tuy nhiên, khoảng một tiếng rưỡi sau khi chúng tôi về đến nhà, nó đã tự mò về, làm tôi mừng rỡ vô cùng. Khách khứa cùng ăn tối với chúng tôi.

Ngày 21 tháng 7.—Sáng nay viết được năm trang lịch sử dành cho thiếu nhi. Đến Minto, nơi chúng tôi gặp Lord M. và người phu nhân tuyệt vời của ông, cùng với Thomas Thomson, Kennedy xứ Dunure[12], Lord Carnarvon cùng con trai út và cô con dâu; ngoài ra còn có Thái phu nhân Minto, người mà tôi luôn vui mừng khi gặp lại vì bà vô cùng tinh anh và trí tuệ. Chúng tôi ôn lại vài kỷ niệm của hai mươi năm trước, thời tôi còn thân thiết hơn với gia đình cho đến khi hai phe Whig và Tory chia rẽ chúng tôi một thời gian. Nhân tiện nói thêm, dạo này chẳng ai bàn về Whig hay Tory nữa, và những tay hăng máu của mỗi bên cứ đi lại lầm lì, bị bịt mõm như những con chó sau khi có sắc lệnh về nạn dại. Tôi nên buồn hay vui vì sự đình chiến này đây? Nhึ่ง nửa thôi. Đó là thứ duy nhất còn lại để làm sục sôi dòng máu, cái trò cãi lộn chính trị nhỏ nhặt này; nhưng thà ít quá còn hơn nhiều quá.

Ngày 22 tháng 7, [Abbotsford].—Thức dậy muộn hơn thường lệ một chút và viết thư cho bà Joanna Baillie. Bà đang viết một vở kịch nát[13] về thuật phù thủy. Tôi rất tò mò muốn xem. Liệu đó sẽ là thuật phù thủy thực sự—chính là ác quỷ hiện hình—hay một kẻ lừa đảo, hay một sinh linh nửa điên nửa dại tự coi mình là đồng minh của các linh hồn bị nguyền rủa và khao khát được như thế? Khía cạnh cuối cùng đó là một chủ đề tuyệt mĩ. Sau điểm tâm chúng tôi lên đường và đến đây khoảng hai giờ. Tôi đi bộ từ hai đến bốn giờ; nói chuyện rất lâu với Charles sau bữa tối, và thế là một ngày của tôi trôi qua "sine linea" (không viết được dòng nào). Nhưng chúng tôi sẽ gỡ lại. James Ballantyne không thích truyện "Những người lùa gia súc" (Drovers) của tôi. Nhưng nó sẽ được giữ nguyên. Thỉnh thoảng tôi cũng phải theo ý mình chứ.

Tôi nhận được tin hai người qua đời cùng lúc: Phu nhân Die Scott, người bạn rất cũ của tôi, và Archibald Constable, nhà xuất bản.

Ngày 23 tháng 7.—Đúng vậy! Cả hai người họ, vì những lý do rất khác nhau, đều là những đối tượng đáng để suy ngẫm. Phu nhân Diana Scott, quả phụ của Walter Scott xứ Harden, là người cuối cùng mà tôi nhớ là lớn tuổi hơn mình nhiều đến mức bà luôn giữ khoảng cách về tuổi tác ấy, khiến hai năm trước, khi bà ở tuổi chín mươi hai, bà dường như không già hơn (một cách tương đối) so với năm mươi năm trước. Bà là người con gái (duy nhất còn sống) của Bá tước Marchmont thời Pope, và giống như cha mình, bà có một tâm trí sắc sảo và một tính cách hăng hái. Bà luôn tốt với tôi, đặc biệt tốt khi tôi còn là một cậu bé.

Cái chết của Constable có lẽ đã là một sự kiện vô cùng quan trọng đối với tôi nếu nó xảy ra cách đây vài năm, và khi đó tôi hẳn đã thương tiếc biết bao. Ông ta sống để gây ra cho tôi một số tổn thất; nhưng ngoại trừ 5000 bảng cuối cùng, tôi nghĩ hầu hết đều không phải cố ý. Ông ta là ông hoàng của giới xuất bản; tầm nhìn sắc bén, mạnh mẽ và hào phóng; tuy nhiên quá lạc quan, và giống như nhiều kẻ âm mưu táo bạo và thành công khác, không bao giờ biết khi nào nên dừng lại, và không phải lúc nào cũng tính toán phương tiện với mục tiêu một cách chính xác theo kiểu thương mại. Ông ta rất tự cao, điều mà ông ta có lý do để thế, vì đã tự mình vươn lên tầm vóc thương mại lớn lao, cũng như ông ta có thể đạt được sự giàu có vĩ đại nếu biết quản lý tốt. Tôi nghĩ ông ta biết nhiều về công việc của một nhà xuất bản trong việc lên kế hoạch và thực hiện các tác phẩm đại chúng hơn bất kỳ ai cùng thời. Về bản thân sách vở, ông ta có nhiều thông tin về thư mục, nhưng hoàn toàn không có gì có thể gọi là văn học. Ông ta biết các tập sách hiếm trong thư viện của mình không chỉ bằng mắt mà bằng cách chạm vào khi bị bịt mắt. Thomas Thomson đã chứng kiến ông ta làm thí nghiệm này, và để nó được hoàn hảo, đã đặt vào tay ông ta một tập sách bình thường thay vì một trong những tập sách hiếm này. Ông ta nói rằng mình đã đánh giá quá cao trí nhớ của mình; ông ta không thể nhớ lại tập sách đó. Constable là một người có tính khí dữ dội với những ai mà ông ta dám tự do cư xử. Ông ta dễ bị khuất phục bởi những người có tầm ảnh hưởng, nhưng như thường lệ, lại trút lên những người mà sự nghèo khó khiến họ phải phục tùng ông ta. Tuy nhiên ông ta hào phóng và xa mới là kẻ xấu xa. Về ngoại hình thì ưa nhìn, nhưng sau này rất béo; ăn nhiều và uống rượu dữ cho đến khi sức khỏe suy yếu. Ông ta chết vì bệnh tích dịch ở ngực, điều mà sức khỏe tự nhiên của ông đã chống chọi trong thời gian dài. Tôi không có lý do gì lớn để hối tiếc về ông ta; tuy nhiên tôi vẫn hối tiếc. Nếu ông ta lừa dối tôi, ông ta cũng tự lừa dối chính mình.[14]

Hôm nay viết được năm trang và đi thăm Mr. Scrope, người đang bị bệnh gút hành hạ—một người bạn đồng hành tồi tệ để đi cùng ông "tới Athole Braes, Để bắn gục chú hươu sẫm màu, gục xuống— Để bắn gục chú hươu sẫm màu."

Ngày 24 tháng 7.—Hoàn thành năm trang trước mười một giờ, thời điểm Phó Quan phụ trách Hồ sơ[15] đến từ Minto, và chúng tôi đã có một buổi chiều dễ chịu, tròuyện về những ngày xưa cũ mà chúng tôi đã trải qua cùng nhau. Tôi kinh ngạc khi thấy Thomson cũng dốt như tôi trong việc khuyên Charles chọn một khóa học Lịch sử Scotland tốt. Hailes và Pinkerton, Robertson và Laing—chẳng còn gì khác—và Pinkerton thì thật xoàng xĩnh. Laing, ngoài tinh thần đảng phái, còn có khuynh hướng khái quát hóa khiến ông trở nên khá tẻ nhạt, điều vốn không phải là bản chất của người vùng Orcadian sắc sảo.

Ngày 25 tháng 7.—Thomson rời chúng tôi sáng sớm nay. Tôi hoàn thành bốn trang và một phần trang thứ năm, sau đó đánh xe đến Huntly Burn và trở về qua Glen; tôi chắc chắn là đã trở nên nặng gánh, tuy nhiên không phải theo nghĩa của phụ nữ. Tôi đã ngã một hai lần giữa vùng thạch nam trơn trượt vì không có Tom Purdie cho tôi tựa tay. Tôi đoán mình sẽ cần một chiếc xe tập đi trong một ngày gần đây; và nếu phải như thế—thì cứ như thế đi. Fiat voluntas tua (Ý Chúa đã định).

Một bức thư từ John Gibson vào buổi tối mang đến cho tôi tin tức rằng Lord Newton đã phán quyết lợi nhuận của Woodstock và Napoleon là của riêng tôi. Đây là một vấn đề lớn, và loại bỏ phần quan trọng nhất trong cuộc tranh chấp của tôi với các chủ nợ của Constable. Tôi tỉnh giấc vào giữa đêm. Chắc chắn tôi không phải là một kẻ ngốc nghếch đến mức không thể ngủ được vì tin tốt. Tôi biết ơn vì mọi chuyện đã như vậy. Nếu khác đi, tôi cũng có thể chịu đựng được. Số tiền thu được sẽ trả được một phần ba tất cả những gì tôi nợ trên đời—và cái gì sẽ trả hai phần ba còn lại? Tôi vẫn khỏe mạnh và có khả năng như khi những bất hạnh đó bắt đầu—tháng Giêng năm ngoái. Sự ủng hộ của công chúng quả thực có thể suy giảm, nhưng cho đến nay vẫn chưa thất bại, và tôi không được quá lo lắng về khả năng đó.

James B. đã chê trách các câu chuyện của tôi là quá mang tính lịch sử; trước đây thì là quá trẻ con. Cậu ấy kêu gào đòi hồ bột stiffness, và sợ cà vạt của mình quá cứng. Ôi các nhà phê bình, không có gì làm các người tan chảy sao?

Ngày 26 tháng 7.—Viết cho đến một giờ và hoàn thành tập đầu tiên của Tales—khoảng sáu tờ. Ngày mai tôi tiếp tục viết Chronicles, quyết tâm hết sức. Chúng phải tốt, nếu có thể. Rốt cuộc, các tác phẩm hư cấu, tức là những lời nói dối nguyền rủa, dễ viết hơn và phổ biến hơn nhiều so với những sự thật tốt nhất. Đi dạo đến đầu con đường La Mã, vòng qua Bauchland và Abbot's Walk. Viết thư vào buổi tối.

Ngày 27 tháng 7.—Buổi sáng vẫn bận rộn với thư từ của tôi. Không có mong muốn lớn là cầm lấy Chronicles. Nhưng điều đó phải được làm. Quỷ tha ma bắt sự cần thiết này, và sự ngu ngốc cùng gian lận đã gây ra nó! Nhưng điều này giờ không quan trọng nữa. Theo đó, tôi bắt tay vào làm việc chặt chẽ và tiếp tục cho đến hai giờ, khi tôi đi dạo. Rất hạnh phúc khi Sophia và các con của cô ấy đến, tất cả đều khỏe mạnh và vui vẻ.

Ngày 28 tháng 7.—Làm việc chăm chỉ vào buổi sáng. Hai nhà Ballantyne, và Mr. Hogarth cùng họ. Owen Rees đến sớm trong ngày. Gia đình Ferguson đến ăn tối. Rees rất tốt bụng và vui vẻ, nhưng tôi nghĩ hơi buồn bực một chút về Napoleon. Chúng tôi nghe tiếng vĩ cầm của Sandie sau bữa tối— "——Tiếng đàn hòa nhã có thể xua đi Những nỗi đau của quyền lực tội lỗi và tình yêu vô vọng."[16] Tôi không hiểu hoặc không quan tâm đến âm nhạc hàn lâm; nhưng có một cái gì đó trong cây vĩ cầm của anh ấy chạm đến tận đáy lòng. Sophia cũng hát, và chúng tôi một lần nữa vui vẻ trong đại sảnh—lần đầu tiên sau nhiều tháng và nhiều ngày.

Ngày 29 tháng 7.—Hôm nay không thể làm gì hơn ngoài việc nhận các bản in thử của mình, mà J.B. đã mang ra một số lượng đáng kể. Đi dạo lúc một giờ với Hogarth và Rees—ngày oi bức, nóng nực, và chúng tôi cũng nóng theo, nhưng vẫn bò quanh bất chấp. Tôi rất tiếc khi thấy người bạn cũ và trung thành James của tôi không thể đi lại được—người từng mạnh mẽ và hoạt bát như vậy—tôi cũng đã từng như vậy theo cách của mình. Ôi! Từ "đã từng" đáng ghét đó chứa đựng cả một thế giới mất mát!

Ngày 30 tháng 7.—Một trong những giông bão có sấm sét dữ dội nhất mà tôi đã nghe trong một thời gian. Gầm rú và gào thét từ sáu giờ sáng đến tám giờ liên tục. "Sấm chớp không ngừng, lửa chẳng nghỉ ngơi; Làm tốt lắm, Botherby già." Thời gian bị lãng phí, mặc dù rất dễ chịu, sau bữa sáng. Giữa trưa, khởi hành đi Chiefswood bằng xe ngựa, và đi bộ về nhà, bước đi trên đường gồ ghề và bằng phẳng với sức sống của những ngày còn trẻ. James Ballantyne cũng hành quân tiếp, hơi tan chảy một chút, nhưng không than phiền. Chúng tôi lại có âm nhạc tuyệt đẹp sau bữa tối. Trái tim của tuổi già lại dâng cao. Tôi thường tự hỏi liệu mình có gu âm nhạc hay không. Tai tôi có vẻ kém như giọng nói của tôi không thể hiện được âm nhạc, vậy mà tôi cảm thấy niềm vui tối đa trong bất kỳ âm nhạc nào mà tôi có thể hiểu được, ngoại trừ các bản nhạc hàn lâm. Tôi tin rằng mình có thể ở mức độ sành sỏi của Terry, và rằng "Tôi có một cái tai khá tốt cho một điệu jig, nhưng các bản solo và sonata của bạn làm tôi u sầu."

Ngày 31 tháng 7.—Dành buổi sáng để viết thư và hiệu đính các bản in thử; đây là ngày thứ hai và hiếm khi viết được một dòng, nhưng các tình tiết là lời bào chữa của tôi đến mức ngay cả Bổn phận cũng không cằn nhằn, ít nhất là không nhiều. Chúng tôi có một chuyến đi xe lên Galashiels, và gửi J.B. về Edinburgh bằng Xe thư. Âm nhạc vào buổi tối như trước.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 6 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.